Chùa Hồi Long (Chùa Đá – Quảng Xương, Thanh Hoá)

Chùa Hồi Long (Chùa Đá – Quảng Xương, Thanh Hoá)

Chùa Đá có tên chữ là Hồi Long tự. Chùa tọa lạc trên địa bàn làng Nhân Trung, xã Quảng Nhân, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

Lịch sử

Sách Địa chí huyện Quảng Xương chép về xã Quảng Nhân như sau: các làng xã Quảng Nhân hình thành vào khoảng giữa thế kỷ XV. Thời Nguyễn thuộc hai tổng Thủ Hộ (sau là Thủ Chính) và Thái Lai. Đầu năm 1946 thuộc 3 xã: Tây Hồ, Lê Lợi, An Ninh. Từ năm 1947 thuộc xã Quảng Hải (lớn). Từ năm 1954 chia xã Quảng Hải thành 5 xã thì xã Quảng Nhân được thành lập trên cơ sở 4 làng cũ: làng Nghiêm, làng Sênh, làng Nê Trung, làng Nhân Cựu.

Quảng Nhân nằm về phía Đông của huyện Quảng Xương. Phía bắc giáp xã Quảng Đức và xã Quảng Giao. Phía nam giáp xã Quảng Bình và xã Quảng Lưu. Phía Đông giáp xã Quảng Hải. Phía tây giáp xã Quảng Ninh. Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 6,1km2, với tổng dân số là 6.435 người (2009). Hiện nay xã Quảng Nhân có 6 làng: Nhiệm, Sênh, Nhân Trung, Nhân Bình, Phong Phú, Nhân Hùng.

Nhân Trung là một trong 6 làng của xã Quảng Nhân. Nhân Trung đầu thế kỷ XIX có tên là làng Nê Trung, thuộc tổng Thái Lai. Từ năm 1946 thuộc xã An Ninh, huyện Quảng Xương. Năm 1948 thuộc xã Quảng Ninh. Nay tách ra thành hai làng Nhân Trung và Nhân Bình. Làng Nhân Trung nằm phía tây nam của xã Quảng Nhân. Phía đông và đông nam giáp làng Nhân Hùng (thôn 6); phía tây nam giáp làng Xa Thư, xã Quảng Bình; phía bắc giáp làng Nhân Hùng (thôn 4); phía đông bắc giáp làng phong Phú (thôn 3). Hiện nay làng có nhiều dòng họ sinh sống như: họ Trần Văn, Nguyễn Văn, Nguyễn Hữu, Lê Trọng, Lê Văn, Trần Công, Lê Nguyên, Lê Công, Phạm Văn, Văn Doãn… Theo các cụ cao niên trong làng cho biết trước kia các hộ gia đình sinh sống rải rác ở các khu vườn, trong quá trình phát triển để đáp ứng nhu cầu ăn ở nên phải chia ra nhiều hộ, từ đó các khu vườn được mở mang ngày càng nhiều. Lúc bấy giờ làng có tên gọi là làng Cửa Nẩn – tên gọi đầu tiên của làng. Cửa Nẫn lúc đó bốn bề là đồng nước mênh mông do các dòng nước từ trên cao dồn xuống. Dọc theo các tuyến đường ngoằn ngoèo chạy men theo những cồn đất cao hiện nay vẫn còn tên gọi như vườn Tượng, vườn Lọc, vườn Rảng, vườn Sắn, vườn Vanh, vườn Hồng…Trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, làng là nơi tập kết đóng quân, đặt pháo của các quân đoàn, nơi hội họp của các đồng chí cách mạng, cùng nhân dân cả nước góp sức người sức của vào công cuộc bảo vệ đất nước.

Kiến trúc

Về việc xây dựng chùa đến nay chưa tìm thấy nguồn tài liệu nào ghi chép cụ thể và chính xác. Qua khảo sát thực tế và lời kể của các cụ cao niên trong làng cho biết chùa Đá là một ngôi chùa vô cùng độc đáo, chùa đã được xây dựng từ lâu đời, chùa có kiến trúc hình chữ Đinh (J) toàn bộ kiến trúc chùa được dựng bằng những phiến đá lớn, trong chùa có nhiều tượng Phật bằng đá, bát hương đá, ngoài cửa có hai tượng hộ pháp cao 2m, 2 con ngựa đá to hơn ngựa thật, hai con hổ đá ngồi chầu hai bên to như hai con hổ thật,… Ngoài vườn còn có một cái giếng trong xanh sâu tới hai chiếc thừng, rộng đến hơn chục mét xây toàn bằng đá hộc xanh phải vài người vác mới nổi một hòn, nằm im lìm dưới tán cây sanh cổ thụ to bằng mấy người ôm. Toàn bộ ngôi chùa trước kia nằm trên một vùng đất rộng chiếm gần hết xóm chùa bây giờ, diện tích ước khoảng bốn năm mẫu. Trải qua thời gian dài dưới sự hủy hoại của thiên nhiên và nhiều biến thiên của lịch sử, Tiền đường của chùa đã bị phá dỡ vào những năm 1962 – 1978, chỉ còn lại phần hậu cung chùa. Đến năm 1995, do nhu cầu tín ngưỡng nhân dân địa phương đã tôn tạo lại mái hậu cung và xây dựng thêm nhà tiền đường tạo nên công trình kiến trúc hình chữ Đinh (J) trên nền móng cũ của chùa với diện tích 200m2.

Chùa Đá được xây dựng theo hướng Tây, theo kiến trúc hình chữ Đinh (J). Từ ngoài vào trong gồm các công trình sau:

Cổng: Cổng chùa hướng Bắc, cổng có chiều dài 15m, chiều rộng 6m, được lát bằng gạch bát đỏ.

Giếng chùa: Nằm bên phải từ ngoài vào, mới được tôn tạo lại. Giếng có đường kính 2,7m; chiều sâu 2,6m; thành giếng dày 12cm; phía dưới được kè bằng đá, thành giếng được tôn tạo lại bằng chất liệu gạch xi măng

Sân: Hình chữ nhật, kích thước chiều dài 6,5m; chiều rộng 6m, được lát bằng gạch bát đỏ 25cm x 25cm.

Nhà Tiền đường: Nằm tiếp giáp với sân chùa, tiền đường có kiến trúc một gian, được làm bằng chất liệu gạch vữa xi măng, phần mái đổ bằng không vì kèo, có kích thước chiều rộng 3,3m; chiều dài 5,7m; nền nhà lát được lát bằng gạch bát đỏ. Nhà được mở 3 cửa ra vào, cửa hình chữ nhật. Cửa giữa có kích thước chiều cao 2,1m; chiều rộng 0,93m; cửa gồm hai cánh làm theo kiểu bức bàn, mỗi cánh có chiều rộng 0,46m. Hai cửa bên có kích thước chiều cao 1,98m; chiều rộng 0,70m; mỗi cửa có một cánh làm gỗ. Mặt trước nhà tiền đường, phía trên cửa giữa có đắp nổi 3 chữ quốc ngữ “Tích thiện đường”. Bên cạnh hai cửa bên đắp hai câu đối bằng chữ Quốc ngữ có nội dung sau:

Tiền đình lan quế hữu dư xuân

Hậu ngoại thảo hoa vô hạn lạc.

Nhà Hậu cung: Được liên kết với nhà tiền đường bằng ba cửa thông gian, cửa giữa có kích thước chiều rộng 1,3m; chiều cao 1,35m, hai cửa bên có kích thước chiều rộng 0,50m; chiều cao 1,35m. Nhà hậu cung có chiều dài 4m, chiều rộng 2,7m, không có hệ thống vì kèo.

Hiện nay, Hậu cung của chùa còn được giữ lại khá nguyên vẹn, ba mặt tường được làm bằng các tảng đá to xếp chồng lên nhau. Do Hậu cung được xây dựng theo kiểu hình ống dọc nên phần đốc phía sau của ngôi nhà này cũng chính là phần tường hậu. Mặt trong của đốc, trên cùng được chạm nổi hình mặt hổ phù, phía dưới chạm nổi bức đại tự gồm ba chữ Hán Hồi Long tự”, dưới cùng là một thanh xà đỡ toàn bộ phần trên được làm bằng đá lớn được trang trí chạm nổi hình lưỡng long chầu mặt nhật. Hai cột đá phía dưới vừa làm nhiệm vụ đỡ xà và phần đốc phía trên vừa làm nhiệm vụ ngăn cách thành 3 cửa ra vào giữa Tiền đường và Hậu cung. Trên thân 2 cột đá được khắc hai câu đối bằng chữ Hán. Phần đốc phía sau cũng được trang trí chạm nổi hình mặt hổ phù. Phần mái do bị hư hỏng nên đã được tôn tạo lại bằng chất liệu bê tông sắt thép.

Bài trí tượng pháp

Do chùa bị phá hủy một phần, một số hiện vật của chùa trong đó có tượng phật bị đem đi nung vôi và những năm gần đây chùa mới được tôn tạo lại nên hệ thống tượng pháp tại đây còn ít. Hiện tại, trong chùa chỉ còn lại bộ tượng Tam Thế bằng đá tọa trên tòa sen. Tượng Tam Thế tượng trưng cho chư Phật thuộc về ba thời: Phật quá khứ là Phật A Di Đà, Phật hiện tại là Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật tương lai là Phật Di Lặc. Tượng Tam Thế là tượng trưng cho tất cả các vị Phật nên được đặt ở nơi cao nhất. Ba pho tượng Tam Thế có kích thước và hình dáng giống nhau, tượng ngồi tọa thiền, mắt nhắm nghiền, tay đặt lòng, tóc hình xoắn ốc, đỉnh đầu có nhục khấu, tai dài, mặt tròn mặt nguyệt.

Trải qua thời gian dài tồn tại, dưới sự hủy hoại của thiên nhiên và con người, một số hiện vật của di tích đã bị thất tán hoặc bị đem đi sử dụng vào các mục đích khác. Tuy nhiên, nhân dân địa phương đã bảo vệ và gìn giữ được một số hiện vật cổ của chùa như: 02 cột đá (cao 1,48m); 01 xà đá (dài 2,7m); 01 khánh đá (dài 1,45m; rộng 53cm; dày 12cm); Bia “Cung tiến bi ký” (cao 1,20m; rộng 65cm); 01 bàn đá (dài 1,8m; rộng 72cm; dày 10cm); 02 con giống đá (cao 75cm; rộng 60cm); 05 cột đá gãy; 02 chân tảng; đá lan giai; 02 đầu bát; 02 hạc đồng; 02 chân nến đồng; 01 lư hương đồng…

Tóm lại, chùa Đá đã bị hủy hoại nhiều bởi những biến cố thăng trầm của lịch sử, cùng với sự biến đổi của thời gian nhưng với một phần công trình kiến trúc và những hiện vật còn lưu giữ được cho đến ngày nay là minh chứng cho sự tồn tại của một ngôi chùa đá vô cùng độc đáo từ xa xưa. Qua đó cho chúng ta thấy sự tồn tại và phát triển của Phật giáo trên mảnh đất này từ rất lâu.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập IV), CN. Lê Ngọc Hà
Chấm điểm
Chia sẻ
eaf8a521bd23787d2132

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Hình ảnh
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926