Chùa Chi Đông (Phúc Long Tự – Mê Linh, Hà Nội)

Chùa Chi Đông (Phúc Long Tự – Mê Linh, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Chi Đông, tên chữ là Phúc Long tự, tọa lạc tại thị trấn Chi Đông, huyện Mê Linh, Hà Nội (nay là xã Quang Minh, Thành phố Hà Nội). Chùa được xây dựng ở khu đất giáp đền Chi Đông, tạo thành một quần thể di tích Quốc gia đền – chùa Chi Đông. 

Lịch sử và nhân vật

Hiện nay, chưa có cứ liệu xác định chính xác thời gian khởi dựng chùa. Tuy nhiên, căn cứ vào tấm bia cổ nhất hiện còn được lưu giữ tại chùa là Hưng Phúc Đức / Hậu Phật Thần / Thạch bi ký/ Vĩnh Bảo Tường niên hiệu Chính Hoà thứ 14 (1693) được biết năm ấy có một vị Ty lễ giám họ Đỗ, người Chi Đông và cúng tiền để tu sửa chùa và được thờ làm Hậu Phật. Vậy, chắc hẳn chùa đã được xây dựng từ trước niên hiệu Chính Hoà khá lâu để mà bị xuống cấp phải trùng tu tôn tạo.

Tấm bia Phúc Long tự phối đình bi ký niên hiệu Tự Đức thứ 20 (1867) chép rằng vào năm Định Mão, Tăng trụ trì Pháp Huy thấy cảnh chùa thê lương, trải mưa gió, nhưng vì việc sửa tốn nhiều chi phí, một mình trụ trì không đảm hết được, cho nên ngài đã khuyết phát các cư sỹ nữ tự xuất gia tư, mỗi người cổ tiền 12 quan để làm nhu phí trùng tu, lại mỗi người cúng ruộng tốt một sào để lo việc hương hỏa.

Năm 2000, sư trụ trì là Thượng tọa Thích Thanh Duệ đã cùng nhân dân Phật tử phát tâm công đức xây dựng Nhà Tổ của chùa. Năm 2010, xây dựng cổng Tam Quan của chùa. Giai đoạn 2010 – 2016, trùng tu, tôn tạo đền, chùa Chi Đông.

Thế hệ các sư trụ trì

  1. Tăng tự Pháp Huy trụ trì chùa vào trước sau năm 1867.
  2. Năm 2000: Sư Tổ Thích Thanh Duệ.
  3. Đương kim trụ trì: Thích Thanh Không, Ủy viên Ban Trị sự khóa VI Thành hội Phật giáo Hà Nội.

Bên cạnh đó, ở chùa Chi Đông từng có nhiều vị sư Tổ ở các chùa lân cận đến trông nom và tu tập, góp phần duy trì sinh hoạt tín ngưỡng, gồm:

  1. Thích Tâm Đồng, húy nhật ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch.
  2. Ni sư Thích Đàm Hân, húy nhật ngày 12 tháng Chạp âm lịch.
  3. Pháp húy Trịnh Tính, hiệu Đàm Thanh Giác Linh (1881 – 1962).
  4. Thích Hạnh Nguyên, đạo hiệu Viên Minh Giác Linh Thiền Tọa Hạ (1948 – 2017).
  5. Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hào, pháp hiệu Tuấn Đức, sinh năm 1914, thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chứng minh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Ninh Bình. 

Kiến trúc và cảnh quan

hùa được khởi dựng vào thời Hậu Lê, dưới niên hiệu Chính Hòa thứ 14 (1693), với quy mô gồm Tam quan hai tầng tám mái, chùa chính, nhà Tổ và hệ thống hành lang tả – hữu. Trải qua biến thiên thời gian, hiện nay chùa Chi Đông vẫn còn bảo tồn được chùa chính và nhà Tổ khá bề thế, vững chãi. Chùa chính gồm tòa Tiền đường 9 gian liên kết với Thượng điện 5 gian theo bố cục hình chữ “đỉnh”, tạo nên không gian thờ tự cân xứng, hài hòa. Mái chùa được thiết kế theo kiểu chồng diêm ba tầng tám mái; riêng phần hai mái đầu hồi được làm nhỏ và cao hơn mái Tiền đường để tạo thành lầu chuông và gác trống, tăng thêm vẻ uy nghi của toàn bộ công trình.

Nhà Tổ nằm phía bên trái chùa, gồm 7 gian tạo dáng “chuôi vồ”, xây dựng theo lối “chồng bốn, kẻ truyền”, hệ thống cột kèo chắc khỏe, thể hiện kỹ thuật mộc truyền thống điêu luyện. Các cấu kiện gỗ trong chùa đều thuộc nhóm gỗ quý, được xử lý và lắp ghép theo kỹ thuật mộng sàm chuẩn mực, góp phần bảo đảm sự bền vững lâu dài cho kiến trúc.

Nghệ thuật điêu khắc ở chùa Chi Đông đặc biệt phong phú và tinh xảo. Trên các kẻ, bẩy, dép hoành, kẻ đệm đòn tay đều khắc họa các mô típ trang trí đa dạng như hoa lá, vân xoắn, chữ triện, cùng các linh vật phượng, ly, long, mã. Nhiều tác phẩm còn lại đến ngày nay là sản phẩm của các nghệ nhân dân gian tài hoa, thể hiện trình độ nghệ thuật cao, tiêu biểu như các con nách tại Tiền đường và các bức cốn hai bên Thượng điện chạm các đề tài long – ly – quy – phượng, mai – điểu, tùng – lộc… sống động, sinh khí. Những bức cốn này được đánh giá là những tác phẩm xuất sắc của nghệ thuật chạm khắc gỗ dân gian, mang giá trị thẩm mỹ và lịch sử đặc biệt1.

Hiện vật

Chùa Chi Đông hiện còn lưu giữ một hệ thống tượng pháp có giá trị nghệ thuật cao, gồm 13 pho tượng được tạo tác chủ yếu từ gỗ và đất luyện, mang đậm phong cách điêu khắc truyền thống. Tại Tiền Đường an trí 4 pho tượng theo thứ tự từ trái sang phải gồm: tượng Đức Ông, đôi tượng Hộ pháp Khuyến Thiện – Trừng Ác và tượng Thánh Tăng. Lên đến Thượng Điện là 6 pho tượng bày theo từng cấp uy nghi, gồm bộ Di Đà Tam Tôn, tượng Quan Âm Nam Hải, tượng Ngọc Hoàng và tượng Đức Thích Ca cưỡi long. Mỗi pho tượng đều được tạo hình công phu, đường nét mềm mại và trang phục, hàm diện thể hiện sinh động thần thái tôn nghiêm của chư vị, góp phần tôn thêm không gian linh thiêng của ngôi cổ tự2

Ngoài hệ thống tượng phong phú, chùa Chi Đông còn giữ hệ thống 10 văn bia:

– Bia Hưng Phúc Đức / Hậu Phật Thần / Thạch bi ký/ Vĩnh Bảo Tường niên hiệu Chính Hoà thứ 14 (1693).

– Bia Phúc Long tự phối đình bi ký niên hiệu Tự Đức thứ 20 (1867).

– Bia Hậu hạng bi ký niên hiệu Tự Đức 25 (1872).

– Bia Thành Thái thứ 6 (1894).

–  Bia niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930).

– bia Phúc Long tự hậu bi ghi việc trùng tu chùa năm Thiệu Trị – niên hiệu Bảo Đại thứ 6 (1931).

– Bia Cảnh Linh bi ký niên hiệu Bảo Đại thứ 13 (1938).

– 3 bia niên hiệu Tự Đức.

Ngoài ra chùa còn bảo lưu được một số chân đá thời Lê Trung Hưng, một số hoành phi – câu đối triều Nguyễn và 1 quả chuông niên hiệu Gia Long thứ 13 (1814).

Chú thích

  1. Lưu Minh Trị (Chủ biên), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 1, Nxb Hà Nội, 2011, tr 353 – 354.
  2. Lưu Minh Trị (Chủ biên), Hà Nội danh thắng và di tích, Sđd, tr. 354.

Xếp hạng

Chùa Chi Đông được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1993.

Tài liệu tham khảo

  1. Hệ thống văn bia chùa Chi Đông. 
  2. Lê Thị Lý (2023), Quản lý Di tích Quốc gia Đền – Chùa Chi Đông tại thị trấn Chi Đông, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, Tóm tắt luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương. 
  3. Vũ Văn Quân (Chủ biên) (2021), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 9, Nxb Hà Nội.
  4. Lưu Minh Trị (Chủ biên) (2011), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 1, Nxb Hà Nội.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

General Information – Name and Location

Chi Dong Pagoda, formally known as Phuc Long Tu, is located in Chi Dong town, Me Linh district, Hanoi (now Quang Minh commune, Hanoi City). The pagoda is built on the land adjacent to Chi Dong Temple, forming a unified national relic complex of Chi Dong Temple – Pagoda.

History and Figures

At present, no definitive evidence confirms the exact founding date of the pagoda. However, based on the oldest surviving stele preserved at the site — Hung Phuc Duc / Hau Phat Than / Thach bi ky / Vinh Bao Tuong, dated to the 14th year of the Chinh Hoa era (1693) — it is recorded that in that year, a court official from the Ty Le Giam named Do, a native of Chi Dong, donated funds to repair the pagoda and was worshiped as a Hau Phat. This suggests that the pagoda must have been constructed long before the Chinh Hoa era to have deteriorated and required restoration by then.

Another stele, Phuc Long Tu Phoi Dinh bi ky, dated to the 20th year of the Tu Duc era (1867), records that in the Year of Dinh Mao, the resident monk Phap Huy, seeing the pagoda in a desolate state after long exposure to the elements, sought restoration. Because the cost was too great for one monk to bear, he appealed to local lay devotees, each of whom contributed 12 quan for renovation expenses and donated one sao of good farmland for ritual maintenance.

In the year 2000, under the leadership of the resident monk, Venerable Thich Thanh Due, together with local Buddhists, the ancestral hall of the pagoda was built through collective merit-making. In 2010, the three-entrance gate (Tam Quan) was constructed. From 2010 to 2016, Chi Dong Temple–Pagoda underwent comprehensive restoration and embellishment.

Lineage of Resident Monks

  • Monk Phap Huy served as abbot around the time of 1867.

  • 2000: The ancestral abbot was Venerable Thich Thanh Due.

  • Current abbot: Thich Thanh Khong, Member of the Sixth Executive Council of the Hanoi Buddhist Sangha.

Additionally, Chi Dong Pagoda has long been supported by many elder monks from neighboring temples, who came to oversee cultivation and maintain religious practices. These include:

  • Thich Tam Dong, memorial day on the 2nd day of the 2nd lunar month.

  • Bhikkhuni Thich Dam Han, memorial day on the 12th day of the 12th lunar month.

  • Dharma name Trinh Tinh, title Dam Thanh Giac Linh (1881–1962).

  • Thich Hanh Nguyen, dharma title Vien Minh Giac Linh Thien Toa Ha (1948–2017).

  • Most Venerable Thich Thanh Hao, dharma name Tuan Duc, born in 1914, Member of the Supreme Dharma Council of the Vietnam Buddhist Sangha; Patron of the Buddhist Executive Council of Ninh Binh Province.

Architecture and Landscape

Chi Dong Pagoda was originally constructed during the Later Le dynasty, under the 14th year of the Chinh Hoa era (1693), with a layout including a two-story, eight-roof Tam Quan gate, the main pagoda, the ancestral hall, and left–right corridors. Despite the passage of time, the main pagoda and the ancestral hall remain imposing and structurally sound.

The main pagoda consists of a nine-bay Fore Hall (Tien Duong) connected to a five-bay Upper Hall (Thuong Dien) arranged in a “dinh”-shaped ground plan, creating a balanced, harmonious worship space. The roof is built in the traditional three-tiered, eight-eaved chong diem style; the two end-gables are smaller and higher than the Tien Duong, forming a bell tower and drum loft that enhance the solemn appearance of the structure.

The ancestral hall, located to the left of the pagoda, comprises seven bays in the “chuoi vo” (mallet-shaped) layout, built according to the chong bon – ke truyen system. Its structural beams and columns demonstrate refined traditional carpentry. All wooden components are made from precious timber groups, meticulously joined using standard mortise-and-tenon techniques, ensuring long-term durability.

The woodcarving art at Chi Dong Pagoda is particularly rich and sophisticated. Brackets, beams, tie-beams, and purlin supports are decorated with motifs such as floral patterns, spiral clouds, seal-script characters, and sacred animals including phoenix, kylin, dragon, and horse. Many surviving artworks were created by highly skilled folk artisans. Notable examples include the richly carved bracket-figures in the Fore Hall and the panel carvings in the Upper Hall depicting themes such as dragon–kylin–tortoise–phoenix, plum–bird, and pine–deer. These works are considered outstanding examples of traditional Vietnamese wooden sculpture.

Antiquities

Chi Dong Pagoda preserves an extensive system of sculptures of high artistic value, comprising 13 statues made primarily of wood and lacquered clay in traditional style.

In the Fore Hall, four statues are arranged from left to right: the statue of Duc Ong, the pair of Dharma Guardians Khuyen Thien – Trung Ac, and the Holy Monk.

In the Upper Hall, six statues are arranged in hierarchical order, including the Amitabha Trinity (Di Da Tam Ton), the Bodhisattva Quan Am Nam Hai, the Jade Emperor, and the statue of Shakyamuni Buddha riding a dragon. Each statue is meticulously crafted, with soft lines and expressive features that convey the solemn and sacred presence of the deities.

In addition to the sculpture system, the pagoda also preserves ten stone steles:

  • Hung Phuc Duc / Hau Phat Than / Thach bi ky / Vinh Bao Tuong, Chinh Hoa 14 (1693)

  • Phuc Long Tu Phoi Dinh bi ky, Tu Duc 20 (1867)

  • Hau Hang bi ky, Tu Duc 25 (1872)

  • Stele dated to the 6th year of Thanh Thai (1894)

  • Stele dated to the 5th year of Bao Dai (1930)

  • Phuc Long Tu Hau bi recording the restoration under Thieu Tri – Bao Dai 6 (1931)

  • Canh Linh bi ky, Bao Dai 13 (1938)

  • Three steles from the Tu Duc era

The pagoda also preserves several stone-base elements from the Le Trung Hung period, Nguyen-dynasty horizontal boards and couplets, and a bronze bell dated to the 13th year of Gia Long (1814).

Veneration and Recognition

Chi Dong Pagoda was designated as a National Architectural and Artistic Relic by the Ministry of Culture and Information in 1993.

Notes

[1] Luu Minh Tri (Chief Editor), Ha Noi danh thang va di tich, Vol. 1, Hanoi Publishing House, 2011, pp. 353–354.

[2] Luu Minh Tri (Chief Editor), Ha Noi danh thang va di tich, ibid., p. 354.

References

  1. Hệ thống văn bia chùa Chi Đông. 
  2. Lê Thị Lý (2023), Quản lý Di tích Quốc gia Đền – Chùa Chi Đông tại thị trấn Chi Đông, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, Tóm tắt luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương. 
  3. Vũ Văn Quân (Chủ biên) (2021), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 9, Nxb Hà Nội.
  4. Lưu Minh Trị (Chủ biên) (2011), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 1, Nxb Hà Nội.

Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

池东寺(Phuc Long tu),字号为福龙寺,位于池东镇(Chi Dong)、麋泠县(Me Linh)、河内市(Ha Noi)(今属光明社(Quang Minh)、河内市)。寺院建于与池东祠(Chi Dong)相邻之地,构成国家级池东祠—寺遗迹群。

历史与人物

目前尚无确切史料可确定寺院初建年代。然而,根据寺中现存最早碑刻——《兴福德后佛神石碑记》(Hưng Phúc Đức / Hậu Phật Thần / Thạch bi ký),署永保祥(Vinh Bao Tuong)、正和十四年(1693),可知当年池东人、隶属司礼监之**杜氏(Đo)**捐资修寺,并被奉为“后佛”。由此推断,寺院必在正和年间之前已建成相当久远,因年久失修而需重建。

《福龙寺配亭碑记》(Phuc Long tu phoi dinh bi ky)署嗣德二十年(1867)记载:值丁卯年,住持僧**法辉(Phap Huy)**见寺院荒凉凋敝,经风雨摧折,而修葺费用浩繁,一己难以承担,遂劝化诸女居士自愿出资,每人捐银十二贯以充修缮之费,并各施良田一畦以供香火。

2000 年,住持**上座释清叠(Thich Thanh Due)**与信众共同发心兴建寺内祖堂。2010 年,修建山门三关。2010—2016 年间,陆续对池东祠、池东寺进行修复与整饰。

住持世系

  • 法辉(Phap Huy):约于嗣德二十年(1867)前后住持本寺。

  • 2000 年:祖师释清叠(Thich Thanh Due)。

  • 现任住持:释清空(Thich Thanh Khong),河内市佛教会第六届理事会委员。

此外,池东寺曾有多位来自邻近寺院之祖师驻锡护持,维系信仰生活,包括:

  • 释心同(Thich Tam Dong):忌日农历二月初二。

  • 尼师释曇欣(Thich Dam Han):忌日农历十二月十二日。

  • 法讳郑性(Trinh Tinh),号曇清觉灵(Dam Thanh Giac Linh)(1881–1962)。

  • 释行源(Thich Hanh Nguyen),道号圆明觉灵禅座下(Vien Minh Giac Linh Thien Toa Ha)(1948–2017)。

  • 大老和上释清豪(Thich Thanh Hao),法号俊德(Tuan Duc),生于1914年,越南佛教中央证 minh hội成员,宁平省佛教会证 minh 委员。

建筑与景观

池东寺肇建于后黎时期,约在正和十四年(1693),规模包括两层八屋顶山门(三关)、大殿、祖堂及左右廊庑。历经沧桑,今寺仍保存规模宏阔之大殿与祖堂。

大殿由前殿九间与上殿五间以“鼎”字形格局相连,空间均衡肃穆。殿顶采用三层八角重檐式;两侧山墙屋顶高而小,上建钟楼与鼓阁,更显庄严。

祖堂位于寺之左侧,七间,呈“锤柄形(chuôi vồ)”,采用“重四、枿传”结构(即传统木架体系),柱梁雄健,木构精湛。所用木料皆为名贵之材,经榫卯严整,坚固耐久。

雕刻艺术尤为丰富精细。梁、拱、檐枋、斗拱处镌饰花叶、云纹、篆书及凤凰、麒麟、龙、马等灵兽。前殿之拱肘及上殿两侧之透雕版,刻有龙—麟—龟—凤、梅—鸟、松—鹿等题材,生动精妙,被视为越南民间木刻艺术中的杰作,具有重要美学与历史价值[1]。

文物

池东寺现存十三尊雕像,材质为木与熟土,皆具传统风格。

前殿安置四尊:

  • 帝翁像

  • 护法劝善、惩恶二像

  • 圣僧像

上殿则陈列六尊:

  • 阿弥陀三尊

  • 观音南海像

  • 玉皇像

  • 释迦骑龙像

诸像形制精工,线条柔和,衣饰与神态皆生动庄严,为古刹增添肃穆法相[2]。

寺内另存十通碑刻:

  • 《兴福德后佛神石碑记》,正和十四年(1693)

  • 《福龙寺配亭碑记》,嗣德二十年(1867)

  • 《后项碑记》,嗣德二十五年(1872)

  • 成泰六年(1894)碑

  • 保大五年(1930)碑

  • 《福龙寺后碑》(记载绍治至保大六年〔1931〕重修事)

  • 《景灵碑记》,保大十三年(1938)碑

  • 另三通嗣德年间碑刻

此外尚保存黎中兴时期石础若干,阮朝匾额与楹联数件,以及一口**嘉隆十三年(1814)**古钟。

注释

[1] 刘明治(主编),《河内名胜与遗迹》第一册,河内出版社,2011 年,第 353–354 页。

[2] 刘明治(主编),《河内名胜与遗迹》,同上,第 354 页。

等级评定

池东寺于 1993 年被越南文化与信息部认定为建筑艺术类国家级遗迹

参考文献

  1. Hệ thống văn bia chùa Chi Đông. 
  2. Lê Thị Lý (2023), Quản lý Di tích Quốc gia Đền – Chùa Chi Đông tại thị trấn Chi Đông, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, Tóm tắt luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương. 
  3. Vũ Văn Quân (Chủ biên) (2021), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 9, Nxb Hà Nội.
  4. Lưu Minh Trị (Chủ biên) (2011), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 1, Nxb Hà Nội.

Tiếng Pháp (Français’)

Nom et Localisation géographique

La pagode Chi Dong, dont le nom religieux est Phuc Long tu (Phuc Long tu), est situee dans le bourg Chi Dong, district Me Linh, Hanoi (actuellement commune Quang Minh, Ville de Hanoi). Le temple est construit sur un terrain jouxtant le sanctuaire Chi Dong, formant ainsi un ensemble de vestiges classe au niveau national, comprenant le sanctuaire et la pagode Chi Dong.

Histoire et personnages

A present, aucune source ne permet de determiner avec precision la date de fondation de la pagode. Toutefois, d’apres la stèle la plus ancienne conservee sur le site, intitulee Hung Phuc Duc / Hau Phat Than / Thach bi ky / Vinh Bao Tuong, datant de la 14e annee de l’ere Chinh Hoa (1693), on sait qu’une personnalite du Service des rites, du nom de Do, originaire de Chi Dong, fit don d’argent pour restaurer la pagode et fut honore en tant que Hau Phat. Cela montre que le monument devait avoir ete erige bien avant l’ere Chinh Hoa, puisqu’il avait deja necessite une campagne de restauration.

La stèle Phuc Long tu phoi dinh bi ky datant de la 20e annee de l’ere Tu Duc (1867) rapporte qu’en l’annee Dinh Mao, le moine superieur Phap Huy, voyant l’etat delabre du temple expose aux intemperies et ne pouvant assumer seul les frais considerables des travaux, fit appel aux laïques feminines qui avaient quitte la vie mondaine pour se consacrer a la pratique. Chacune contribua 12 quan pour les depenses de restauration et offrit une parcelle de terre fertile afin d’assurer le culte perpetuel.

En 2000, le moine superieur, le Venerable Thich Thanh Due, ainsi que les fideles bouddhistes, entreprirent la construction de la Maison des Patriarches. En 2010, la porte d’entree Tam Quan fut edifiee. Durant la periode 2010–2016, l’ensemble sanctuaire-pagode Chi Dong fut restaure et valorise.

Generations de religieux responsables

Le moine Phap Huy assura la direction de la pagode aux alentours de 1867.

En 2000 : Maitre fondateur Thich Thanh Due.

Responsable actuel : Thich Thanh Khong, membre du Comite executif (6e mandat) de l’Eglise bouddhique de Hanoi.

Par ailleurs, plusieurs maitres provenant de pagodes voisines vinrent a Chi Dong pour veiller au culte et pratiquer, contribuant ainsi a maintenir les activites religieuses, parmi lesquels :

  • Thich Tam Dong, anniversary memorial le 2e jour du 2e mois lunaire
  • Ni su Thich Dam Han, anniversary memorial le 12e jour du 12e mois lunaire.
  • Phap huy Trinh Tinh, titre honorifique Dam Thanh Giac Linh (1881–1962).
  • Thich Hanh Nguyen, nom religieux Vien Minh Giac Linh Thien Toa Ha (1948–2017).
  • Le Grand Venerable Thich Thanh Hao, titre religieux Tuan Duc, ne en 1914, membre du Conseil de Preuves de l’Eglise bouddhique du Vietnam, Conseiller du Comite bouddhique de la province de Ninh Binh.

Architecture et paysage

La pagode fut fondee sous la dynastie des Le Postérieurs, a la 14e annee de l’ere Chinh Hoa (1693). Son plan general comprenait une porte Tam Quan a deux niveaux et huit toits, le batiment principal, la Maison des Patriarches ainsi qu’un systeme de galeries laterales. Malgre les vicissitudes du temps, la pagode Chi Dong conserve encore aujourd’hui un sanctuaire principal et une Maison des Patriarches imposants et solides. Le batiment principal comprend un Tien duong de neuf travées relie au Thuong dien de cinq travées selon un plan en forme de « dinh », offrant un espace cultuel equilibre et harmonieux. La toiture, composee de trois niveaux superposes et de huit pans, presente a chaque pignon deux toits plus eleves et reduits servant de clocher et de tour du tambour, ce qui renforce la majesté architecturale de l’ensemble.

La Maison des Patriarches, situee a gauche du sanctuaire principal, comprend sept travées construites en forme de « chuoi vo ». Elle est edifiee selon le systeme chong bon, ke truyen avec une charpente robuste, illustrant une maitrise remarquable de la menuiserie traditionnelle. Les elements en bois, appartenant a des essences precieuses, sont assembles selon une technique de tenon-mortaise parfaitement executee, garantissant la durabilite de la structure.

L’art sculptural de la pagode Chi Dong est particulierement riche et raffine. Les consoles, traverses, poutres et supports sont ornes de motifs varies : feuillages, volutes, caracteres decoratifs, ainsi que des animaux mythiques tels que le phenix, le kylin, le dragon et le cheval. De nombreuses œuvres encore preservees aujourd’hui sont l’expression du talent des artisans populaires, notamment les consoles du Tien duong et les panneaux sculptes aux deux cotes du Thuong dien, representant les themes long–ly–quy–phuong, mai–dieul, tung–loc… vivants et pleins d’energie. Ces panneaux sont consideres comme des chefs-d’œuvre de la sculpture traditionnelle sur bois.

Artefacts

La pagode conserve un systeme complet de statues de grande valeur artistique, comprenant 13 sculptures en bois ou en argile fine, typiques de l’art traditionnel. Dans le Tien duong se trouvent quatre statues : Duc Ong, le duo des Gardiens Khuyen Thien – Trung Ac, et le Saint Moine. Au Thuong dien, six statues sont disposees solennellement, dont le trio Amida (Di Da Tam Ton), la statue de Quan Am Nam Hai, celle de Ngoc Hoang ainsi que la statue du Bouddha Sakyamuni chevauchant un dragon. Chacune se distingue par un modelage soigne, des lignes harmonieuses, des costumes et des expressions traduisant la dignite et la serenite des divinites, contribuant a la sacralite du lieu.

Outre les statues, la pagode conserve dix stèles:

  • Stèle Hung Phuc Duc / Hau Phat Than / Thach bi ky / Vinh Bao Tuong, ere Chinh Hoa 14 (1693)
  • Stèle Phuc Long tu phoi dinh bi ky, ere Tu Duc 20 (1867).
  • Stèle Hau hang bi ky, ere Tu Duc 25 (1872).
  • Stèle ere Thanh Thai 6 (1894).
  • Stèle ere Bao Dai 5 (1930).
  • Stèle Phuc Long tu hau bi relatant les restaurations de l’ere Thieu Tri – ere Bao Dai 6 (1931).
  • Stèle Canh Linh bi ky, ere Bao Dai 13 (1938).
  • Trois stèles de l’ere Tu Duc.

La pagode conserve egalement plusieurs bases en pierre datant des Le Trung Hung, des panneaux calligraphiques de l’epoque Nguyen, ainsi qu’une cloche datant de la 13e annee de l’ere Gia Long (1814).

Notes

[1] Luu Minh Tri (Dir.), Ha Noi danh thang va di tich, vol. 1, Ed. Ha Noi, 2011, pp. 353–354.

[2] Luu Minh Tri (Dir.), Ha Noi danh thang va di tich, op. cit., p. 354.

Classement

La pagode Chi Dong a ete classee monument architectural et artistique par le Ministere de la Culture et de l’Information en 1993.

References

  1. Hệ thống văn bia chùa Chi Đông. 
  2. Lê Thị Lý (2023), Quản lý Di tích Quốc gia Đền – Chùa Chi Đông tại thị trấn Chi Đông, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, Tóm tắt luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương. 
  3. Vũ Văn Quân (Chủ biên) (2021), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 9, Nxb Hà Nội.
  4. Lưu Minh Trị (Chủ biên) (2011), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 1, Nxb Hà Nội.

 

Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)