Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Báo Ân còn có hai tên gọi khác là chùa Liên Trì (Đầm sen) và chùa Quan Thượng. Chùa nằm ở thôn Cựu Lâu, huyện Thọ Xương cũ, nay là đường Đinh Tiên Hoàng, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây từng là ngôi chùa quy mô lớn và hoành tráng nhất Hà Nội ở thế kỷ XIX, sau đó ngôi chùa đã bị phá bỏ để xây dựng tòa nhà Bưu điện Hà nội bên cạnh hồ Hoàn Kiếm như hiện nay.
Trụ trì
Hoà Thượng Phúc Điền họ Vũ sinh năm 1784 là người thôn Trung Thịnh, xã Bạch Sam, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Nội, nay là xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội. Ông là người rất thông minh ham học, từ nhỏ ông thường đi lễ chùa cùng mẹ.
Năm 1843 ông đến khai hoá ở chùa Phú Nhi, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây, năm 12 tuổi ông xuất gia đầu Phật theo học hoà thượng Viên Quang Hải Tiềm tại chùa Đại Bi ở xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Năm 15 tuổi, ông y theo tổ Từ Phong Hải Quýnh ở chùa Phúc Xuân xã Nam Phiên, được thụ giới Sa Di, pháp danh là Tịch Tịch.
Năm 20 tuổi ông đến chùa Đại Thiền ở xã phù Ninh, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh y theo hoà thượng Tịch Giảng Vô Tư.
Năm 1840 ông đến khai hoá chùa Đại Giác xã Bồ Sơn, huyện Quế Giang, tỉnh Bắc Ninh dưới sự trợ giúp của Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai, ở đây ông bắt đầu biên soạn và ấn tống kinh sách, sau đó ngôi chùa này đã bị phá huỷ trong kháng chiến chống pháp, chỉ còn lại 4 toà tháp cổ.
Năm 1848 ông đứng ra ra kiến tạo chùa Liên Trì huyện Thọ Xương, Hà Nội trở thành ngôi chùa lớn nhất thời bấy giờ, đồng thời chùa Liên Trì trở thành trung tâm in ấn kinh sách. Sau đó ngôi chùa bị phá bỏ để xây dựng Bưu điện Hà Nội ngày nay.
Năm 1854 ông nhận lời mời của sư tổ Phổ Minh sang kế tục trụ trì chùa Liên Phái, ở đây ông đứng ra tôn tạo lại chùa khang trang hơn. Cho đến ngày nay các toạ điện thờ trong chùa vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.
Ngoài ra ông còn tới rất nhiều chùa khác như chùa Báo Thiên , chùa Địa Linh (Tây Hồ), chùa Hàm Long (Hà Nội), chùa Thiên Phúc (Bắc Ninh).
Trong thời Minh Mệnh (1820-1840), Hòa thượng Phúc Điền được triệu về kinh đô Huế tham dự kỳ hiểm hạch về ý nghĩa kinh tạng, đã được triều đình cấp cho giới đao và Độ điệp, cho phép chiêu tập đệ tử và hoằng dương Phật pháp. Cũng nhờ duyên này mà Hòa thượng có điều kiện biên soạn sách vở diễn giải kinh Phật và ấn tống nhiều loại kinh sách.
Hòa thượng mất năm nào không rõ, chỉ biết ngài thọ 80 tuổi. Trong khoa cúng tổ ghi ngày kỵ của ngài là ngày 16 tháng 11 Âm lịch, có rất nhiều ngôi chùa lớn tổ chức lễ cúng tổ như chùa Liên Phái, Thuyền Quang, Hàm Long, Hà Nội.
Sau đó, ông được thụ Tì khưu Bồ Tát giới do tổ sư Tịch Chiếu chùa Hoa Lâm (xã Khê Hồi, huyện Thường Tín) làm thầy Yết Ma, và thầy Tịch Tính chùa Song Phúc làm thầy Giáo thụ. Sau nhà vua mến mộ đạo hạnh của ông đã cho lập đàn ban sắc cho ông là Giới Đao Độ Điệp. Từ đó, danh tiếng của ông vang lừng khắp nước.
Lịch sử hình thành
Năm 1842 dưới thời nhà Nguyễn, thượng thư Nguyễn Đăng Giai được điều động đến làm Tổng đốc Hà Ninh, ông là người làng Phù Chánh, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Xuất thân trong một gia đình vọng tộc, nội ông là tiến sĩ Nguyễn Đăng Hoành, cha ông là Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Đăng Tuân (thầy dạy vua Thiệu Trị). Khi đến đây ông đã quyên tiền xây dựng chùa Báo Ân bên cạnh hồ Hoàn Kiếm và mời Hoà thượng Phúc Điền về trụ trì.
Sách Thăng Long cổ tích khảo viết :“thôn Lâu chính là mảnh đất của Lầu Ngũ Long thời Lê, từ cửa Tuyên Vũ trong đô thành nhìn ra thấy khu đất này nằm vắt ngang hồ Thuỷ Quân. Người ta bắc một cây cầu đá nối thông hai bờ với nhau, bến Tây Long là nơi thuyền bè đậu san sát, lữ khách lui tới hết sức nhộn nhịp. Đến thời Tây Sơn bến này không còn sử dụng nữa, sau thấy có ba pho tượng thần sừng sững giữa đường thôn. Hai pho tượng có kích thước chiều 1 thước, chiều cao 5 thước, còn pho bé nhỏ hơn chút xíu, người đương thời gọi đó là Lôi Xiết tướng quân chẳng ai dám động tới. Sang đầu thời Nguyễn quan quân kéo tượng chuyển đi nơi khác, nhưng quân đông đến mấy kéo cũng không chuyển, dân sở tại vội làm lễ vật đưa đến trước tượng làm lễ. Lễ xong thì chuyển tượng dễ như đẩy đổ cây khô, sau đó dân thôn xây một ngôi miếu để thờ phụng. Đến đời Minh Mệnh do số dân của thôn Lâu thưa vắng nên tỉnh Hà Nội đã cho sát nhập thôn Lâu và thôn Hậu Lâu làm một và đặt tên la thôn Cựu Lâu”.(1) Đây chính là tư liệu nói về chùa được xây dựng trên nền cũ của Lầu Ngũ Long thời vua Lê – chúa Trịnh, mảnh đất nơi chùa Báo Ân được xây dựng là thôn Cựu Lâu cũ ngày nay là phường Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Năm 1883 Pháp chọn chùa Báo Ân làm trụ sở hậu cần sau khi xâm chiếm được Hà Nội, trong thời gian đóng quân ở đây họ đã cho binh lính đập phá gạch đá, đập vỡ các tượng lớn và lấy cắp các tượng nhỏ làm kỷ niệm và họ cho xây đường phố, phố Đinh Tiên Hoàng là con phố đầu tiên được xây dựng ở Hà Nội.
Tháng 11 năm 1885 thời gian này thực dân pháp đã hoàn thành xong công cuộc xâm lược Việt Nam và chuẩn bị rút quân khỏi Thủ đô Hà Nội, họ đã ra quyết định tiến hành lấy đất lấp thu nhỏ diện tích Hồ Gươm và lấp các chỗ trũng tại Hà Nội. Toàn quyền Đông Dương ra lệnh đốt hết các nhà lá quanh hồ Hoàn Kiếm.
Năm 1888 thực dân Pháp đã phá huỷ toàn bộ chùa Báo Ân để xây dựng Bưu điện Hà Nội, vụ cháy thứ hai này đã khiến những ngôi nhà quanh hồ Gươm và chùa Báo Ân bị thiêu rụi gần như hoàn toàn.
Ngày nay tuy ngôi chùa đã không còn, nhưng trong quần thể chùa Báo Ân duy nhất một kiến trúc độc lập còn sót lại trên bờ hồ Hoàn Kiếm là tháp Hòa Phong.
Kiến trúc
Chùa Báo Ân là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo, thu hút rất nhiều khách thập phương đến cầu lễ và tham quan, ai cũng phải ngạc nhiên về độ lộng lẫy của ngôi chùa.
Trong cuốn sách Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ – 4 có bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của Chùa Báo Ân như sau :
Gần xa nô nức tưng bừng
Vào chùa quan Thượng xem bằng động tiên
Lầu chuông, gác trống hai bên
Trông ra chợ Mới, Tràng Tiền kinh đô
Khen ai khéo họa địa đồ
Sau lưng Nhị thủy, trước hồ Hoàn Gươm
Phong quang cảnh trí trăm đường
Trong xây chín giếng, ngoài tường lục lăng
Rõ mười cửa động tưng bừng
Đền vàng tòa ngọc chật từng như nêm
Dục Trì, phơi tổ màu sen
Thập phương chư phật ngồi trên đủ mời
Dạo xem tam bảo khắp rồi
Hành lang, nhà hậu khắp nơi rõ ràng
Kẻ thanh lịch, khách quyền sang
Vào chùa lễ bái mọi đường vui xem
Ai ai mến cảnh thiền môn
Lòng trần rũ sạch nhơn nhơn ra về
Bước ra hòn đá xanh rì
Nhìn xem phong cảnh chẳng muốn về nữa đâu(2).
Trong bài ca dao có miêu tả rất rõ về ngôi chùa, đây là công trình hoành tráng nhất rộng 100 mẫu với 180 gian, 36 nóc và nhiều công trình độc đáo, được xây dựng trên ý tưởng tôn giáo đạo Phật. Từ bên ngoài nhìn về phía ngôi chùa đầu tiên chính là tháp Hòa Phong, sau tháp sẽ có 1 cánh cổng, bước qua cánh cổng đó mới đến chùa Báo Ân. Điểm nổi bật nhất thu hút ánh nhìn chính là 2 gác chuông , 2 gác trống được dựng ở 2 bên đối xứng nhau cao 3 tầng được thu nhỏ dần ở phía trên. 2 gác chuông sẽ cao lớn hơn 2 gác trống, bên phải là chính điện, những kiến trúc được vẽ, trạm trổ, điêu khắc rất tinh tế và cầu kỳ.
Ngôi chùa nằm ở vị trí thoáng mát, trước mặt là Hồ Gươm, sau là Sông Hồng, đây là vị trí trung tâm đắc địa của Thủ Đô, xung quanh chùa được trồng nhiều hoa sen bao bọc ngôi chùa. Bên trong chùa gồm rất nhiều bức tượng Phật lớn được sơn son thiếp vàng, tạo nên vẻ trang nghiêm lộng lẫy, khách tham quan rất bị thu hút vẻ đẹp của chùa và cũng rất kính nể người đã xây dựng lên ngôi chùa độc đáo này.
Mặc dù là ngôi chùa bậc nhất thế kỷ XIX, nhưng thời gian tồn tại lại rất ngắn do thực dân pháp phá huỷ để xây dựng công trình Bưu điện Hà Nội từ năm 1888, rất ít tư liệu ghi chép lại lịch sử về ngôi chùa này, ngày nay chúng ta chỉ còn được ngắm nhìn ngôi chùa qua những bức tranh vẽ hay những bức ảnh chụp lại của các hoạ sĩ, nhiếp ảnh gia. Vì vậy không phải ai cũng biết đến sự tồn tại của ngôi chùa đã có trong lịch sử. Di tích duy nhất còn tồn tại cho đến hiện tại là tháp Hòa Phong đây là một minh chứng để người dân việt nam biết đến sự tồn tại có thật của ngôi chùa Báo Ân bên hồ Hoàn Kiếm ở thời Nguyễn.
Di vật
Tháp Hòa Phong
Tháp Hòa Phong hay còn gọi là tháp Báo Thiên là một ngôi tháp nằm trên đường của bờ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội đối diện toà Bưu điện Hà Nội ngày nay. Đây là di tích cuối cùng còn sót lại của ngôi chùa Báo Ân thời nhà Nguyễn tại Việt Nam, tháp có tên giống với toà tháp ở chùa Dâu xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, thành phố Bắc Ninh. Tháp ở Hoàn Kiếm và tháp ở chùa Dâu Bắc ninh đều có tên là Tháp Hoà Phong nhưng khác biệt về kiến trúc và địa điểm.
Đáng chú ý nhất khi ta nhìn vào tháp, ở mặt Đông Tây trên tháp có ghi chữ Hoà Phong tháp, còn ở mặt Nam Bắc thì lại ghi chữ Báo Thiên Tháp. Để lý giải về việc tháp có hai tên như vậy các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng ở thế kỷ XV có tháp Báo Thiên là nằm trong quần thể chùa Báo Thiên được xây dựng ở triều Lý năm (1057) nhưng đã bị quân minh phá huỷ để lấy đồng đúc đạn, Nhà thờ lớn hiện nay chính là chùa Báo Thiên ngày xưa. theo giả thuyết thì chữ Báo Thiên tháp được viết trên tháp Hòa Phong là để tưởng nhớ về công trình tháp Báo Thiên đã bị phá trước đó.
Tổng quan tòa tháp rất dễ nhận ra được xây theo mặt bằng khối trụ hình vuông có 3 tầng tháp, phía trên nhỏ dần và có đỉnh chóp tổng chiều cao 6m, Bao quanh tháp đều được xây bằng gạch nguyên bản và không sơn màu tạo nên vẻ mộc mạc của tháp.
- Tầng 1 rộng 1,1m, được thiết kế với 4 mặt là 4 cổng vòm mái tròn thông qua nhau như 4 cái cột trụ, mỗi cổng quay ra một hướng khác nhau: Đông, Tây, Nam, Bắc được gọi là Tứ Môn Tháp.
- Tầng 2 rộng 1m cao 1,2m, thân tháp nhỏ hơn tầng 1, được xây theo trụ vuông 4 góc cạnh, 4 góc được đặt 4 hình lân chầu mỗi con ở 4 phía nhưng lại cùng quay mặt về hướng đông.
- Tầng 3 rộng 0,8m cao 1m, cũng xây theo khối vuông nhưng nhỏ hơn tầng 2, mỗi mặt của khối vuông đều ghi chữ “Báo Phúc môn” (cửa báo phúc), “Báo Ân môn” (cửa báo ơn), “Báo Đức môn” (cửa báo đức) và “Báo Nghĩa môn” (cửa báo nghĩa) thể hiện thuyết “Nhân Quả” của nhà Phật.
- Đỉnh chóp cao 0,8m được xây thu nhỏ dần lên trên, dưới là đế trụ hình vuông, trên đế trụ vuông có trang trí hình trái bầu hồ lô biểu tượng cho phước lành của Phật Giáo.
Ở thời nhà Nguyễn ngọn tháp Hoà Phong được xây ở phía trước của chùa, phía sau tháp là lối dẫn vào cổng chùa, cùng với nó là có nhiều công trình khác ở bên cạnh, khi muốn bước vào chùa chúng ta bắt buộc phải đi qua ngọn tháp này, đây là những kiến trúc do ông Nguyễn Đăng Giai sáng tạo.
Còn hiện tại tháp Hoà Phong chỉ còn đơn độc duy nhất đứng độc lập trên bờ hồ Hoàn Kiếm. Trải qua nhiều thập kỷ, tháp Hòa Phong là một minh chứng cho dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn còn tồn tại, di tích lịch sử – văn hoá, kiến trúc nghệ thuật vô giá của Thăng Long – Hà Nội. Ngoài ra tháp Hoà Phong còn là một địa điểm nổi tiếng để khách du lịch có thể tham quan và chụp ảnh, Một biểu tượng của Thủ Đô Hà Nội.
Tượng Quan Âm Tọa Sơn
Thời kỳ thực dân pháp xâm lược nước ta, họ muốn quy hoạch Hà Nội thành nước pháp thu nhỏ và chùa Báo Ân nằm trong kế hoạch đó nên đã bị phá bỏ, các kiến trúc bị hoang tàn, thời điểm đó họ đã mang tượng Quan Âm tọa sơn làm bằng gỗ về Pháp và trưng bày tại Bảo Tàng Guimet.
Tìm kiếm trong trang chính thức của Bảo Tàng Guimet là một bảo tàng về nghệ thuật châu Á ở Paris ta sẽ thấy có bài viết về tượng Quan Âm tọa sơn của chùa Báo Ân:
“Tác phẩm này giới thiệu cho chúng ta một hình tượng đặc biệt của Quán Thế Âm Bồ tát, mang tính nữ. Đây là khía cạnh phổ biến ở những nước láng giềng Trung Hoa, đặc biệt ở miền Bắc Việt Nam, cũng là nơi xuất phát của bức tượng này. Chúng ta nhận biết qua trang phục: áo rộng thắt ngang hông, áo choàng quanh vai, khăn che trên đầu. Sự tinh tế và phong phú thể hiện qua cuộn tóc và vòng cổ ngọc trai, cũng được kế thừa từ truyền thống Trung Hoa. Phật Quán Âm ngồi trên một mỏm đá có hình răng cưa (Quán Âm tọa sơn). Những nếp gấp của vải, những họa tiết trang trí, hình khối đầy đặn, tạo cảm giác sang trọng, uy nghiêm, là đặc trưng của thế kỷ 17, thời kỳ nghệ thuật Phật giáo đạt tới đỉnh cao, ở khu vực Hà Nội. Tác phẩm này là một kiệt tác đỉnh cao, ngoài ra có một dòng chữ Hán.
Đây là một tác phẩm trường tồn với thời gian, bức tượng sau đó được phủ một lớp sơn mài vàng dày.
Được tôn thờ ở miền Bắc Việt Nam, Quán Âm được coi là “bảo trợ cho trẻ em”
Đây là một tác phẩm của truyền thống từ thời Bắc Tống Trung Hoa (960-1126), qua đó khắc họa một vị Bồ tát được nhân bản hóa có vẻ bề ngoài tương phản với phong cách tượng pháp Mật thưc đời Đường (618-907). Tác phẩm này có lẽ được đặt ở một nơi tôn nghiêm, có tầm quan trọng hàng đầu và được đặt ở lối vào chính của một ngôi chùa”(3).
Cùng với di sản tháp Hòa Phong, tượng Quan Âm tọa sơn được coi là di sản di tích lịch sử được trưng bày và bảo tồn tại nước ngoài, dấu ấn kiến trúc đặc trưng của thế kỷ 17 được trong nước và ngoài nước biết đến.
Chú thích
- Nguyễn Tá Nhí, Nghiên cứu Tôn giáo số 5-2004, tr 58.
- Giang Quân (biên soạn), Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ -4, NXB Hà Nội 2002, phần 3,stt 133.
- Bảo tàng Guimet, Pháp.
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Tá Nhí, Nghiên cứu Tôn giáo số 5-2004.
- Giang Quân (biên soạn), Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ -4, Nxb Hà Nội 2002, phần 3.
- Trang thông tin điện tử Hoàn Kiếm 360, cơ quan chủ quản: Uỷ ban nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
- Bảo tàng Guimet, Pháp.
- Phan Tất Liêm, Giang Quân, Dấu tích kinh thành.