Chùa Bích Tiên (Hậu Lộc, Thanh Hoá)

Chùa Bích Tiên (Hậu Lộc, Thanh Hoá)

Chùa Bích Tiên xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc được gọi theo tên ghép của hai làng Y Bích và Lộc Tiên, ngoài ra chùa còn được gọi với tên Nôm là chùa Vích.

Vị trí địa lý

Hải Lộc trước năm 1945 thuộc tổng Xuân Trường, sau đổi thành khu Định Công thuộc xã Trường Lâm. Hải Lộc phía bắc giáp thôn Minh Đức, xã Minh Lộc, phía tây là sông Gie giáp xã Hòa Lộc, phía nam là sông Lạch Trường và núi Hà Rò giáp huyện Hoằng Hóa, phía đông giáp biển, cách các đảo: Hòn Nẹ 6 km, Hòn Xụp 4km, Hòn Bò 3km. Quần thể đảo cùng núi Trường, cửa biển Lạch Trường và tuyến bờ biển dài đã tạo nên một cảnh quan hùng vĩ của tự nhiên. Từ năm 1954 đến nay là xã Hải Lộc. Hải Lộc gồm 8 làng: Trường Nam (còn gọi là Trà Linh), Y Bích, Lộc Tiên, Tân Lộc, Đa Phạn, Hưng Thái, Lạch Trường, Thắng Hùng.

Hải Lộc có bờ biển dài 2,5km chạy theo hướng Bắc – Nam, có cửa Lạch Trường ở phía nam xã, xưa là cửa sông Ngu sâu và rộng, là cửa chính sông Mã đổ ra biển. Sông Lạch Trường đi qua xã Hòa Lộc, Xuân Lộc thông qua kênh Tuần, cầu Cách rồi ra Lạch Trào sông Mã, lại có ngách qua cầu Sài để về sông Trà nhập với sông Lèn. Sông Kênh Gie là con sông tự nhiên chảy bên phía tây chùa Vích, từ năm 1962 con sông này được nắn thẳng đoạn chùa Vích.

Sông Lạch Trường và Kênh Gie là hai con sông có cường độ chảy bình thường. Trong lịch sử, hai con sông này là tuyến giao thông chính để người dân Hải Lộc trao đổi vận chuyển buôn bán, đồng thời là điều kiện tự nhiên để giao lưu và tiếp thu văn hóa, tín ngưỡng tạo ra vùng văn hóa Lạch Trường.

Lạch Trường từ đầu Công nguyên đã có vị trí quân sự rất quan trọng đối với việc canh tuần phòng thủ một vùng biển, bảo vệ đất liền, bảo vệ một vị trí buôn bán có tính chất thương cảng. Ở đây, con người đã tụ tập, quần cư đông đảo làm nghề chài lưới và các nghề thủ công khác như làm nước mắm, làm muối Do ở vị trí có Cửa Lạch sâu và rộng, trong lịch sử thường xuyên có thuyền buôn của người nước ngoài cập vào buôn bán, đổi chác nên đã biến nơi đây thành một thương cảng sầm uất với sự xuất hiện nhiều thương gia nước ngoài và các nhà truyền giáo. Cửa Lạch Trường có dãy núi Rò chắn giữ phía đông nam, từ Hòn Nẹ trở vào luôn có dòng đối lưu, khi triều lên mũi nước chảy xói vào cửa Lạch Trường gặp nguồn nước sông Kênh Gie đổ ra biển tạo ra một vùng lặng sóng ở biển Hải Lộc, thuận tiện cho việc neo đậu thuyền bè, là nơi tập kết các hạm thuyền của các triều đại phong kiến trước đây chống giặc ngoại xâm.

Từ thế kỷ XII – XIV Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội, in đậm dấu ấn trong mọi lĩnh vực văn hóa – xã hội. Trong xã hội, Phật giáo chiếm ưu thế, các nhà sư giữ vai trò quan trọng. Quan lại, tầng lớp quý tộc, nhiều người bỏ tiền ra dựng chùa, cúng ruộng cho chùa. Theo sách Tên làng xã Thanh Hóa: Làng Y Bích có chùa Vích được dựng từ thế kỷ XIV ở một vị trí thắng cảnh cùng với những bối cảnh lịch sử của vùng văn hóa đặc sắc.

Chùa Vích là chùa của 3 làng: Y Bích, Lộc Duyên và Tiên Xá. Văn bia chùa Vích có niên đại dựng năm 1689 ghi: “Tam xã hưng công bi – Y Bích – Lộc Duyên – Tiên Xá“. Đến thời Gia Long (1802-1820) theo địa danh trấn xã, Hậu Lộc có 91 xã thôn, trang trại, Y Bích, Lộc Tiên được gọi là 2 xã. Thời Nguyễn, Tiên Xá sáp nhập với Lộc Duyên gọi là Lộc Tiên. Như vậy tên làng Lộc Tiên là làng mới có từ thời Nguyễn. Chùa Vích nằm ở hướng chính tây giáp sông Kênh Gie, phía đông cách bờ biển khoảng 300m thuộc đất làng Lộc Tiên, biển. phía nam là đồng muối, phía đông và bắc là ruộng lúa, độc lập trong khung cảnh tự nhiên giữa núi, bờ biển, xóm làng và đảo xa.

Thiết kế

Cấu trúc cơ bản của chùa Vích là nhà Bái đườngChính điện, cấu tạo theo hình chữ Công. Trên cơ sở cấu trúc cơ bản đó, chùa hình thành thêm hành lang, Tam quan, nhà Tổ và nhà thờ Mẫu.

Vẻ đẹp của chùa Vích nổi lên với những công trình mà địa hình và phong cảnh xung quanh là điều kiện không bao giờ rời nhau đối với kiến trúc. Cảnh thiên nhiên được khai thác, uốn nắn và bổ sung làm toát lên đặc điểm truyền thống trong kiến trúc cổ là sự hài hòa địa hình, phong cảnh trong đó ẩn náu yếu tố phong thủy: Phía nam là dãy núi Trường, phía tây là con sông Kênh Gie chắn giữ, phía đông là biển và đảo khơi. Với kiểu nhà có 3, 5 (gian lẻ), chùa Vích đã cho thấy ý tưởng mà thầy địa lý từ nhiều thế kỷ trước đã lựa chọn.

Tam quan của chùa thiết kế theo lối 3 gian 2 tầng có chiều cao là 9,2m, chiều rộng 8,92m gồm 3 cửa vòm, chính giữa là Phật môn, hai bên là Pháp môn và Tăng môn. Phần giao nối giữa cửa chính với hai cửa bên, có hai làn cầu thang. Hai gian tầng trên che phần chiếu nghỉ cầu thang để lên gác chuông; gác chuông được thiết kế cao để treo quả chuông nặng tới 100kg được gọi là Bích chung tự (chuông chùa Bích). Mặt trước Tam quan, phần đỉnh gác chuông có chữ Bích Tiên t (chùa Bích Tiên) và đôi câu đối hai bên Phật môn được đắp nổi:

Ban dẫn từ hàn thế giới hạch bằng siêu khổ hải

Đường khai bảo phiệt, khách thuyền hạ đáo mê xuyên.

Tạm dịch:

Sóng dẫn thuyền từ thế giới mong nhờ qua bể khổ

Cảnh nhờ cửa Phật hồn mau tới vượt sông mê.

Một khoảng sân được lát gạch bát với kích thước 13,5 x 19m ngăn cách giữa Tam quan với chùa. Trụ đá Thiên đài được dựng ở chính điểm giao cắt giữa hai đường chéo sân, nằm vào khoảng giữa Tam quan và chùa. Trụ đá hình vuông mỗi cạnh 0,18m, cao 1m được dựng năm 1720, mặt trụ được khắc bài thơ bằng chữ Hán, được dịch là:

Trụ Thiên đài

Lòng son bèn cúng một Thiên đài

Vun trồng cây đá ơn mười đất

Nghi ngút mùi hương thấu chín trời

Tháp nhạn sách so nơi Bảo điện

Chân Ngao phù khốc chôn tòa thai

Đời đời ghi tạc để càn khôn vẹn

Phúc xuống ngàn năm mãi chẳng phai.

Phía tây bắc, trong khuôn viên chùa có dựng 2 tấm bia: 1 tấm kê trên bệ đá ghi tên những người cung tiến; 1 tấm rùa đội cao 1,35m; rộng 0,65m; dày 0,14m. Điều đáng chú ý là trên bia đề: Tam xã hưng công bi ký – Y Bích – Lộc Duyên – Tiên Xá dựng tháng 10 năm Kỷ Tỵ (1689).

Từ đầu hồi chùa về phía bắc cách khoảng sân rộng 12m là nhà thờ Tổ, cuối sân là phủ Mẫu thờ Liễu Hạnh.

Kiến trúc

Phần kiến trúc chính là chùa thờ Phật thiết kê theo hình chữ Công. Mặt chính là bức tường xây có 3 cửa vuông ve góc, hai bên 2 biểu trụ vuông, trên đỉnh trụ đắp búp hoa liên. Bức tường vừa làm chức năng chắn mái nhà báo đường, vừa thay thế hệ thống cột hiên để đỡ các kẻ bẩy tạo ra một hành lang hiên không lộ ra phía trước.

Một đặc điểm thể hiện sự tuân thủ của kiến trúc cổ ở chùa Vích là: So với tổng chiều cao, phần mái chiếm tới gần 2/3 không gian kiến trúc của chùa, phần không gian hình hộp xây phía trước thường thấp. Đây là mô típ phổ biến từ thế kỷ XV. Khoảng chảy của tàu mái trước nhà Bái đường được đỡ bằng tường chắn mái, đưa nước sang hai bên hồi; tàu mái sau được liên kết với hai mái đường đắp trang trí hoa văn lửa và đường hoa văn kỷ hà được nối với hai dấu bát trên đỉnh tường hồi.

Chính diện được kết cấu 4 mái, các cạnh mái được giao nối tạo thành một đường cong làm cho ta có cảm giác phần mái nhẹ nhàng.

Tường vách chùa được xây dựng bằng loại tiểu sành kích thước 0,54m x 0,25m x 0,25m, lòng tiểu được đổ đầy cát, được xếp lên nhau và bít mạch, phía trong được trát ao, bên ngoài để trần. Tiểu sành là vật đựng xương cốt người để chôn cất vĩnh viễn sau 3 năm bốc mộ. Theo như quan niệm ở đây cho rằng, sở dĩ chùa xây bằng tiểu sành là cứu nhân độ thế, quy tập các linh hồn chúng sinh về ăn mày cửa Phật.

Chùa Vích có kiến trúc bộ khung gỗ một kiểu vì gồm 4 cột, riêng 2 vì giữa Bái đường trốn cột. Trên câu đầu 2 cột giữa là giá chiêng và đấu tượng lương với thiết kế đơn giản. Kẻ bẩy vươn ra không gian hiên ăn mộng vào cột con các vì, đầu kê vào tường làm cho kẻ tăng thêm phần chắc chắn. điểm nối giữa xà nách và cột con, xà hiên cùng với xà đai, đầu cột con liên kết 2 vì kèo của một gian. Điểm thu nối các cột với nhau cũng làm chức năng liên kết như các xà và giữ cho bộ khung không biến dạng.

Số lượng xà hoành được sắp xếp trên các vì có thể tính từ trên xuống hoặc dưới lên xà nóc đều là chữ “sinh” trong thứ tự “sinh, lão, bệnh, tử” như yêu cầu của tập quán.

Nhà Bái đường có 14 cột, nhà nối chính diện có 6 cột và chính diện có 22 cột để hình thành bộ khung gỗ gồm các vì xà; các vì được choãi chân ra theo lối “thượng thu hạ thách” có nghĩa là trên nhỏ dưới to. Các cột ở đây có chung một kiểu dáng: hơn một phần ba phía trên được đẽo nhỏ, phần giữa hơi nở, đến gần điểm tỳ mặt tảng lại được đẽo nhỏ lại. Đây là kiểu cột “búp đòng“. Kiến trúc chùa Vích thực chất có nguồn gốc từ kiến trúc dân gian với kết cấu khung gỗ đã quen biết từ lâu đời, mang đặc điểm của kiến trúc cổ Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII.

Phủ Mẫu trong khuôn viên chùa thiết kế hình chữ Nhất có 2 vì bít đốc, 2 tàu mái lợp ngói mũi in hình hoa chanh, tàu mái trước được chắn bình phong đắp hình hổ phù. Bên phủ Mẫu là nhà thờ Tổ được trùng tu lại sau khi bị sụp đổ do bão, gồm 3 gian khung gỗ.

Pho tượng cổ

Hiện vật thờ tự ở chùa Vích phong phú và đa dạng, phản ánh phong cách nghệ thuật của những thế kỷ XVII – XIX. Có thể phân chia thành 3 nhóm: Nhóm tượng gỗ, nhóm thổ tượng và các hiện vật khác. Trong số này nhóm thổ tượng có số lượng nhiều, chiếm không gian kiến trúc lớn trong chùa.

Nhóm tượng gỗ

Tam Thế: Ba vị ngồi ngang nhau ở vị trí cao nhất gần sát vách Thượng điện đại diện cho 3 thời: quá khứ, hiện tại và tương lai. Kích thước và hình dáng cả 3 vị giống nhau, đều cao 0,92m; vai rộng 0,36m; thân dày 0,54m; ngồi trên bệ tòa sân cao 0,20m, đường kính bệ 0,55m. Tượng Tam Thế ở đây được diễn tả theo một ngôn ngữ chung, thống nhất chặt chẽ từ kiểu dáng, khuôn mặt đến trang phục. Tượng ngồi tọa thiền, mắt nhắm nghiền, tay đặt lòng. Nét đẹp của tướng mạo lộ ra ngoài, tóc xoăn ốc, miệng phảng phất nụ cười thần bí, tất cả toát lên vẻ viên mãn, thanh thoát của cuộc đời hỷ xả.

+ Phật Bà Quan Âm: Tọa trên bệ sen, cả phần bệ cao 2,15m; tượng gồm 24 cánh tay, mỗi cánh tay đều được tạo thành tư thế riêng: có tay cầm vật Phật như hồ lô, bảo tháp, quạt ba tiêu Hai cánh tay chính chắp trước ngực, các ngón tay đan vào nhau ở tư thế bắt quyết thể hiện đạo pháp vô song của nhà Phật đang cứu độ chúng sinh, mắt nhắm nghiền như đã thấu triệt tiếng kêu ai oán của đời. Phật Bà Quan Âm được coi là biểu tượng của sự sáng suốt thấu triệt hợp với sự trông ngóng hy vọng của người dân.

+ Tượng 2 vị Tổ: Ngồi bên phải tượng Quan Âm, được diễn tả ở tư thế tọa thiền, ngi xếp bằng 2 chân, 2 bàn tay đặt giữa lòng đùi, bàn tay phải đặt giữa lòng tay trái, hai đầu ngón tay cài giao nhau thể hiện tư thế ngồi Thiền với khuôn mặt đôn hậu bao dung.

5 pho tượng có chất liệu gỗ trên nói lên trình độ của nghệ thuật về mặt tạo hình. Mỗi kiểu dáng không chỉ thể hiện cái đẹp, chuẩn mực về kỹ thuật, sự phù hợp với nội dung sử dụng của hiện vật mà vị trí của nó trong di tích đã hòa quện với cái chung trong tổng thể của mặt bằng kiến trúc.

Nhóm thổ tượng

Từ thời Lê đến đầu thời Nguyễn hầu như chất liệu gỗ phủ sơn đã thay thế cốt đá và đồng thời cũng ra đời của các chất liệu cốt đất Trong số 30 pho tượng ở chùa Vích, ngoài 5 pho tượng gỗ đã nêu, số còn lại là thổ tượng. Việc làm cốt tượng bằng đất sét cũng không đơn giản: đất sét tán nhỏ, phơi khô, được giần sàng để bỏ đi những hạt sạn. Khi nhào đất có pha thêm nước vôi loãng và nhựa cây có vị đắng để chống mối mọt, trộn thêm mùn cưa và giấy bản, cật tre già được dùng làm khung hình cho tác phẩm đã định.

Số lượng thổ tượng ở đây phong phú có thể là do cần thay thế một số lớn tượng gỗ đã bị hủy hoại hoặc bổ sung một số tượng mới vào chùa, đòi hỏi không ít khối lượng gỗ. Trong hoàn cảnh chùa ở vùng biển, gỗ phải mua vận chuyển từ nơi khác đến, sự xuất hiện của vật liệu đất sét làm cốt tượng đã đáp ứng được nhu cầu bức thiết về nguyên liệu ở địa phương.

Nguyên liệu cốt bằng đất còn đáp ứng được mong muốn tả thực về tạo hình của nghệ nhân. Việc tiếp theo là các công đoạn của thợ sơn tượng. Các tượng Nam Tào, Bắc Đẩu ngồi thế ủy ấn, Quan Âm tọa sơn, công chúa và phò mã, vua Trang Vương được tô sơn làm ta dễ lầm tưởng là tượng gỗ.

Loại hình thổ tượng phong phú và đa dạng, chiếm nhiều không gian, kiến trúc trong chùa. Trong nhóm này, bản thân mỗi pho tượng đã hoàn chỉnh về bố cục. Thổ tượng có bố cục to nặng nhưng nhờ các nghệ nhân đã khéo léo thổi hồn vào tác phẩm tạo nên hơi thở sinh động của cuộc sống cùng với bố cục tự do nên cho ta cảm giác không nặng nề, vẫn linh hoạt như tượng vua Trang Vương. Hai tay tượng cầm “y bát” với khuôn mặt phương phi của bậc đế vương khi sa cơ là kẻ xin ăn, khất thực với đôi mắt cụp xuống nhẫn nhục hoặc tượng Quan Âm Thị Kính tọa trên tòa sen gương mặt nhẫn nại, cam chịu, chân phải đt trên bông sen, chân kia co dựa vào bụng chân phải, tay trái cầm bình sữa nuôi con, tay kia ở thế ấn, ngang tai là con vẹt đen – hình tượng linh hồn của Thiện Sĩ, người chồng cũ hóa thành để luôn kêu oan cho nàng. Trên kệ đỡ một bình nước tròn 3 chân, hòm Xa Thư được vấn dây lụa buộc nút hoa cùng vạt áo buông vô tình như còn vương chút tình trên trần.

Tượng ở tòa Cửu Long thể hiện hình Đức Phật sơ sinh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Tượng bằng cốt đất chỉ cao 0,41m, mặc áo cà sa màu vàng, tay phải đặt lên lòng tay trái tọa thế Thiền định trên bệ gỗ có đôi thân rồng uốn lượn vươn ra thành một đầu rồng che đầu tượng.

Bộ tượng Pháp ở chùa Vích thực sự là những tác phẩm nghệ thuật mà nghệ nhân đã thể hiện không chỉ trên khuôn mặt của từng pho tượng theo chức năng và vị trí mà còn thể hiện trên toàn bộ trang phục từ quần áo, mũ với nhiều mô típ rực rỡ sinh động mà các pho tượng này được đặc tả đến từng chi tiết tinh xảo nhưng không rườm rà được tuân thủ bởi giới hạn hình khối.

* Các hiện vật khác: ở chùa Vích còn số lượng lớn các đồ thờ như tắc tải, khám thờ, mâm bồng, khay gỗ, chân đèn, chân nến, hoành phi câu đối được treo ở nhà thờ Tổ Đây là những hiện vật cổ rất đáng chú ý. Hai con nghê gỗ được đặt đối xứng qua một trục giữa là ngai thờ tổ mang lại giá trị tôn nghiêm, sự hòa hợp giữa Phật và thế giới đời thường. Ngoài việc được chạm khắc cầu kỳ còn cần phải kể đến kỹ thuật sơn son thếp vàng cho các hiện vật. Ở những nét nhỏ, cần tỉa tót như râu, mắt rồng, các họa tiết hoa lá đã được các nghệ nhân dùng kỹ thuật phối mảng màu chính xác, vì vậy cho đến bây giờ sau hàng trăm năm chúng vẫn rực rỡ như mới.

Từ thế kỷ XVII – XIX ở vùng đất ven biển Hải Lộc, đời sống tư tưởng, tinh thần của cư dân diễn biến khá đa dạng. Qua cửa biển Lạch Trường là những ảnh hưởng văn hóa Tây Âu gắn với sự hình thành của làng công giáo toàn tòng Đa Phạn. Bên cạnh hệ tư tưởng Nho giáo thống trị, là các ngành nghề thủ công như: làm muối, nước mắm, đánh cá biển cũng bắt đầu hưng thịnh đã ảnh hưởng sâu sắc đến mọi tầng lớp nhân dân. Dù vậy Phật giáo vẫn phát triển mạnh mẽ. Chùa Vích là hiện tượng Phật ở làngcó ý nghĩa lớn trong việc phát triển nghệ thuật tôn giáo mà những pho tượng trong chùa thực chất nhằm mục đích nói về lẽ đạo, đồng thời là những bài học dạy làm người theo tư tưởng Phật giáo. Với chức năng phục hồi tôn giáo, chùa Vích đã để lại những đồ thờ không chỉ hướng nhận thức của người đi vào tâm đạo, gây ý thức trang nghiêm sùng kính của Phật pháp mà còn thể hiện ở tính hoàn chỉnh, định hình cả về kiểu dáng và màu sắc của đồ vật, tạo ra ngôn ngữ riêng của đồ thờ thế kỷ XVII – XIX.

Tọa lạc ở một vị trí kề sông, gần biển, nằm trong quần thể cảnh quan bao gồm cửa bể Lạch Trường, núi Hà Rò, đảo Nẹ, hòn Xụp, hòn Bò; chùa Vích không chỉ có giá trị của di tích tín ngưỡng Phật giáo về văn hóa tâm linh mà còn chứa đựng nhiều nội dung lý thú về địa lý, lịch sử, văn hóa biển vùng văn hóa Lạch Trường nổi tiếng.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập I), CN. Mai Phương
Chấm điểm
Chia sẻ
Chua-Bich-Tien-Hau-Loc-Thanh-Hoa (1)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926