Chùa Bảo Phúc (Chùa Ong – Hoằng Hoá, Thanh Hoá)

Chùa Bảo Phúc (Chùa Ong – Hoằng Hoá, Thanh Hoá)

Chùa Bảo Phúc, dân gian còn gọi là chùa Ong, vì nơi đây xưa kia cây cối rậm rạp có nhiều ong đến làm tổ. Trước đây chùa thuộc làng Phú Khê, tổng Dương Thủy. Ngày nay, chùa Bảo Phúc thuộc thôn 2, xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 

Lịch sử

Từ thời Lê trở về trước địa danh này còn có tên là Phú Trừng trang, tên Nôm là kẻ Đừng, rồi đổi thành làng Phú Khê vào cuối triều Lê Trung Hưng đến đầu triều Nguyễn – Gia Long (thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX). Từ đầu thế kỷ XIX đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, làng Phú Khê gọi là xã Phú Khê, tổng Dương Thủy, huyện Mỹ Hóa 1). Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xã Phú Khê được tách ra thành hai xã là Hoằng Phú và Hoằng Quý. 

Hoằng Quý phía bắc giáp xã Hoằng Kim, phía nam giáp xã Hoằng Quỳ, phía đông giáp xã Hoằng Khê, Hoằng Sơn và Hoằng Trinh, phía tây giáp xã Hoằng Phú. Đây là vùng đất có con đường thiên lý bắc – nam (Quốc lộ 1A) và đường sắt xuyên Việt Bắc – Nam chạy qua, nên có điều kiện để trao đổi hàng hóa và giao lưu tiếp xúc văn hóa với các làng xã trong và ngoài vùng, nơi đây có chợ Đừng là mối giao lưu nổi tiếng từ xưa. Người dân Hoằng Quý chủ yếu sống bằng nghề nông, nghề trồng lúa nước, là vùng đất bão lụt thường xuyên xảy ra ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân. Vì vậy, để tồn tại và phát triển người dân Hoằng Quý đã đấu tranh chinh phục thiên nhiên, cải tạo đồng ruộng, xây dựng các công trình thủy lợi. Chính vì vậy, đời sống nhân dân được cải thiện. Cùng với việc xây dựng đời sống dân sinh ổn định, nhân dân nơi đây đã vun đắp đời sống tinh thần đa dạng phong phú, trong đó có việc bảo tồn di sản Phật giáo đó là việc xây dựng chùa Bảo Phúc.

Theo bản “Tôn thần ngọc phả” do Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1557); Quản giám bách thần Nguyễn Hiền sao lại năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1738) hiện đang lưu giữ tại chùa Bảo Phúc giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử chùa và sự hình thành làng Phú Khê. 

Nội dung bản Ngọc phả ghi: Vào năm 1024 (triều vua Lý Công Uẩn), một người đàn ông họ Chu vùng Sơn Nam vào Thanh Hóa du ngoạn, tìm đất thiêng cầu tự (cầu sinh con trai) “Từ xưa đã nghe ở Đằng Châu, Phú Trừng Trang có chùa thiêng, đến đó xem xét thấy phong cảnh dân làng thuần hậu, ông bỏ tiền ra tu sửa ngôi chùa cầu phúc”. Dưới triều vua Lý Thái Tông (1039) nhà vua trên đường hành quân vào phương Nam đánh giặc Chiêm, được hai vị Thành hoàng làng Phú Khê là Chu Minh và Chu Tuấn hiển linh giúp vua thắng trận. Nhớ ơn hai vị thần, vua Lý Thái Tông đã cho dựng đền và phong Thượng đẳng Phúc thần. Như vậy, qua nội dung bản Ngọc phả cho biết chùa Bảo Phúc được xây dựng vào thời Lý thờ Phật và thần hoàng làng Phú Khê.

Kiến trúc

Trải qua nhiều biến cố thăng trầm, chùa Bảo Phúc đã qua nhiều lần tu sửa và có sự dịch chuyển về vị trí. Bản Tóm tắt lịch sử làng Phú Khê cho biết: chùa Bảo Phúc có từ lâu đời, nằm trên khu đất bằng phẳng ở trung tâm làng nhìn về hướng nam (bên cạnh chùa Bảo Phúc hiện nay), nhưng quy mô cấu trúc còn khiêm tốn. Đến thời Hậu Lê vì dân cư ở đây rất đông, đất chùa hẹp do vậy chính quyền địa phương cùng nhân dân đã thống nhất làm lễ cúng Phật và chuyển ngôi chùa ra cồn Ông Ngoại và dựng ngôi chùa to đẹp hơn. Đến thời kỳ sau này, chùa bị huỷ hoại hoàn toàn, đất chùa cũ được xây dựng làm trường học. Sau đó một số đồ thờ tự cũ của chùa như: tượng, bát hương, đài nước, đài rượu v.v… được đưa về thờ tạm ở gốc cây đa bên cạnh chùa Bảo Phúc cũ. Vào năm 1998, để đáp ứng đời sống tâm linh của nhân dân trong xã, chính quyền địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Người cao tuổi và nhân dân xã Hoằng Quý cùng các nhà hảo tâm đã đóng góp công đức xây dựng ngôi chùa Bảo Phúc trên nền đất chùa cũ của chùa. Chùa Bảo Phúc hiện nay được xây dựng theo thể thức kiến trúc truyền thống.

Hiện nay, không gian kiến trúc chùa Bảo Phúc gồm các công trình chính sau:

Tam quan: Tam quan được làm hai tầng tám mái, phần cổ diêm treo chuông đồng, ở trụ cổng đắp hình búp sen, hai bên có hai nghê chầu.

Sân chùa: rộng, được lát gạch bát đỏ, khuôn viên có cây cối xum xuê cành lá thoáng mát.

Chùa chính: gồm nhà Tiền đường, nhà Bồi tế, cung thờ Mẫu, cung thờ Phật và cung thờ Thành hoàng được cấu trúc theo kiểu chữ Nhị (二), cụ thể các công trình như sau:

– Nhà Bồi tế: Qua sân vào nhà bồi tế được xây ở trước hai đầu hồi của nhà Tiền đường. Nhà bồi tế tường xung quanh để thông thoáng, 4 mái với 2 vì kèo gỗ gác tường đốc; mái lợp ngói mũi, đỉnh mái đắp hình hổ phù; hai bên đỉnh nóc đắp hình con kìm; 

– Nhà Tiền đường: Nhà không có cửa để thông thoáng cả 9 gian nhà, gồm cung thờ Phật, cung Mẫu, cung thờ Thành hoàng. 

Cung Tam bảo có hiên rộng 1,5m, được xây hình cuốn vòm; lòng nhà có chiều rộng 5,1m, chiều cao của vòm 6m, chiều dài 9m, nền lát gạch men hoa.

Phía bên phải xây cung Mẫu, phía bên trái là cung thờ thành Hoàng làng.

– Nhà Tiền đường: 

Bàn thờ đầu đốc đông đặt tượng Phật Tổ, tượng cao 0,70m, đế cao 0,10m, trên ban thờ đặt khay mịch, bát hương, hộp đựng bài vị v.v… Bệ dài 2,8m, rộng 0,80m, cao 0,90m. Gian 1 và gian 7 đặt hai hương án gỗ, chiều cao 1,1m, dài 1,33m, rộng 0,70m.

Phía trước cung Mẫu là ban Hội đồng, gồm một hương án gỗ có chiều dài 1,75m, rộng 1,0m, cao 1,2m, trên hương án đặt long ngai cao 0,77m, dài 0,30cm, rộng 0,30, đế cao 0,30m; bát hương, cao 0,40m, đường kính 0,40m, 

– Phật điện

Phật điện được trang trí 6 lớp tượng, được bài trí như sau:

Lớp thứ nhất là 3 pho tượng Tam Thế: Quá khứ, Hiện tại, Tương lai; tượng được làm bằng gỗ, hình dáng, kích thước giống nhau.

Lớp thứ hai là tượng đức Phật A Di Đà (tức Vô lượng thọ) được tạc to hơn các tượng khác, tượng được tác trong tư thế tọa thiền trên đài sen.

Lớp thứ ba là tượng Quan Thế Âm Bồ tát

Lớp thứ tư là tượng Phật Thiên thủ thiên nhãn

Lớp thứ năm là tượng Ngọc Hoàng và hai bên là tượng Nam Tào, Bắc Đẩu

Lớp thứ sáu là tòa Cửu Long, bên trong là hình tượng Thích Ca sơ sinh được tạc với thế đang đứng trên hoa sen, trong vòng tròn có chín con rồng kết thành, bên trong là một hình bé trai, tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất và nói một câu bất hủ “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”.

Hai bên tả hữu Phật điện đặt 2 bệ thờ: bên tả đặt tượng Đức Thánh Hiền, bên hữu đặt tượng Đức Ông.

– Cung Mẫu: được bố trí thờ tự như sau:

– Ở gian giữa đặt ban thờ gồm 6 cấp thờ:

+ Bệ thứ nhất đặt long khám bên trong có tượng thờ Bà chúa Liễu Hạnh;

+ Bệ thứ hai ở giữa đặt tượng gỗ Tam tòa Thánh Mẫu.

+ Bệ thứ ba: Đặt tượng Đức vua cha Ngọc Hoàng.

+ Bệ thứ tư: Đặt bộ tượng Ngũ vị Tôn ông.

+ Bệ thứ năm: Đặt bộ tượng Tứ vị Chầu bà 

+ Bệ thứ sáu: Đặt bộ tượng gỗ Tứ vị Hoàng tử.

– Gian bên hữu: ban thờ gồm 2 bệ, bệ thứ nhất đặt tượng Tam cô và bệ thờ thứ hai đặt tượng Đức Thánh Trần.

Ngoài ra chùa Bảo Phúc còn có cung thờ Thành hoàng làng. 

Chùa Bảo Phúc là ngôi chùa thờ Phật, thờ mẫu và cả Thành hoàng làng. Đây là một ngôi chùa mang nét đặc trưng của những ngôi chùa Bắc Bộ, các dòng tín ngưỡng đan xen với nhau, bổ trợ cho nhau, trong đó tín ngưỡng thờ Phật được thờ chủ đạo. 

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập IV), Trịnh Thị Hường
Chấm điểm
Chia sẻ
Chua-Bao-Phuc-Hoang-Hoa-Thanh-Hoa (5)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926