Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Cầu Đông tọa lạc tại số 38B phố Hàng Đường, phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm (nay thuộc phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội). Ngôi chùa có tên chữ là Đông Môn tự, do tọa lạc ở phía Đông của Hoàng thành Thăng Long xưa. Tuy nhiên, trong dân gian vẫn quen gọi là chùa Cầu Đông, do nằm gần cầu Đông trên dòng Tô Lịch xưa và cạnh chợ Cầu Đông.
Lịch sử và nhân vật
Theo truyền thuyết dân gian và ký ức của người dân địa phương, chùa Cầu Đông được xây dựng từ thời nhà Lý. Tương truyền, vào thời Trần, Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung – phu nhân của Thái sư Trần Thủ Độ đã từng cho tu bổ và sửa sang ngôi chùa này. Tuy nhiên, hiện nay không còn dấu tích vật chất nào chứng minh chắc chắn sự tồn tại của chùa từ thời Lý – Trần.
Cứ vào tấm bia đá cổ nhất còn lưu tại chùa là Đông Môn tự ký, dựng vào tháng 10 năm Vĩnh Tộ thứ 6 (1624), ghi lại việc sư tự Đạo Án mua đất để mở rộng quy mô chùa. Từ đó, chùa liên tục được trùng tu qua nhiều giai đoạn: các năm 1639 , 1712, 1813 ,1817. Nội dung này được chép trong các bia Đông Môn tự, Trùng tu Đông Môn tự chi bi,..
Dưới thời vua Lê Hy Tông (niên hiệu Vĩnh Trị), Sau khi được tái thiết từ nguồn kinh phí dư của chùa Hồng Phúc, chùa Cầu Đông chính thức trở thành một cơ sở thuộc dòng Tào Động – Hồng Phúc, đánh dấu sự gắn kết giữa hai trung tâm Phật giáo quan trọng của Thăng Long. Đến thời Tây Sơn, chùa cho đúc đại hồng chung mang tên Đông Môn tự chung, với nội dung khắc ghi vị trí đặc biệt của chùa trong không gian đô thị cổ, bên sông Tô Lịch và cửa Đông Hoa. Cuối thế kỷ XIX, quá trình lấp sông và quy hoạch phố xá dưới thời Pháp thuộc đã làm thu hẹp khuôn viên chùa, đồng thời khiến pho tiếu Phật lộ thiên nổi tiếng bị thất lạc; từ đó, chùa được dựng lại theo phong cách kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn bảo lưu nhiều yếu tố mỹ thuật thời Lê. Trong kháng chiến chống Pháp, chùa từng là cơ sở bí mật của Việt Minh, góp phần vào hoạt động cách mạng tại khu phố cổ. Bước sang thời kỳ hiện đại, chùa được trùng tu quy mô lớn, phục dựng các hạng mục chính theo dáng dấp truyền thống, củng cố vai trò là một điểm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng giữa lòng Hà Nội. Không chỉ mang giá trị lịch sử – kiến trúc, chùa Cầu Đông còn gắn với huyền tích Tú Uyên – Giáng Kiều trong “Bích Câu kỳ ngộ”, làm dày thêm tầng văn hóa dân gian và khiến nơi đây trở thành một không gian giao thoa độc đáo giữa Phật giáo, truyền thuyết tình duyên và ký ức đô thị Thăng Long xưa.
Kiến trúc và cảnh quan
Chùa Cầu Đông hiện nay là một quần thể kiến trúc quay mặt về hướng Đông, nhìn ra bờ sông Hồng. Tam quan nằm sát phố Hàng Đường, được xây dựng bằng gạch và bê tông cốt thép, kết hợp hài hòa yếu tố hiện đại và truyền thống. Nhờ mái vòm lợp ngói mũi hài, đầu đao cong mềm mại, bờ nóc trang trí hoa văn cách điệu, công trình đã khéo léo xóa đi cảm giác thô cứng của vôi vữa, tạo sự uyển chuyển đặc trưng của kiến trúc tôn giáo. Trên hai trụ cổng có đắp nổi câu đối chữ Hán ca ngợi công đức Phật, gợi dấu ấn linh thiêng ngay từ lối vào.
Khu nội điện chính được bố cục theo hình chữ “Công” với ba tòa nhà nối tiếp nhau: Tiền đường – Thiêu hương – Thượng điện. Đây là mô thức quen thuộc của các chùa Bắc Bộ, thể hiện quan niệm tiến dần từ phàm tục đến thánh giới. Vì diện tích hạn chế của phố cổ, các cột cái thường được thiết kế theo lối “cột trốn” giấu trong tường, vừa tiết kiệm không gian vừa tạo sự thoáng đãng. Hệ thống khung gỗ sử dụng hai dạng chính: vì kèo truyền thống và giá chiêng biến thể. Các cấu kiện gỗ đều được soi gờ, kẻ chỉ nhẹ nhàng; các bộ phận như quá giang, đầu dư, ván mê chạm hoa văn lá đề, cánh sen, dây leo hay chữ Hán cát tường như “Thọ”, “Phúc”, “Vạn”, tạo cảm giác thanh thoát, tinh tế.
Về nghệ thuật trang trí, điểm tập trung nhiều nhất là gian Thiêu hương, nơi chuyển tiếp giữa Tiền đường và Thượng điện. Tại đây, vì kèo, cốn, ván mê được chạm khắc công phu với đề tài rồng vờn mây, hổ phù, hoa lá hóa long. Kỹ thuật chạm bong kênh, chạm lộng làm nổi rõ phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, ưa chuộng sự cân xứng, đối xứng và các hình tượng long linh nhằm tôn vinh uy nghi của Phật điện. Thượng điện, gian trong cùng, là nơi an trí các pho tượng Phật chính, có kết cấu mái chồng diêm, trần lợp ván mê, đầu kèo trang trí rồng phượng, tạo không gian tôn nghiêm, linh thiêng.
Một yếu tố đặc biệt trong tổng thể là sự hiện diện của đình Đức Môn, công trình phụ thờ thần nằm bên trái chùa và có chung vách với kiến trúc chính. Đình xây theo dạng “nhà ống” đô thị, gồm ba tòa nhà liên tiếp, mỗi tòa ba gian. Tuy có vì kèo gỗ để tạo dáng truyền thống, nhưng phần chịu lực chính là trụ gạch và hệ tường bao, phản ánh sự giản lược và tính thực dụng của kiến trúc muộn trong bối cảnh đô thị chật hẹp. Đình thờ Ngô Văn Long, một vị tướng thời Hùng Vương, gắn liền với tín ngưỡng bản địa lâu đời.
Sự gắn bó song hành giữa chùa Cầu Đông và đình Đức Môn đã hình thành một quần thể kiến trúc khép kín theo mô thức “nội công ngoại quốc” – kiểu dáng thường thấy ở các chùa lớn đồng bằng Bắc Bộ. Trong lòng khu phố sầm uất, quần thể này tạo nên một khoảng lặng linh thiêng, nơi Phật tử và nhân dân tìm đến để chiêm bái, thắp hương, tìm lại sự tĩnh tâm giữa nhịp sống bộn bề. Dù quy mô đã thu hẹp nhiều so với cảnh quan xưa được bia ký mô tả “Chùa Đông Môn đẹp như cảnh tiên, dải sông Nhị phô bày trước mắt, thành Thăng Long dăng khắp sau lưng…” (bia Đông Môn tự, Dương Hòa 5 – 1639), chùa vẫn giữ được nét uy nghiêm và không gian thanh tịnh của chốn cửa thiền, góp phần bảo lưu di sản kiến trúc – văn hóa Thăng Long xưa.
Hiện vật
Chùa Cầu Đông là nơi lưu giữ một hệ thống di vật phong phú, quý giá, có giá trị lớn trong nghiên cứu lịch sử nghệ thuật và không gian địa lý Thăng Long xưa.
Hệ thống tượng thờ (gần 60 pho tượng gỗ, TK XVII – XIX)
- Bộ Tam Thế: Ba pho tượng quý hiếm, tạc vào nửa đầu thế kỷ XVIII, mang phong cách tiêu biểu của tượng Phật Việt Nam TK XVII – XVIII, với anh lạc và gương mặt mềm mại, thanh tú.
- Tượng Tuyết Sơn: Hình dáng thanh thoát, tương đồng với tượng ở chùa Tây Phương, chùa Bà Nành, thuộc loại quý hiếm trong nghệ thuật điêu khắc.
- Tượng Di Lặc: Kích thước gần bằng người thật, bụng phệ, nụ cười hoan hỷ, biểu trưng cho sự viên mãn.
- Các tượng khác: Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Thích Ca sơ sinh, Quan Âm Nam Hải (cuối TK XVII – đầu XVIII),…
- Tượng Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung: Hai pho tượng gỗ giản dị, cổ kính, niên đại nửa đầu TK XVIII, độc đáo vì chùa Cầu Đông là nơi duy nhất ở Hà Nội thờ cặp tượng này.
Di vật Hán Nôm (bia đá, chuông đồng)
- Bia đá cổ: 4 tấm bia phản ánh quá trình trùng tu và mở rộng chùa.
- 1 bia đề Đông Môn tự ký, năm Vĩnh Tộ 6 (1624), ghi việc mở rộng chùa, xác định vị trí phía Đông Hoàng thành.
- 1 bia khắc năm Dương Hòa 5 (1639), mô tả cảnh chùa “đẹp như cảnh tiên”.
- 1 bia khắc năm Vĩnh Thịnh 8 (1712).
- 1 bia khắc năm Gia Long 16 (1817).
- Chuông đồng: Quả chuông Đông Môn tự chung đúc năm Cảnh Thịnh 8 (1800), thời Tây Sơn. Minh văn khắc trên chuông xác định rõ vị trí chùa gắn với cầu đá phía Đông, sông Tô và Cửa Hoa của Thăng Long.
Hoành phi – câu đối, cửa võng
- Hoành phi – câu đối: Nhiều bức sơn son thếp vàng thời Nguyễn, với nội dung ca ngợi công đức Tam bảo và sự hưng thịnh của Phật pháp.
- Cửa võng: Bố trí tại tiền đường và thượng điện, chạm khắc rồng phượng, mây lửa, thể hiện phong cách mỹ thuật thế kỷ XIX, vừa trang nghiêm vừa rực rỡ.
Sự kiện và lễ hội
Chùa Cầu Đông là một ngôi chùa cổ thuộc thiền phái Tào Động, giữ vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo và tín ngưỡng của cư dân phố cổ Hà Nội. Hằng năm, chùa tổ chức đầy đủ các đại lễ Phật giáo như Rằm tháng Giêng, lễ Phật Đản (15/4 âm lịch) với các nghi thức tụng kinh, dâng hương, tắm Phật, đăng đàn chẩn tế, cúng dường trai tăng và pháp thoại, lễ Vu Lan (15/7 âm lịch) hay Rằm tháng Chạp, tạo không gian để Phật tử hướng về Tam bảo, cầu nguyện quốc thái dân an, gia đình bình an, tổ tiên siêu sinh tịnh độ. Song song với sinh hoạt Phật giáo, chùa còn gắn bó mật thiết với tín ngưỡng dân gian qua việc thờ Mẫu và các vị thần bản địa; vào ngày mùng Một, ngày Rằm hay dịp vía Thánh Mẫu Liễu Hạnh, đông đảo nhân dân đến dâng hương, cầu an, thậm chí thực hành các nghi thức trình đồng, mở phủ theo truyền thống thờ Tứ phủ. Vào dịp đầu năm, chùa trở thành điểm xin lộc cầu may, hái lộc đầu xuân quen thuộc, đồng thời thường xuyên tổ chức lễ cầu siêu, cầu an, lễ báo hiếu và kỷ niệm ngày viên tịch của các vị Tổ sư. Không chỉ là không gian tín ngưỡng, chùa Cầu Đông còn là một di tích cách mạng tiêu biểu giữa lòng phố cổ: trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây từng là cơ sở bí mật của Mặt trận Việt Minh, che giấu cán bộ, cất giữ tài liệu và tổ chức các cuộc họp quan trọng; dấu tích cửa hầm bí mật dưới ban thờ Mẫu hiện vẫn còn như một chứng tích lịch sử. Đặc biệt, chùa là nơi duy nhất tại Hà Nội thờ Thái sư Trần Thủ Độ và phu nhân Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung; hai pho tượng gỗ mộc mạc, cổ kính được nhiều Phật tử và du khách thành kính chiêm bái, gắn với truyền thuyết Linh Từ Quốc mẫu từng cho trùng tu chùa dưới triều Trần, dù nguồn gốc thực sự của hai pho tượng đến nay vẫn còn là một bí ẩn, góp phần tạo nên sức hấp dẫn riêng cho di tích.
Xếp hạng
Bên cạnh những giá trị văn hóa và lịch sử đặc sắc, chùa Cầu Đông còn mang ý nghĩa của một di tích cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi đây từng là cơ sở bí mật của Mặt trận Việt Minh, che giấu cán bộ và lưu giữ tài liệu quan trọng; đến nay, dưới ban thờ Mẫu vẫn còn dấu tích một cửa hầm bí mật, minh chứng sống động cho vai trò lịch sử ấy. Với những giá trị tiêu biểu về tôn giáo, tín ngưỡng, kiến trúc, nghệ thuật và cách mạng, năm 1989, chùa Cầu Đông cùng với đình Đức Môn đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.
Tham khảo
- Hệ thống văn bia chùa Cầu Đông.
- Phạm Thu Hằng, Chùa Cầu Đông – Một di tích quan trọng góp phần xác định vị trí Hoàng Thành Thăng Long, Thánh địa Việt Nam học, đăng tải ngày 31/08/2020.
- Thủy Hương (2024), Chùa Cầu Đông, Nhịp sống Hà Nội Online, đăng tải ngày 16/03/2024.
- Nguyễn Thế Long, Phạm Mai Hùng (2005), Chùa Hà Nội, Nxb Văn hóa – Thông tin.
- Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh (2009), Các Thành hoàng & Tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội, Nxb Lao động.
- Quản lý Danh thắng Di tích Hà Nội (2000), Di tích lịch sử – Văn hóa Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia.
- Tiểu Vũ, Bí ẩn xung quanh hai pho tượng trong ngôi chùa Cầu Đông, Báo điện tử Pháp luật Việt Nam, đăng tải ngày 6/10/2020.
__________________________
Các ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Dong Mon Pagoda, an ancient and revered temple situated in the bustling streets of Hang Duong, Hoan Kiem district, Hanoi, is known by the name ‘Dong Mon Tu.’ Noteworthy for its unique characteristics, the temple belongs to the Tao Dong sect, one of the five meditation sects of Vietnamese Buddhism. It has a rich history, dating back to the Ly Dynasty, and is associated with legends about the capital’s relocation from Hoa Lu to Dai La, later renamed Thang Long.
In the temple’s development, historical figures like King Ly Thai To contributed to the construction of unique architectural structures, including Cau Dong Bridge. The bridge, along with the stone Buddha statue known as ‘Little Buddha,’ became iconic features. The temple played a role during periods of French colonial rule and the resistance against foreign forces, acting as a revolutionary base with secret tunnels.
Dong Mon Pagoda, under the Tao Dong sect, not only venerates the Buddha but also honors Tran Thu Do and Linh Tu Quoc Mau Tran Thi Dung. Renowned for its architecture, the temple underwent renovations in the 20th century while preserving its Nguyen dynasty style.
The temple boasts nearly 60 Buddha statues, including three ancient Tam The statues symbolizing the past, present, and future. Special statues like the Snow Mountain and Laughing Buddha add uniqueness to the Buddha hall.
Despite facing challenges over centuries, Cau Dong Pagoda remains a sacred place, attracting locals and gaining recognition as a cultural and historical monument. The folk saying, ‘Famous landscapes in Thang Long, The legend of Cau Dong amidst Dong Gate, Khan Mountain, To River, Nhip Bridge, and Bac Dao vividly portray the essence of the Meditation sect,’ reflects the temple’s significance.
Tiếng Trung (Chinese)
东门寺,一座坐落在河内喧嚣街道上的古老庙宇,以“东门寺”之名为人所熟知。以其独特特点而备受瞩目,寺庙属于越南佛教五大禅宗之一的道宗。其悠久的历史可追溯到李朝,与关于将首都从昏庐迁至大蓝(后更名为昇龙)的传说相扯上关系。
在寺庙的发展过程中,历史人物如李太祖对建造独特建筑结构(包括东门桥)作出了贡献。这座桥以及被称为“小佛”的石佛雕塑成为标志性的特征。寺庙在法国殖民时期和对抗外国势力的抵抗中发挥了作用,成为一个具有秘密通道的革命基地。
作为道宗的一部分,东门寺不仅尊崇佛陀,还崇敬陈寿渡和灵慈国母陈氏董。以其建筑而闻名,寺庙在20世纪进行了翻新,同时保留了其阮朝的风格。
寺庙拥有近60尊佛像,包括象征过去、现在和未来的三尊古代三世佛像。特殊的雪山和笑佛等雕塑为佛堂增添了独特之处。
尽管经历了几个世纪的风风雨雨,东门寺仍然是一座神圣之地,吸引当地人并因其文化和历史价值而备受认可。一句俗话:“名胜在昇龙,东门传说在东门,江山、河、桥、岳、鬼岛等元素生动地描绘了禅宗的精髓。”表达了寺庙的重要性。
Tiếng Pháp (French)
La Pagode Dong Mon, un temple ancien et vénéré situé dans les rues animées de Hang Duong, dans le district de Hoan Kiem à Hanoï, est connue sous le nom de ‘Dong Mon Tu.’ Remarquable pour ses caractéristiques uniques, le temple appartient à la secte Tao Dong, l’une des cinq sectes de méditation du bouddhisme vietnamien. Il a une histoire riche, remontant à la dynastie Ly, et est associé à des légendes sur le déménagement de la capitale de Hoa Lu à Dai La, plus tard rebaptisée Thang Long.
Dans le développement du temple, des figures historiques comme le roi Ly Thai To ont contribué à la construction de structures architecturales uniques, dont le Pont Cau Dong. Le pont, ainsi que la statue du Bouddha en pierre connue sous le nom de ‘Petit Bouddha’, sont devenus des caractéristiques emblématiques. Le temple a joué un rôle pendant les périodes de domination coloniale française et de résistance contre les forces étrangères, servant de base révolutionnaire avec des tunnels secrets.
La Pagode Dong Mon, sous la secte Tao Dong, ne vénère pas seulement le Bouddha mais rend aussi hommage à Tran Thu Do et Linh Tu Quoc Mau Tran Thi Dung. Renommé pour son architecture, le temple a subi des rénovations au XXe siècle tout en préservant son style de la dynastie Nguyen.
Le temple compte près de 60 statues du Bouddha, dont trois anciennes statues de Tam The symbolisant le passé, le présent et l’avenir. Des statues spéciales comme celle de la Montagne de Neige et du Bouddha Rieur ajoutent une touche unique à la salle du Bouddha.
Malgré les défis au fil des siècles, la Pagode Dong Mon demeure un lieu sacré, attirant les habitants et recevant une reconnaissance en tant que monument culturel et historique. Le dicton populaire, ‘Paysages célèbres à Thang Long, La légende de Cau Dong au milieu de la Porte Dong, de la Montagne Khan, de la Rivière To, du Pont Nhip et de Bac Dao, illustre vivement l’essence de la secte de la méditation.