Hội Đình Bà Tía

Hội Đình Bà Tía

Thông tin cơ bản

Thời gian: Từ 8 – 10 tháng Hai, chính hội 8 tháng Hai 
Địa điểm: Thôn Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, Hà Nội 
Nhân vật thờ tự: Trương Tứ Nương, tướng của Hai Bà Trưng

Truyền thuyết về nhân vật được thờ

Sự tích “Đệ nhất nữ vương thần nữ” kể về bà Tía, tức Trương Tử Nương, một nữ thần gắn với cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng. Theo truyền thuyết, tại khu đất Vĩnh Hưng, thuộc phủ Thanh Đàm, có ông Trương Thành, vợ là Trần Thị Hội. Hai vợ chồng gia đình giàu có, thường xuyên làm việc thiện. Tuy nhiên, dù ông đã ngoài năm mươi tuổi, bà đã bốn mươi ba tuổi nhưng vẫn chưa có con nối dõi. Một hôm, bà Trần Thị Hội nằm mộng thấy mình xuống thủy cung và gặp hoàng hậu của Long vương. Hoàng hậu trao cho bà một đóa sen. Sau giấc mộng ấy, bà mang thai. Đến ngày 12 tháng Hai năm Nhâm Thân, bà sinh một bé gái. Khi chào đời, đứa trẻ khóc vang, hương thơm lan tỏa khắp nhà, da trắng như ngọc, đôi mắt sáng như gương. Cha mẹ đặt tên nàng là Trương Tử Nương. Năm mười lăm tuổi, Tử Nương nổi tiếng với vẻ đẹp “chim sa cá lặn”, hội đủ bốn đức, lại đàn giỏi, hát hay. Nàng còn yêu thích việc luyện võ, ham gươm, thích ngựa và có tài văn võ toàn diện. Danh tiếng của nàng lan truyền khắp gần xa. Nhiều tao nhân mặc khách tìm cách ngỏ lời nhưng nàng đều từ chối. Không may, ngày 10 tháng Ba năm ấy, cha mẹ nàng đều qua đời dù trước đó không mắc bệnh. Tử Nương phải đến sống cùng cô ruột tại trang Vĩnh Hưng. Khi ấy, Hai Bà Trưng đã đánh thắng Tô Định, xưng vương, đất nước trở lại thanh bình. Hai Bà thường đi du ngoạn khắp nơi, xa giá đến đâu cũng được nhân dân nghênh đón. Khi xa giá đến trang Vĩnh Hưng, Hai Bà Trưng nghe tiếng về Tử Nương, một người có dung mạo khác thường, đối đáp thông minh, nên đã kết làm chị em với nàng. Sau đó, vua bà cho xây dựng một cung điện để thỉnh thoảng trở về ngự, và Tử Nương cũng được vào ở trong cung điện ấy. Nhưng đất nước thanh bình chưa được bao lâu thì nhà Hán sai Mã Viện và Lộ Bác Đức đem ba vạn quân sang xâm lược. Hai Bà Trưng lại cùng tướng sĩ lên đường chống giặc. Tử Nương cũng chiêu mộ được hơn hai nghìn quân để tiếp ứng. Quân Hai Bà Trưng chiến đấu rất dũng cảm, nhưng trước thế giặc mạnh và quân số đông, cuối cùng Hai Bà Trưng đã tử tiết ở sông Hát Môn. Hay tin dữ, Tử Nương càng quyết tâm tấn công quân giặc mạnh mẽ hơn tại cửa Thần Phù. Đúng lúc cuộc chiến đang diễn ra, bỗng nhiên trời đất tối sầm, rồi không ai còn nhìn thấy Tử Nương đâu nữa. Hôm ấy là ngày 13 tháng Giêng.

Diễn trình lễ hội 

Hội đình Bà Tía được tổ chức hằng năm từ ngày 8 đến ngày 10 tháng Hai. Đây là dịp để nhân dân trong làng tưởng niệm và dâng hương lên các vị thần được thờ tại đình, đồng thời tạo không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng với nhiều nghi lễ và trò chơi dân gian.

Sáng ngày 8 tháng Hai, các vị lãnh đạo xã, thôn cùng các cụ cao niên trong làng làm lễ dâng hương tại đình. Sau lễ dâng hương, đội múa rồng và múa sư tử biểu diễn tại sân đình, tạo không khí náo nhiệt cho ngày hội. Đến buổi chiều diễn ra nghi lễ rước với hình thức “tả hữu nhập điện”. Đám rước bên tả xuất phát từ khu vực bên ngoài nơi thờ thần Xà Công và Thổ Địa. Đi đầu đoàn rước là cờ ngũ hành, tiếp đến là long đao, trống, chiêng và thanh la do các đô nam mặc áo vóc đỏ thêu chỉ vàng mang vác. Tiếp theo là phường đồng văn gồm những thiếu niên khoảng mười bốn, mười lăm tuổi, mặc trang phục nhiều màu, vừa đi vừa múa sênh tiền. Phường bát âm vừa đi vừa biểu diễn với nhị, sáo và đàn.

Ở giữa đoàn rước là kiệu long đình có tàn và long hai bên, trên kiệu đặt bài vị Thánh cùng hương hoa. Các đô khiêng kiệu mặc quần trắng, áo the đen, thắt lưng màu và đội khăn xếp. Sau long đình là các cụ “bát”, tức những người trên tám mươi tuổi, mặc quần áo đỏ. Tiếp đến là các cụ “thất”, trên bảy mươi tuổi, mặc áo xanh đen. Cuối đoàn rước là đông đảo dân làng và khách thập phương với nhiều màu sắc trang phục. Đội múa rồng đi ngược chiều đoàn rước rồi lại đi xuôi, vừa múa vờn vừa tạo không khí vui tươi cho ngày hội.

Đám rước bên hữu xuất phát từ gò Giá Ngự, nơi tương truyền Hai Bà Trưng từng ngự giá, cũng diễn ra đông vui không kém. Điểm khác biệt nằm ở đội ngũ khiêng kiệu. Nếu bên tả do các đô nam đảm nhiệm thì bên hữu là những thôn nữ tuổi đôi mươi, mười tám, đầu vấn khăn nhung, mặc áo dài nâu non và thắt lưng hoa lý.

Đám rước đi đến đâu, tiếng chiêng trống vang lên đến đó. Tại các ngõ nhỏ, người dân bày bàn thờ, thắp hương và vái vọng khi kiệu Thánh đi qua. Khi hai đám rước tả và hữu cùng trở về sân đình, theo hiệu lệnh, hai đoàn cùng đưa kiệu Thánh vào đình để an vị.

Trong thời gian diễn ra lễ rước, ngoài hồ bắt đầu các hoạt động hát quan họ trên thuyền. Tiếng hát đối đáp của liền anh, liền chị hòa cùng tiếng đàn, tiếng sáo tạo nên không khí vui tươi của hội xuân. Trên bờ, từng tốp, từng đôi trai gái trò chuyện, cười nói, tâm sự trong không khí rộn ràng của ngày hội.

Sáng ngày 9 tháng Hai, các cụ tiến hành tế nội án. Từ chiều ngày 9, ngày 10 và ngày 11, khách thập phương cùng những người dân của làng đi làm ăn xa trở về để lễ Thánh. Tại điếm canh, các cụ già chơi tổ tôm điếm. Ngoài sân đình diễn ra nhiều trò chơi dân gian như chọi gà, đấu vật, trong đó sôi nổi hơn cả là trò đi cầu kiều đập niêu.

Trong trò chơi này, những chiếc niêu đất được buộc trên một chiếc sào ngang lơ lửng, hai đầu sào có giá đỡ. Cầu kiều là một cây bương đặt dọc, một đầu chôn xuống cạnh bờ, đầu kia được chiếc chạc ba chôn xuống hồ đỡ. Người chơi phải đi trên cầu kiều ra giữa hồ để đập niêu. Cây cầu chòng chành, lắc lư khiến việc di chuyển trở nên rất khó khăn. Dù nhận được sự cổ vũ nhiệt tình của người xem, nhiều người chơi chưa đi đến đích đã ngã xuống nước. Tiếng cười và tiếng hò reo vì thế liên tục vang lên, tạo nên không khí vui nhộn cho hội làng.

Sáng ngày 12 tháng Hai diễn ra nghi lễ rước “tả hữu hoàn cung”. Đội hình rước được tổ chức tương tự ngày 8. Đoàn bên tả rước từ đình về miếu, trong khi đoàn bên hữu rước về gò Giá Ngự.

Trong những ngày mở hội, khắp làng đều rộn ràng tiếng nói cười và những lời chào hỏi thân tình. Những người đi làm ăn xa cũng trở về quê dự hội. Theo gương bà Tía, họ thể hiện tình cảm và sự gắn bó với quê hương bằng những thành tích lao động, đồng thời trở về thăm hỏi, tri ân gia đình và cộng đồng nơi mình sinh ra.

Các cô gái Vĩnh Ninh, dù lấy chồng trong làng hay lấy chồng nơi khác, đều trở về dự hội, dâng hương và thăm những người đã sinh thành, dưỡng dục mình. Từ đường lớn đến những ngõ nhỏ, từng gia đình, từng cặp vợ chồng, cha mẹ và con cái cùng nhau chuẩn bị lễ vật mang về biếu ông bà, cha mẹ. Lễ vật có thể không lớn về giá trị vật chất, nhưng thể hiện tấm lòng thành kính và sự biết ơn đối với đấng sinh thành.

Qua đó, hội đình Bà Tía không chỉ là dịp thực hành các nghi lễ thờ thần và tổ chức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mà còn góp phần nhắc nhở người dân về đạo lý uống nước nhớ nguồn, lòng hiếu thảo và tình cảm gắn bó với quê hương. Những giá trị ấy được phản ánh trong đời sống gia đình và trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa của người Vĩnh Ninh.

Nguồn ảnh: sưu tầm 

Tài liệu tham khảo

  1. Phương Anh (2022), “Đình Bà Tía”, Tạp chí Người Hà Nội, đăng ngày 21/11/2022, truy cập ngày 17/09/2026. <https://nguoihanoi.vn/dinh-ba-tia-65787.html>
  2. Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 1, Nxb Hà Nội. 
  3. Lê Trung Vũ (2011), Hội làng Thăng Long – Hà Nội, tập 2, Nxb Thanh Niên.
Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Hội đình Bà Tía (1)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)