Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Bối Khê có tên chữ là Đại Bi tự, tọa lạc tại xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, là một trong những ngôi cổ tự tiêu biểu có quy mô lớn và niên đại sớm bậc nhất trong vùng châu thổ sông Hồng. Với lịch sử hình thành từ thời nhà Trần và dấu tích kiến trúc – mỹ thuật trải dài qua nhiều triều đại, chùa không chỉ là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo của cư dân vùng ven Thăng Long xưa mà còn là một biểu tượng văn hóa – lịch sử có giá trị đặc biệt trong hệ thống di tích kiến trúc Phật giáo Bắc Bộ. Ngôi chùa nổi tiếng không chỉ bởi quy mô hoành tráng, nghệ thuật điêu khắc tinh vi, mà còn bởi sự gắn bó mật thiết với truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian địa phương, đặc biệt là sự tôn thờ Đức Thánh Bối, vị danh tăng được nhân dân tôn kính như bậc thánh hiền cứu độ.
Lịch sử và nhân vật
Lịch sử
Lịch sử hình thành và phát triển của chùa Bối Khê là một quá trình lâu dài, gắn bó mật thiết với diễn trình văn hóa, tôn giáo của dân tộc. Theo các nhà nghiên cứu khảo cổ học, chùa được khởi dựng từ thời Lý (thế kỷ XI), căn cứ vào những dấu tích kiến trúc và hiện vật còn sót lại dưới nền Thượng điện, đặc biệt là khối đá trang trí hình rồng có sừng, họa tiết đặc trưng của mỹ thuật Phật giáo thời Lý được dùng làm móng của bàn đá thời Trần tại Thượng Điện. Sang thời Trần (thế kỷ XIV), chùa được mở rộng và trùng tu lớn, thể hiện rõ qua bài minh khắc trên bàn thờ đá niên đại 1382, cho thấy chùa khi đó đã là một cơ sở Phật giáo quan trọng.
Thời Hồ và thời thuộc Minh, chùa từng bị hư hại do hỏa hoạn, trong đó ngôi am chính bị thiêu rụi. Đến năm 1451 (Thái Hòa 11), am được phục dựng theo ghi chép trong văn bia Bối Động thánh tích bi ký như sau:
“Cuối đời nhà nhuận Hồ, quân Ngô (tức quân Minh) đồn trú ở Ngọc Vinh (?) phóng hỏa đốt viện (Tiên Lữ) trong ba ngày, bảo tượng ngài vẫn như lúc sống, hiển linh báo cho quân Ngô: nên mang đủ đèn dầu đặt ở mỏm đá mà hóa đi. Quân Ngô nghe theo, thấy một cơn mưa máu trong suốt ba khắc, rồi lại thấy Bát Bộ Kim Cương hiện ra mà rụng rời thể phách. Quân Ngô bị chết nhiều, liền làm dấu đóng quân thì biết đã quá nữa. Rất sợ hãi liền tô tượng ngài lại và lập đền cúng tế cẩn thận.”
Dưới thời Lê sơ, chùa tiếp tục được quan tâm tu bổ qua xuyên suốt từ năm 1449 đến năm 1515 qua văn bia Đại Bi tự:
“Đến năm Thái Hòa thứ 7 (1449) đời vua (Lê) Nhân Tông, có Điện nội giám tri giám sự kiêm tri bảo tàng giám Bùi Công Hùng cùng hội hợp các vị dân trong hương và xã hương là Nguyễn Duy Khanh đến thăm thấy bảo khí vẫn còn. Từ đó đến nay hoặc trùng tu gác lầu nhỏ hoặc thiết tạo Núi Bổ Đà, lưu truyền bất tận.”
Thế kỷ XVI dưới triều Mạc, chùa tiếp tục trải qua nhiều đợt trùng tu lớn vào năm 1574 qua tấm bia Đại bi tự:
“Những người trên cùng bỏ tiền của gia tư mua gỗ tốt và chuẩn bị đầy đủ vật liệu, nhằm ngày 16 tháng 11 năm Giáp Tuất hưng công tu tạo.”
Giai đoạn Lê trung hưng, chùa hoàn thiện quy mô kiến trúc, nghệ thuật toàn diện: năm 1603 sửa Tam Quan thông qua bia Tam quan bi niên đại Hoàng Định thứ 4 (1603), năm 1629 thay mới toàn bộ hệ khung Tiền Đường thông qua bia Đại Bi tự bi niên đại Vĩnh Tộ thứ 11 (1629).
Bước sang thời Nguyễn, chùa vẫn giữ vị thế trung tâm Phật giáo lớn với nhiều lần trùng tu đáng kể: từ năm 1873 đến 1876, chùa cho tạc mới tượng Thích Ca, Thập điện, Thánh tăng, 18 vị La Hán (nay đã mất), Thiện Tài, Long Nữ,…; năm 1880 tu sửa chùa, năm 1888 sửa Tiền đường và làm lại tượng hư hỏng; năm 1899 xây dựng Ngũ Không Môn; năm 1900 tạc tượng A Di Đà, Quan Âm, Đại Thế Chí; năm 1908 đúc chuông lớn; năm 1911 dựng bia tổng hợp công đức ở trên mang tên Đại Bi thiền gia bi ký; các năm 1916 và 1923 tiếp tục sửa Tam Quan, nâng cấp hệ mái Tiền Đường.
Bước vào thế kỷ XX – XXI, chùa chịu nhiều thiệt hại do chiến tranh và biến động xã hội, khiến tượng cổ, văn bia, đèn gốm,… bị mất mát, hư hỏng nặng. Đến năm 2004, chùa di dời các công trình hiện đại xâm lấn, phục dựng nhà Tổ, nhà Mẫu, tu bổ giếng cổ, lát sân và trồng cây xanh, … Đến nay, kiến trúc chùa được dựng theo trục Tây – Đông, gồm các hạng mục chính: tháp mộ, đền Đức Ông, Ngũ Không Môn, Tam Quan, khu chùa Phật (Tiền Đường, Thiêu Hương, Thượng Điện, hành lang), cung Thánh. Toàn bộ bố cục theo kiểu “Nội Công ngoại Quốc”.
Các trụ trì của chùa
- Thiền sư tục danh Nguyễn Nữ, tự Bình An, đạo hiệu Minh Đức, người khai sơn chùa, đắc đạo, được tôn là “Đức Thánh Tổ”, vừa là Tổ sư khai sáng, vừa là Thành hoàng làng. Được vua phong hiệu là Đức Minh Chân nhân (Bia Phật tổ di tích bi ký tương truyền, Bối Động thánh tích bi ký).
- Năm 1629 có trụ trì đương nhiệm họ Nguyễn, hiệu Từ Đức, người xã Nhân Mục, Thanh Trì đứng ra quyên góp sửa chùa (Bia Đại Bi tự 1629).
- Thiền tử Tăng lục ty Tăng chính, tự Tính Chúc trụ trì chùa năm 1774 (bia Vô đề 1774). Tổ Tính Chúc là Đệ tứ Tổ của chùa Hồng Phúc Hòe Nhai, thuộc Thiền phái Tào Động.
- Tổ là người Văn Khê, chưa rõ năm sinh, năm mất; Tổ là sư phụ của Tổ họ Lê được đề cập trong bia Đại Bi tự Thiền gia bi ký (1911).
- Tổ họ Lê, người Bối Khê (trụ trì khoảng những năm 1873 – 1888) cho tô lại tượng và làm lại tượng chùa. Sư phụ của Tổ lập bia năm 1911. Tổ mất năm Kỷ Sửu (1889) thọ 62 tuổi (Đại Bi tự Thiền gia bi ký 1911).
- Tổ trụ trì chùa năm 1911 và lập bia Đại Bi tự Thiền gia bi ký.
- Ni trưởng Thích Đàm Khoa, trụ trì chùa Trăm Gian – Quảng Nghiêm tự.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Bối Khê là một công trình kiến trúc Phật giáo có quy mô lớn, kết cấu chặt chẽ, mang phong cách truyền thống đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tổng thể mặt bằng chùa được tổ chức theo trục Tây – Đông, gồm nhiều lớp kiến trúc liên hoàn, phản ánh quan niệm “từ phàm vào thánh”, từ ngoại giới đi vào nội giới, từ không gian mở đến không gian thiêng. Trên trục thần đạo ấy, các hạng mục được bố trí tuần tự, tạo nên một tuyến kiến trúc dày lớp, có chiều sâu không gian và chiều sâu biểu tượng.
Ở phần tiền nhập, đầu trục là cụm tháp mộ của các vị sư khai sơn và trụ trì quá vãng, được xây dựng bằng gạch hoặc đá, hình thức đơn giản nhưng trang nghiêm, đặt tại vị trí chuyển tiếp giữa không gian thế tục và vùng thiêng tôn giáo. Kế tiếp là đền Đức Ông, một công trình thờ vị hộ pháp hay cư sĩ trợ tăng, kiến trúc theo dạng nhà ngang ba gian, mái ngói ta, bộ khung gỗ lim đơn giản, đóng vai trò dẫn nhập về mặt tâm linh. Sân ngoài được lát gạch Bát Tràng, mở rộng phía trước chùa, vừa làm không gian đệm vừa là trường lễ ngoài trời trong các dịp hành lễ lớn.
Một nét độc đáo trong cấu trúc không gian chùa Bối Khê là sự hiện diện của dòng sông Đỗ Động chảy cắt ngang trục chính, tạo nên cảm giác phân tầng cảnh giới tự nhiên. Trên dòng sông là cây cầu gạch cuốn vòm ba nhịp, dáng cong mềm mại, được xây dựng bằng gạch nung truyền thống, kỹ thuật cuốn vòm chắc chắn, vừa có công năng lưu thông vừa mang ý nghĩa biểu tượng: cầu là nơi kết nối giữa phàm giới và Phật giới, giữa đời sống và cõi thiêng.
Vượt qua cây cầu là công trình Ngũ Không Môn, một dạng kiến trúc cổng độc đáo gồm năm cổng liên tiếp nhau, mái ngói riêng biệt, đỡ bằng các hàng cột gỗ lim, đầu đao cong vút, trang trí rồng chầu, hổ phù, hoa văn cách điệu. Tên gọi “Ngũ Không” thể hiện giáo lý Phật giáo về sự vượt thoát năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức đồng thời tạo nên nhịp điệu không gian thiêng liêng, dẫn dắt người hành hương đi từ sự phân tán bên ngoài vào sự tập trung tâm linh bên trong.
Tiếp đến là tam quan – công trình kiến trúc đánh dấu ranh giới giữa ngoại giới và nội giới. Tam quan được xây ba lối, hai tầng mái, mái lợp ngói ta truyền thống, bờ chảy cao, đỉnh mái trang trí lưỡng long chầu nhật. Trên tầng lầu thường treo đại hồng chung hoặc các biển thư pháp chữ Hán, tạo không khí trang nghiêm, linh thiêng.
Bước qua tam quan là sân chùa, được mở rộng và lát gạch cổ, là không gian đệm giữa tam quan và chính điện, nơi tập trung Phật tử và thực hành nghi lễ cộng đồng. Bao quanh sân là các bồn hoa, cây cảnh, non bộ được bố trí khéo léo, tạo cảm giác hài hòa giữa kiến trúc và cảnh quan.
Trung tâm của chùa là khu Tam bảo, gồm ba tòa kiến trúc nối tiếp: Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện. Cả ba tòa đều được xây dựng trên một trục thẳng, cùng phong cách kết cấu gỗ truyền thống, kiểu vì kèo chồng rường giá chiêng, sử dụng gỗ lim bản lớn, thể hiện trình độ kỹ thuật cao của thợ mộc dân gian xưa. Tiền đường gồm năm gian hai chái, mái chồng diêm, đao cong vút, mặt đứng mở thoáng, đóng vai trò là nơi tiếp lễ, giảng pháp và hành lễ. Phần Thiêu hương là không gian trung gian nối Tiền đường và Thượng điện, quy mô nhỏ hơn, thường bố trí án hương và đèn thờ, đóng vai trò chuyển tiếp tâm linh. Thượng điện là tòa kiến trúc sâu, cao và tối hơn, tạo không gian tĩnh mặc thích hợp cho thờ tự. Tại đây an trí hệ thống tượng Tam thế Phật, tượng Bồ tát và các pho tượng cổ, đặt trên bệ cao, dưới ánh sáng mờ dịu, tạo cảm giác uy nghi và huyền ảo.
Phía sau Thượng điện là hậu cung, một không gian thờ kín đáo, thường thờ Phật Mẫu hoặc vị Tổ sư khai sơn, được xây dựng với quy mô nhỏ, kiến trúc khép kín, mái thấp, ánh sáng yếu, tăng cảm giác thiêng liêng và riêng biệt. Hai bên trục chính là hệ thống các công trình phụ trợ như hành lang, nhà Tổ, gác chuông, gác trống, nhà tăng, nhà khách, bố trí đăng đối, kết nối bằng các hành lang mái ngói, tạo mặt bằng chữ “quốc” biến thể, phổ biến trong kiến trúc Phật giáo truyền thống. Các công trình phụ này cùng sử dụng chất liệu gỗ, ngói, tường gạch vữa, thống nhất về phong cách và vật liệu, góp phần hoàn chỉnh tổng thể kiến trúc của ngôi chùa.
Chùa Bối Khê là một chỉnh thể không gian kiến trúc hoàn chỉnh, kết hợp hài hòa giữa triết lý Phật giáo, nghệ thuật dân gian và kỹ thuật xây dựng truyền thống. Mỗi hạng mục trong chùa không chỉ mang chức năng nghi lễ mà còn mang tính biểu tượng cao, phản ánh sâu sắc mối quan hệ giữa con người, tín ngưỡng và vũ trụ. Với bố cục lớp lang, kết cấu chặt chẽ, phong cách điêu khắc tinh tế và sự hòa quyện giữa kiến trúc – cảnh quan – tâm linh, chùa Bối Khê xứng đáng là một trong những ngôi cổ tự tiêu biểu nhất của miền Bắc Việt Nam, là tư liệu sống động cho việc nghiên cứu kiến trúc Phật giáo truyền thống Việt Nam.
Hiện vật
Hiện chùa Bối khê còn lưu giữ một số hiện vật quý giá như tượng thờ ở chùa Phật (hơn 60 pho) và tượng thờ ở cung Thánh (13 pho), cùng một số hiện vật khác như:
– Khối đá chạm mang phong cách nghệ thuật thời Lý.
– Hai quả chuông: 1 quả niên đại Thiệu Trị (1844), 1 quả niên đại Duy Tân (1908) treo ở Tam Quan.
– 1 bàn thờ đá hoa sen thời Trần niên đại năm 1388 ở Thượng Điện.
– 19 đạo sắc phong (từ Thịnh Đức đến Duy Tân): Thịnh Đức (1656), Vĩnh Thọ (1660), Cảnh Trị (1670), Dương Đức (1674), Chính Hòa (1683), Vĩnh Thịnh (1710), Vĩnh Khánh (1730), Cảnh Hưng (1174), Cảnh Hưng (1763), Cảnh Hưng (1767), 2 sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng (1783), Chiêu Thống (1787), Minh Mệnh (1821), Thiệu Trị (1844), Tự Đức (1880), Đồng Khánh (1887), 2 đạo sắc phong Duy Tân (1908).
– Bia đá tại chùa hiện còn khoảng 11 tấm, dựng rải rác trong khuôn viên và dãy nhà Tổ. Bia Đại Bi tự bi niên đại 1573, bia Đại Bi tự niên đại 1515, bia Đại Bi tự bi niên đại 1629, Tam quan bi niên đại Hoằng Định thứ 4 (1603), Đại Bi tự niên đại Minh Đức thứ 3 (1529), Bối Động thánh tích bi kí niên đại Thái Hòa thứ 11(1453). Trong đó, đáng chú ý là tấm bia khắc vào năm Chính Hòa thứ 7 (1686), ghi lại quá trình tu sửa chùa và công lao của các vị thiện tín, Tăng Ni địa phương.
Sự kiện và lễ hội
- Vai trò của chùa trong đời sống cộng đồng hiện nay
Chùa Bối Khê không chỉ là một di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, mà còn là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, đạo đức và văn hóa tinh thần quan trọng của cộng đồng cư dân xã Tam Hưng và vùng phụ cận. Trong đời sống thường nhật, chùa là nơi quy tụ nhân dân trong các dịp lễ tiết, ngày sóc vọng, lễ Phật Đản, Vu Lan, hay lễ hội truyền thống, đồng thời là không gian tu tập, hướng thiện cho các tín đồ Phật tử.
Bên cạnh chức năng tâm linh, chùa còn đóng vai trò là nơi gìn giữ và truyền thừa giá trị đạo đức Phật giáo qua các lớp học giáo lý, lớp giảng pháp, sinh hoạt thanh thiếu niên Phật tử. Trong các dịp giỗ Tổ, giỗ các vị sư khai sơn, hay các hoạt động nhân đạo, từ thiện, chùa tiếp tục khẳng định vai trò kết nối cộng đồng, giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, khơi gợi tinh thần từ bi, hiếu đạo và lối sống an lạc.
- Các lễ hội truyền thống tổ chức tại chùa
Hằng năm, lễ hội truyền thống lớn nhất tại chùa Bối Khê diễn ra vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch, tưởng niệm ngày sinh Thiền sư Nguyễn Như Nhĩ, vị cao tăng đắc đạo, khai sơn chùa vào thời Trần. Lễ hội được tổ chức trang trọng với nghi thức rước tượng, dâng hương, tế lễ cổ truyền và các hoạt động văn hóa dân gian như múa lân, hát chầu văn, biểu diễn tuồng cổ, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương.
Ngoài lễ hội chính, chùa còn duy trì các nghi lễ thường niên theo lịch Phật giáo như lễ Phật Đản (rằm tháng Tư), lễ Vu Lan báo hiếu (rằm tháng Bảy), lễ vía Quan Âm (19/2, 19/6, 19/9 âm lịch), góp phần duy trì liên tục mạch sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng cư dân nông thôn Bắc Bộ. Các nghi lễ đều được tổ chức trong không gian kiến trúc cổ kính, kết hợp giữa truyền thống bản địa và quy chuẩn nghi lễ nhà Phật.
- Tín ngưỡng đặc trưng liên quan đến chùa
Bên cạnh việc là trung tâm thờ Phật, chùa Bối Khê còn là nơi hội tụ của tín ngưỡng dân gian bản địa. Một mặt, chùa vẫn giữ nguyên chức năng thờ tự Tam bảo theo hệ thống Phật giáo Bắc truyền (Đại thừa), với đầy đủ các pho tượng Phật, Bồ tát, Hộ pháp. Mặt khác, trong hậu cung và các gian phụ, chùa còn thờ Đức Thánh Tổ, tức Thiền sư Nguyễn Như Nhĩ được nhân dân tôn làm Thành hoàng làng, biểu hiện rõ nét của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Thành hoàng, vốn phổ biến trong văn hóa làng xã Việt Nam.
Tại một số ban thờ bên gian tả hữu hoặc trong nhà Mẫu, có sự hiện diện của tượng Mẫu Liễu Hạnh và các vị Thánh mẫu thuộc tín ngưỡng Tứ phủ, phản ánh quá trình bản địa hóa Phật giáo trong mối quan hệ với tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Đây là đặc điểm tiêu biểu cho mô hình “chùa làng” truyền thống: vừa là chốn tu hành thanh tịnh, vừa là nơi kết nối tâm linh cộng đồng và tín ngưỡng bản địa.
- Chùa trong thi ca, văn học, mỹ thuật
Trong dân gian, chùa Bối Khê từ lâu đã là biểu tượng tâm linh thiêng liêng, gắn bó sâu sắc với đời sống văn hóa của cư dân địa phương. Nơi đây không chỉ được nhắc đến trong các truyền thuyết và giai thoại dân gian về Thiền sư Nguyễn Như Nhĩ mà còn là nguồn cảm hứng trong các sáng tác dân gian, đặc biệt là ca dao và tục ngữ mang nội dung khuyến thiện, tu nhân tích đức.
Trong kho tàng văn khắc tại chùa, nhiều hoành phi, câu đối và đại tự mang giá trị văn học và mỹ thuật cao, sử dụng thể văn biền ngẫu chữ Hán với phong cách hùng biện, trang nghiêm, nội dung đề cao công đức Phật, ca ngợi cõi thiền và khuyên răn lối sống đạo đức. Các câu đối như:
Phiên âm
“Phật nhật tăng huy, thiền môn bất tuyệt hương đăng chi sắc
Pháp luân thường chuyển, cổ tự do tồn phong nguyệt chi thanh”
Dịch nghĩa
“Ánh sáng Phật rạng ngời, cửa thiền không dứt khói nhang
Bánh xe pháp xoay đều, cổ tự còn mãi tiếng gió trăng”
Là ví dụ điển hình cho lối tư duy biểu tượng và cảm hứng tôn giáo được chuyển hóa thành văn chương điêu luyện. Về mặt mỹ thuật, chùa Bối Khê cũng là nơi lưu giữ nhiều bức chạm khắc gỗ tinh xảo, có giá trị nghệ thuật cao, phản ánh rõ phong cách tạo hình Phật giáo thời Lê – Nguyễn qua các đề tài tứ linh, tứ quý, hoa sen, rồng chầu mặt nguyệt…
Xếp hạng
Chùa Bối Khê, với giá trị đặc sắc về kiến trúc nghệ thuật, lịch sử tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa dân gian, chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia từ năm 1979.
Tài liệu tham khảo
- Viện Thông tin Khoa học Xã hội (1993), Di tích lịch sử văn hóa Hà Tây, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
- Trần Lâm Biền (chủ biên) (2006), Tổng tập di sản văn hóa Việt Nam – Di tích kiến trúc nghệ thuật Phật giáo (tập 2), Hà Nội: Bộ Văn hóa – Thông tin.
- Nguyễn Thị Thu Hoài (2012), “Tín ngưỡng dân gian trong không gian chùa làng Bắc Bộ”, Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 4, tr. 45 – 52.
- Bia đá chùa Bối Khê, niên đại Chính Hòa thứ 7 (1686) và Minh Mạng thứ 11 (1830) – tư liệu văn bia tại chỗ, hiện do Ban quản lý Di tích xã Tam Hưng lưu giữ.
- Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Thanh Oai (2018), Hồ sơ xếp hạng di tích chùa Bối Khê – Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, tư liệu nội bộ.
- Nguyễn Đình Chiến (chủ biên) (2003), Mỹ thuật Phật giáo Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.
- Lê Thị Vinh (2021), “Không gian tâm linh và lễ hội chùa Bối Khê (Hà Nội)”, Kỷ yếu Hội thảo Di sản văn hóa Phật giáo Hà Nội, Trường Đại học KHXH&NV – ĐHQG Hà Nội.
- Viện Nghiên cứu Tôn giáo (2010), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập III, Nxb Tôn giáo.
