Niên đại: Triều vua Lý Anh Tông
Chất liệu: Kim loại đồng / hợp kim đồng
Kích thước: Đa dạng theo từng phân loại (từ bản nhỏ thanh mỏng đến bản to dày)
Loại hình: Tiền lưu hành
Nơi phát hiện: Hoàng thành Thăng Long và một số di chỉ khảo cổ tại Việt Nam
Đơn vị lưu giữ: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Giới thiệu hiện vật
Hiện vật khảo cổ ghi nhận ba phân loại chính mang cùng danh xưng minh văn nhưng khác biệt rõ rệt về kỹ thuật đúc, độ dày phôi và phong cách thư pháp:
Loại thứ nhất: Kích thước to, cốt tiền dày dặn và đanh chắc. Mặt tiền đúc nổi 4 chữ Chính Long nguyên bảo 正隆元寳 theo lối Chân thư, đọc xoay vòng theo chiều kim đồng hồ (Chính – Long – Nguyên – Bảo); bố cục chữ gãy gọn, tinh chuẩn, các góc lỗ vuông đúc dạng “tứ thoát” (bốn góc lỗ có tia vát nhẹ hướng ra biên tiền). Đây là loại hình rất quý hiếm trong giới cổ tiền học.
Loại thứ hai: Dáng tiền to và dày dặn; chữ mặt trước cũng theo lối Chân thư đối đọc vòng, tuy nhiên phần vành biên mép ngoài cùng nét khắc chữ mở rộng bản hơn, mang đậm dấu ấn phong cách mỹ thuật đúc tiền thời Lê – Mạc (thế kỷ XVI – XVII).
Loại thứ ba: Tiền có kích thước nhỏ, phôi mỏng, nét chữ mảnh dẻ, phân bổ nông trên bề mặt; đây là loại hình có số lượng phát hiện tương đối phổ biến trong các tầng tích khảo cổ học và các hũ tiền cổ chôn giấu trong dân gian.
Điểm then chốt mang tính khoa học văn bản là cả ba loại tiền trên đều không phải là tiền do triều Lý chính thức đúc. Trong chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư), niên hiệu của vua Lý Anh Tông là Chính Long Bảo Ứng 政隆寶應, với chữ “Chính” viết bằng chữ Hán mang bộ Phác (政). Ngược lại, trên cả ba loại hiện vật khảo cổ này, chữ “Chính” đều được đúc là 正 (chính trực, ngay thẳng), trùng tự dạng với niên hiệu Chính Long (1156 – 1161) của nhà Kim ở phương Bắc hoặc các lò đúc tư nhân đời sau phỏng đúc danh xưng.
Việc đưa ba loại tiền Chính Long nguyên bảo vào khảo cứu trong bối cảnh triều Lý Anh Tông nhằm tạo dựng hệ quy chiếu so sánh trực quan đối với một niên hiệu lịch sử đã được sử sách ghi chép tường minh. Tiền tệ chính thức thời Lý Anh Tông cho đến nay vẫn là một khoảng trống khảo cổ học chưa có hiện vật quan đúc chuẩn xác để xác chứng, đòi hỏi tiếp tục có những phát hiện và nghiên cứu chuyên sâu hơn trong tương lai.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Đóng vai trò là đối tượng nghiên cứu phản biện quan trọng, phản ánh tính chất phức tạp của thị trường tiền tệ cổ truyền Đại Việt – nơi lưu hành đan xen giữa tiền triều đình ban hành, tiền ngoại thương nhập khẩu và tiền tư nhân phỏng đúc qua nhiều thế kỷ. Việc khảo sát các tiêu bản này giúp giới nghiên cứu không bị nhầm lẫn giữa các ghi chép biên niên sử và thực tế hiện vật dưới lòng đất.
Giá trị văn hóa: Phản ánh hiện tượng giao lưu, tiếp biến văn hóa và tiền tệ trong khu vực Đông Á; đồng thời thể hiện tập quán đúc tiền phỏng cổ của giới đúc tiền tư nhân đời sau khi mượn các danh xưng niên hiệu mang ý nghĩa tốt lành để đưa vào lưu thông hàng hóa.
Giá trị nghệ thuật: Thể hiện diện mạo phong phú của kỹ thuật đúc kim loại qua các thời kỳ, từ dạng thức đúc tinh xảo có cấu trúc lỗ vuông tứ thoát độc đáo (loại thứ nhất), phong cách phóng khoáng thời Lê – Mạc (loại thứ hai), đến phong cách tinh giản, phôi mỏng thời mạt kỳ (loại thứ ba).
Giá trị độc đáo: Mang ý nghĩa là hệ tiêu bản đối sánh học thuật có giá trị phương pháp luận cao trong cổ tiền học Việt Nam; cung cấp cứ liệu khoa học để khu biệt tiền quan đúc triều đình với tiền phỏng đúc, đóng góp cơ sở dữ liệu nền tảng cho công tác giám định hiện vật tại Hoàng thành Thăng Long và các bảo tàng khảo cổ học.
Nguồn: sưu tầm