Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Bà Tía hay đình Vĩnh Ninh, là ngôi đình thuộc làng Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ngôi đình này thờ bà Tía, một trong các nữ tướng của Hai Bà Trưng.
Lịch sử và nhân vật
Di chỉ khảo cổ học Văn Điển cho thấy vùng đất Vĩnh Quỳnh là một địa bàn cổ, nơi cư trú của con người từ hàng nghìn năm trước. Điều này còn được minh chứng qua tín ngưỡng dân gian khi dân làng Vĩnh Ninh thờ hai vị thành hoàng là Bạch Xà (thần rắn) và Thổ Địa (thần đất), những nhân vật huyền thoại có công đánh giặc Ma Lôi, Xích Tỵ dưới triều Hùng Duệ Vương. Đồng thời, nơi đây cũng được ghi nhận là quê hương của Bà Tía, một nữ tướng kiệt xuất đã theo Hai Bà Trưng chống giặc Đông Hán vào những năm đầu Công nguyên (40–43).
Truyền thuyết về “Đệ nhất nữ vương thần nữ” kể rằng, tại Vĩnh Hưng (phủ Thanh Đàm), có gia đình họ Trương, người chồng là Trương Thành, vợ là Trần Thị Hội, nổi tiếng giàu có và làm nhiều việc thiện nhưng tuổi đã cao vẫn chưa có con. Một đêm, bà Hội nằm mộng xuống thủy cung, được hoàng hậu Long Vương ban cho một đóa sen. Sau đó, bà mang thai và sinh con gái vào ngày 12 tháng Hai năm Nhâm Thân. Đứa trẻ được đặt tên là Trương Tử Nương, khi sinh ra hương thơm lan tỏa, da trắng như ngọc, mắt sáng như gương. Lớn lên, nàng Tử Nương nổi tiếng thông minh, tài sắc vẹn toàn, vừa giỏi văn chương, âm nhạc, vừa ham thích võ nghệ.
Khi cha mẹ mất, nàng về sống với cô ruột ở Vĩnh Hưng. Trong thời gian này, Hai Bà Trưng đã khởi nghĩa thành công, xưng vương, thường du ngoạn khắp nơi. Biết tiếng Tử Nương, Hai Bà đã kết nghĩa chị em và cho xây cung điện để thỉnh thoảng về ngự, đồng thời cho phép nàng ra vào.
Khi quân Hán do Mã Viện và Lộ Bác Đức đem ba vạn quân xâm lược, Hai Bà Trưng cùng tướng sĩ đứng lên kháng chiến. Nàng Tía chiêu mộ hơn hai nghìn quân, chiến đấu dũng cảm, đặc biệt tại cửa Thần Phù. Sau khi Hai Bà Trưng hy sinh ở Hát Môn, nàng càng quyết liệt chống giặc. Truyền thuyết kể rằng, vào ngày 13 tháng Giêng, khi trận đánh diễn ra ác liệt, trời đất bỗng tối sầm và nàng Tử Nương biến mất, để lại dấu ấn linh thiêng trong lịch sử dân gian.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Bà Tía tọa lạc trên một khu đất cao, ở vị trí trung tâm của làng, với mặt tiền quay hướng Nam. Trước cửa đình là hồ nước lớn tạo cảnh quan thoáng đãng. Qua sân rộng là cổng đình được xây kiểu trụ biểu, nối liền với hai cổng phụ bằng những đoạn tường gạch xây lửng. Hai cổng phụ được thiết kế theo lối chồng diêm hai tầng tám mái, các đầu đao cong mềm mại. Tiếp đó là Phương đình, kiến trúc trống xung quanh, mái tương tự như cổng phụ, các đầu đao vút cao, giữa nóc mái đắp nổi hình “lưỡng long ngậm hổ phù”, tạo điểm nhấn trang nghiêm.
Phía sau Phương đình, qua một khoảng sân nhỏ là tả mạc và hữu mạc, đều được dựng theo lối ba gian hai chái. Công trình chính là tòa Đại đình có quy mô đồ sộ với năm gian, hai chái, không gian rộng rãi, nền cao khoảng một mét, lát gạch Bát Tràng bền vững. Gian giữa Đại đình nối với Hậu cung, hình thành kết cấu tổng thể kiểu chữ “đinh”. Giữa hai không gian này có bốn cánh cửa bức bàn chạm thủng, sơn son. Trong Hậu cung đặt ba long ngai bài vị, các tay ngai đều chạm hình đầu rồng, trong đó ngai giữa thờ Bà Tía, còn hai ngai hai bên thờ các quan quân.
Trải qua nhiều biến động lịch sử, đình Bà Tía vẫn giữ được quy mô ban đầu, nổi bật bởi sự bề thế, nguy nga và tính độc đáo. Các chi tiết kiến trúc như y môn, cửa võng, cốn gỗ đều được chạm thủng tinh xảo với các đề tài quen thuộc trong nghệ thuật truyền thống như tứ linh, tứ quý, rồng ngậm ngọc…, thể hiện giá trị nghệ thuật – văn hóa đặc sắc của ngôi đình.
Hiện vật
Đình còn được giữ nhiều di vật quý gồm: ba cuốn thần phả, hai mươi ba đạo sắc phong sớm nhất là năm Cảnh Hưng thứ 14 (1753), một bản khuyến nông của vua Quang Trung, hai cỗ kiệu sơn son thếp vàng, đỉnh đồng, câu đối hoành phi…
Lễ Hội
Dẫu trải qua thăng trầm lịch sử, hình ảnh ngôi đình Bà Tía vẫn khắc sâu trong ký ức của mỗi người dân Vĩnh Ninh như một biểu tượng vừa linh thiêng, vừa gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi đình từng là nơi họp bàn, liên lạc và làm việc của các cán bộ cách mạng hoạt động bí mật. Đặc biệt, đây cũng là nơi gắn với dấu chân tướng Vương Thừa Vũ – người con ưu tú của Vĩnh Ninh, chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội 60 ngày đêm bất khuất năm 1946, góp phần mở đầu toàn quốc kháng chiến. Bởi vậy, ngôi đình không chỉ là chốn thờ tự mà còn là chứng nhân lịch sử, minh chứng cho tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường của quê hương.
Hội đình Bà Tía – sự kiện lớn nhất trong năm của làng – được tổ chức từ mồng 8 đến mồng 10 tháng Hai âm lịch, thu hút đông đảo dân làng và khách thập phương. Ngày khai hội bắt đầu bằng lễ dâng hương của các vị lãnh đạo xã, thôn cùng bậc cao niên, tiếp đó là màn múa rồng, múa sư tử sôi động. Trọng tâm lễ hội là nghi thức rước kiệu long đình với hai đoàn tả, hữu. Đoàn rước bên tả xuất phát từ nơi thờ ông Xà Công, Thổ Địa, đi đầu là cờ ngũ hành, theo sau là long đao, chiêng trống, nhạc cụ phường bát âm và đội múa sênh tiền của thiếu niên. Kiệu thánh trang hoàng rực rỡ, do các đô nam trong trang phục áo the đen, quần trắng, khăn xếp khiêng. Đoàn rước bên hữu khởi hành từ gò giá ngự – nơi gắn với Hai Bà Trưng – với sự tham gia của các thôn nữ tuổi đôi mươi trong trang phục áo dài nâu non, khăn nhung, thắt lưng hoa lý, tạo nên vẻ đẹp duyên dáng, mềm mại. Trên đường rước, tiếng chiêng trống vang vọng khắp làng, hương khói nghi ngút từ những bàn thờ vọng bên đường, tạo nên bầu không khí linh thiêng xen lẫn náo nức. Khi hai đoàn rước hội tụ trước sân đình, kiệu thánh được cung nghênh vào nội điện, mở đầu cho những hoạt động hội xuân.
Không gian lễ hội trở nên rộn ràng với làn điệu quan họ trên thuyền, tiếng hát đối đáp duyên dáng của liền anh liền chị hòa cùng tiếng sáo, tiếng đàn, mang đậm hồn quê Kinh Bắc. Trên bờ, từng tốp trai gái trò chuyện, kết bạn, tạo nên bức tranh hội xuân đầy sức sống. Ngày mồng 9 diễn ra nghi lễ tế nội án trang nghiêm, còn từ mồng 9 đến 11 là dịp dân làng đi làm ăn xa trở về dâng hương, vui hội cùng quê. Các trò chơi dân gian được tổ chức như chọi gà, đấu vật, đánh cờ, trong đó hấp dẫn nhất là trò đi cầu kiều đập niêu giữa hồ. Người chơi phải giữ thăng bằng trên chiếc cầu bương chòng chành để đập trúng niêu đất treo lơ lửng; cảnh người ngã xuống nước giữa tiếng hò reo, cổ vũ của dân làng tạo nên những khoảnh khắc hào hứng, đầy tiếng cười.
Ngày 12 tháng Hai, lễ rước “tả hữu hoàn cung” khép lại hội đình, tái hiện hành trình đưa kiệu thánh trở về miếu và gò giá ngự. Đây không chỉ là nghi lễ tín ngưỡng mà còn là dịp sum họp, gắn kết cộng đồng. Người dân xa quê trở về mang theo lễ vật, dâng hương tưởng nhớ bà Tía, đồng thời thăm hỏi, báo hiếu cha mẹ. Nghi thức này phản ánh truyền thống hiếu nghĩa, coi trọng đạo lý và tình thân – một nét đẹp bền vững của người Vĩnh Ninh.
Lễ hội đình Bà Tía, gắn liền với tên tuổi bà Tía (Trương Tử Nương) – nữ anh hùng từng theo Hai Bà Trưng chống giặc ngoại xâm – cùng với tướng Lê Chân, Bát Nàn, Đinh Bạch Nương, Đinh Tĩnh Nương và những nữ kiệt khác, đã làm rạng danh lịch sử dân tộc từ buổi đầu Công nguyên. Như vậy, hội đình không chỉ là không gian sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng, mà còn là dịp tái khẳng định niềm tự hào lịch sử, giáo dục thế hệ sau về tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước và đạo lý truyền thống của quê hương.
Xếp hạng
Đình Bà Tía đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá năm 1980.
Tham khảo
- Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 200
- Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.
Một bình luận
This post has been a great resource for me. It’s well-written and covers the topic comprehensively. Thank you for sharing your knowledge and expertise!
Thanks a lot Madam, hope you will support our website in the future