Chùa Do Nha (An Dương, Hải Phòng)

Chùa Do Nha (An Dương, Hải Phòng)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Làng Do Nha (由牙) theo nghĩa bóng của Hán tự là quê hương sang quý. Làng còn có tên Nôm là làng Ngà, bởi vậy ở nơi đây còn có các địa danh cổ gắn với tên Nôm của làng như: Cống Ngà (cống bắc qua kênh dẫn thủy nhập điền), chợ Ngà, quán Ngà… đến cuối thế kỷ 19 mới đổi thành Do Nha. Chùa Do Nha là một di tích cổ kính thuộc cụm di tích đình – chùa Do Nha; tọa lạc trên một khu đất bằng phẳng, cao ráo, bao bọc xung quanh bởi đường làng tại làng Do Nha, xã Tân Tiến, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. 

Chùa có tên chữ là Triệu Tường (肇祥), nghĩa là Phật khai mở ra những điều tốt đẹp tại nơi đây. Cho đến nay, chùa Do Nha được nhân dân địa phương quen gọi với tên là chùa Ngà. 

Lịch sử và nhân vật

Sách Chùa cổ Hải Phòng, tập 1 cho biết: “Chùa được xây dựng từ đời Trần, có tên chữ là Triệu Tường với ý nghĩa là ánh sáng điềm lành. Theo những văn bia, bút tích của cố Hòa Thượng Kim Cương Tử (Bút tích của Hòa Thượng Kim Cương Tử chùa Trấn Quốc – Hà Nội, 1990), chùa Do Nha được xếp vào danh sách 20 sơn môn ngoại truyền (tức người xuất gia cầu đạo tu ở nơi khác đến). Tục truyền, chùa do Thánh tổ Non Đông, người thôn Dưỡng Mông (làng Muống) thuộc huyện Kim Thành, Hải Dương xây dựng.(1)

Bài viết Đình chùa Do Nha – xã Tân Tiến – huyện An Dương trên website Thành Đoàn Hải Phòng cho biết thêm: “[…] Do Nha được khởi dựng từ thời Hậu Lý, thế kỷ XII – XIII. Thêm căn cứ chứng minh cho điều đó là trong chùa hiện nay còn bảo tồn được bệ hoa sen thờ Phật bằng đá có niên đại thời Lý – Trần, thế kỷ XI – XIII.(2)

Kiến trúc cảnh quan 

Trải qua thăng trầm lịch sử, chùa Do Nha hiện nay là công trình kiến trúc gỗ được xây dựng vào thời Nguyễn, thế kỷ XIX. Trước đây, mặt chính ngôi chùa quay hướng Tây, trong một lần tu tạo chuyển lại chùa quay hướng Nam như hiện nay. Dân làng vẫn còn nhớ rõ và nhắc về sự việc này: “Bính Tý niên tu tạo, Mậu Thìn niên chuyển hướng chùa”.

Chùa có mặt bằng kiến trúc chữ đinh (丁), diện tích 4.714 m2, gồm 5 gian tiền điện và 3 gian thượng điện, mái chảy lợp ngói mũi truyền thống. Tiền điện chùa xây theo thức đầu hồi bít đốc, trụ đấu, tay ngai. Đỉnh giữa bờ nóc đắp trang trí kiểu cuốn thư, trong cuốn thư đắp ba chữ Hán “Triệu Tường tự”(肇祥寺) tên chữ của ngôi chùa, hai đầu bờ nóc đắp kìm. Nối liền với tay ngai ngoài cùng có cột đèn, còn gọi là trụ biểu. Trụ biểu đế đắp hình quả bồng thắt giữa, thân trụ có khung để đắp câu đối, đầu trụ đắp đèn lồng kép, xung quanh mặt đèn lồng đắp tứ linh.,

Hiện vật

Chùa Triệu Tường trải qua hàng ngàn năm với bao đổi thay hưng phế của dân gian nhưng đến nay vẫn gìn giữ được khá nhiều cổ vật có giá trị cao về lịch sử, văn hóa và mỹ thuật, như: tượng pháp, câu đối, đại tự, nhang án, cửa võng… Xin giới thiệu một số cổ vật tiêu biểu của ngôi chùa:

– Bệ hoa sen thờ Phật:

Chất   liệu đá xanh gồm nhiều phiến đá lớn ghép lại với   nhau   qua   hệ   thống mộng. Bệ sen có hình khối hộp và tạo dáng như một đấu lớn thắt ở giữa. Bệ sen có chiều cao 119cm, chiều dài 285cm, chiều rộng 119cm. Phần thắt giữa của bệ sen hình khối hộp chữ nhật, kích thước cao 40cm, dài 239 cm, rộng 75cm. Phần đấu trên sát với mặt bệ sen, xung quanh bốn mặt chạm nổi hai lớp cánh sen nhô hẳn ra ngoài. Lớp cánh sen trên, bên ngoài cánh chạm nổi gờ chỉ uốn lượn tạo móc đầu hình dấu hỏi và lượn theo đường cong của cánh sen. Lớp cánh sen dưới chạm gờ chỉ nổi uốn lượn hình lá đề và cong theo hình cánh sen.

Phần thắt giữa, mặt trước và sau tạo thành ba khung ô hình chữ nhật cân xứng nằm theo chiều dài của bệ sen, ô giữa chạm nổi cụm sen, hai ô bên chạm rồng mây, hình dáng rồng theo kiểu rồng giun (rồng túi), một đặc điểm rồng của thời Lý- Trần.

Phần đấu dưới sát chân bệ sen xung quanh chân bệ sen chạm nổi hoa văn mây tụ, mây tản. Bốn góc phía trên phần thắt giữa của bệ sen chạm nổi hình đầu quỷ dạ xoa trong tư thế đưa hai tay nâng đỡ bệ sen. Bệ sen thờ Phật của chùa Do Nha là tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị của thành phố Hải Phòng (hiện nay có hai quan điểm cho rằng bệ đá của thời Trần, thời Nguyễn).

– Tượng Phật tam thế: Gồm ba pho, đại diện cho thế giới Phật ở ba kiếp: quá khứ, hiện tại và tương lai. Tượng được đặt ở vị trí cao nhất của thượng điện. Tượng Phật được tạc liền cùng với bệ bằng đá nguyên khối. Bệ tượng là tòa sen được chạm nổi rõ những lớp cánh sen, trên cánh sen chạm nổi gờ chỉ hình hoa văn mây cụm. Tượng ngồi trên bệ sen kiểu kiết già, tóc xoắn hình ốc, xiêm y chùng nhiều lớp. Tượng được xác định niên đại thời Mạc, thế kỷ XVI. 

– Đại tự: Gồm 2 bức Đại tự treo gian trung tâm tòa tiền điện được tạo tác theo kiểu cuốn thư bằng gỗ quý. Diềm xung quanh chạm thủng kết hợp với chạm nổi hoa văn tứ quý, phần gấp của hai bên cuốn thư chạm nền gấm. Phần mở rộng lớn giữa cuốn thư nền sơn đỏ, trên nền chạm bốn chữ Hán theo thể triện A Di Đà Phật (阿彌佗佛), một câu danh niệm của nhà Phật được dịch nghĩa là quy y, kính lễ đức Phật A Di Đà. Qua họa tiết hoa văn xác định đại tự được làm cuối thế kỷ XIX.

Đại tự làm bằng gỗ quý, hình chữ nhật, diềm đại tự tạo kiểu vỏ măng, trên diềm chạm hoa văn hoa dây đề tài tứ quý, điểm xuyết có các mảng hoa văn gấm. Đại tự nền đỏ, trên nền chạm nổi 4 chữ Hán lớn sơn màu vàng, phiên âm: Từ đăng bỉ ngạn (慈豋彼岸), nghĩa là sống hiền lành sau này quá cố sẽ đến được nước Phật. Đại tự không đề lạc khoản, nhưng xác định có niên đại tạo tác cuối thế kỷ XIX.

– Thạch trụ: Bằng đá nguyên khối, hình trụ, trên đầu trụ được lắp một khối đá khác hình đấu dáng đài sen. Thạch trụ được dựng niên hiệu Chính Hòa thứ 8 (1687). Thạch trụ khắc ghi những người công đức trùng tu chùa.

– Tượng Phật tam thế: Gồm ba pho, đại diện cho thế giới Phật ở ba kiếp: quá khứ, hiện tại và tương lai. Tượng được đặt ở vị trí cao nhất của thượng điện. Tượng Phật được tạc liền cùng với bệ bằng đá nguyên khối. Bệ tượng là tòa sen được chạm nổi rõ những lớp cánh sen, trên cánh sen chạm nổi gờ chỉ hình hoa văn mây cụm. Tượng ngồi trên bệ sen kiểu kiết già, tóc xoắn hình ốc, xiêm y chùng nhiều lớp. Tượng được xác định niên đại thời Mạc, thế kỷ XVI. 

– Đại tự: Gồm 2 bức Đại tự treo gian trung tâm tòa tiền điện được tạo tác theo kiểu cuốn thư bằng gỗ quý. Diềm xung quanh chạm thủng kết hợp với chạm nổi hoa văn tứ quý, phần gấp của hai bên cuốn thư chạm nền gấm. Phần mở rộng lớn giữa cuốn thư nền sơn đỏ, trên nền chạm bốn chữ Hán theo thể triện A Di Đà Phật (阿彌佗佛), một câu danh niệm của nhà Phật được dịch nghĩa là quy y, kính lễ đức Phật A Di Đà. Qua họa tiết hoa văn xác định đại tự được làm cuối thế kỷ XIX.

Đại tự làm bằng gỗ quý, hình chữ nhật, diềm đại tự tạo kiểu vỏ măng, trên diềm chạm hoa văn hoa dây đề tài tứ quý, điểm xuyết có các mảng hoa văn gấm. Đại tự nền đỏ, trên nền chạm nổi 4 chữ Hán lớn sơn màu vàng, phiên âm: Từ đăng bỉ ngạn (慈豋彼岸), nghĩa là sống hiền lành sau này quá cố sẽ đến được nước Phật. Đại tự không đề lạc khoản, nhưng xác định có niên đại tạo tác cuối thế kỷ XIX.

– Thạch trụ: Bằng đá nguyên khối, hình trụ, trên đầu trụ được lắp một khối đá khác hình đấu dáng đài sen. Thạch trụ được dựng niên hiệu Chính Hòa thứ 8 (1687). Thạch trụ khắc ghi những người công đức trùng tu chùa.

Hiện còn dấu tích của lần trùng tu tôn tạo năm Chính Hòa thứ 2 (1682) là một cây thạch trụ cao 1,55m, dày 0,28m, trang trí dây hoa và khắc niên đại trùng tu tôn tạo chùa cũng như tên

những người công đức xây dựng chùa. Một bia đá khá đặc biệt, diềm trang trí đao lửa, lòng bia tạc tượng chân dung 2 nữ tín chủ họ Nguyễn và họ Đào dày công đức tu tạo chùa. (do phần đế xây xuống nền nên chưa rõ niên đại cụ thể của bia).

Xếp hạng

Chùa Do Nha được xếp hạng Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia năm 2007.

Chú thích

  1. Thích Thanh Giác, Chùa cổ Hải Phòng, tập 1, Nxb Hải Phòng, 2017, tr 28.
  2. Thành đoàn Hải Phòng, Đình chùa Do Nha – xã Tân Tiến – huyện An Dương, Website Đoàn Thanh niên cộng sản TP Hải Phòng, số ra ngày 27/10/2023.

Tham khảo

  1. Thích Thanh Giác (2017), Chùa cổ Hải Phòng, tập 1, Nxb Hải Phòng.
  2. Thành đoàn Hải Phòng, Đình chùa Do Nha – xã Tân Tiến – huyện An Dương, Website Đoàn Thanh niên cộng sản TP Hải Phòng, số ra ngày 27/10/2023.

__________________________

Các ngôn ngữ khác

1. English

Name and geographical location

Do Nha Village (由牙), literally meaning “the noble homeland,” is also known by its folk name “Nga Village.” Hence, old local landmarks still bear that name, such as Cong Nga (the sluice over the irrigation canal), Cho Nga (Nga Market), and Quan Nga (Nga Pavilion). Toward the late 19th century, the official name Do Nha came into use.

Do Nha Pagoda, an ancient structure belonging to the Do Nha communal pagoda-temple complex, is situated on a flat and elevated plot of land surrounded by village roads in Do Nha Village, Tan Tien Commune, An Duong District, Hai Phong City.

The pagoda’s formal name in Sino-Vietnamese is Trieu Tuong Tu (肇祥寺), meaning “the Buddha brings forth auspicious blessings in this place.” Today, local residents still affectionately call it Chua Nga (Nga Pagoda).

History and figures

According to Ancient Pagodas of Hai Phong, Volume I:

“The pagoda was built during the Tran Dynasty, bearing the formal name Trieu Tuong, which signifies auspicious light. Based on stone steles and the writings of the late Venerable Kim Cuong Tu (as recorded in his calligraphy preserved at Tran Quoc Pagoda, Hanoi, 1990), Do Nha Pagoda is listed among the twenty Son Mon Ngoai Truyen—that is, monasteries where monks from other regions came to study and practice. According to legend, it was founded by the sainted patriarch Non Dong, a native of Duong Mong Hamlet (Muong Village), Kim Thanh District, Hai Duong Province.” (1)

The article Dinh–Chua Do Nha, Tan Tien Commune, An Duong District on the Hai Phong Youth Union website adds:

“Do Nha was first established during the Late Ly period, in the 12th–13th centuries. Supporting evidence includes a stone lotus pedestal currently preserved in the pagoda, dating to the Ly–Tran era (11th–13th centuries).” (2)

Architecture and landscape

Through centuries of change, Do Nha Pagoda as seen today was reconstructed during the Nguyen Dynasty (19th century). The pagoda originally faced west, but after one renovation it was reoriented to the south as it stands now. Villagers still recall this event:

“Built in the year of Binh Ty, turned southward in the year of Mau Thin.”

The pagoda follows the traditional Dinh-shaped layout, covering 4,714 m², with a five-bay front hall and a three-bay upper sanctuary roofed with traditional mui tile.

The front hall is built with closed-gable walls (bit doc style), featuring trut dau, tay ngai framing, and a central ridge crest decorated with a scroll-shaped ornament bearing the inscription “肇祥寺” (Trieu Tuong Tu).

Both ridge ends are adorned with kim finials, and lantern columns (tru bieu) flank the outer corners. Each column base is shaped like a tied gourd, the shaft bears carved parallel verses, and the top features double lotus lamps decorated with tu linh (the four sacred beasts).

Artifacts

Over centuries of prosperity and decline, Trieu Tuong Tu has preserved numerous artifacts of high historical, cultural, and artistic value — including statues, parallel sentences, great horizontal boards (dai tu), incense tables, and carved doors. Notable examples include:

Lotus pedestal for Buddha worship:

Made of blue stone, composed of several large slabs joined by mortise-and-tenon joints. The pedestal measures 119 cm high, 285 cm long, and 119 cm wide, narrowing at the middle like an hourglass. The upper part displays two layers of lotus petals carved in relief, with curling tips forming “?”-shaped hooks typical of Ly–Tran aesthetics. The middle band bears reliefs of lotus clusters and “earthworm dragons” (rong tui), a motif characteristic of the Ly–Tran period. The lower base is decorated with cloud motifs and supported by yaksha figures lifting the pedestal. It is considered a unique stone masterpiece of Hai Phong, possibly dating to either the Tran or Nguyen dynasty.

Statues of the Three Buddhas (Tam The):

Three statues representing the Buddhas of past, present, and future worlds, carved together with their lotus pedestals from monolithic stone. The figures sit in meditation (kiet gia posture), with spiral hair and multilayered robes, dating to the Mac Dynasty (16th century).

Horizontal board (Dai Tu):

Two large wooden scroll-shaped plaques hang in the central hall. The first bears four Chinese seal characters “阿彌佗佛” (Amitabha Buddha), meaning “Reverence to the Buddha of Infinite Light,” carved on a red-lacquered background with gold gilding, dated to the late 19th century.

The second bears “慈豋彼岸” (Compassion leads to the other shore), expressing the Buddhist concept that virtuous living leads to enlightenment, also from the late 19th century.

Stone pillar (Thach Tru):

Carved from a single stone column topped with a lotus-shaped capital, inscribed with the reign mark Chinh Hoa, 8th year (1687). It lists the donors who contributed to the pagoda’s renovation.

Another relic from the Chinh Hoa, 2nd year (1682) restoration is a 1.55 m-high stone pillar carved with floral vines and inscriptions of benefactors. A distinctive stele carved with flame motifs portrays two female patrons, Madame Nguyen and Madame Dao, honored for their devotion to the pagoda (its full date remains uncertain as the base is embedded below ground).

Heritage ranking

Do Nha Pagoda was recognized as a National Historical and Cultural Relic in 2007.


2. Français

Nom et localisation géographique

Le village de Do Nha (由牙), dont le nom sino-vietnamien signifie « terre noble », est également appelé par son nom populaire « village Nga ». De ce fait, plusieurs lieux anciens conservent ce nom : le pont Nga, le marché Nga, le pavillon Nga…

À la fin du XIXᵉ siècle, le nom officiel Do Nha fut adopté.

La pagode Do Nha, monument ancien du complexe communal pagode–temple, se trouve sur un terrain plat et élevé, entouré des chemins du village, dans la commune de Tan Tien, district d’An Duong, ville de Hai Phong.

Son nom en caractères chinois est Trieu Tuong Tu (肇祥寺), signifiant « le Bouddha apporte ici les présages favorables ». Aujourd’hui encore, les habitants l’appellent affectueusement pagode Nga.

Histoire et personnages

Selon Les anciennes pagodes de Hai Phong, Tome I :

« La pagode fut construite sous la dynastie Tran, portant le nom de Trieu Tuong, symbole de lumière heureuse. D’après les inscriptions et les écrits du Vénérable Kim Cuong Tu (manuscrit conservé à la pagode Tran Quoc, Hanoi, 1990), Do Nha figure parmi les vingt monastères extérieurs où les moines itinérants venaient étudier et pratiquer. La tradition rapporte qu’elle fut fondée par le Saint patriarche Non Dong, originaire du hameau Duong Mong, district de Kim Thanh, province de Hai Duong. » (1)

Un article du site de l’Union de la Jeunesse de Hai Phong précise :

« Do Nha aurait été fondée à la fin de la dynastie Ly (XIIᵉ–XIIIᵉ siècles). En témoigne un socle de lotus en pierre, daté de l’époque Ly–Tran (XIᵉ–XIIIᵉ siècles), encore conservé dans la pagode. » (2)

Architecture et paysage

La pagode actuelle, reconstruite au XIXᵉ siècle sous la dynastie Nguyen, faisait à l’origine face à l’ouest avant d’être orientée vers le sud lors d’une restauration.

Son plan au sol en forme de Dinh couvre 4 714 m² et comprend cinq travées à l’avant et trois à l’arrière, couvertes de tuiles traditionnelles.

Le fronton central est orné d’un cartouche portant les caractères « 肇祥寺 » (Trieu Tuong Tu), tandis que les colonnes-lanternes (tru bieu) flanquant la façade sont sculptées de motifs de gourdes et de lampes de lotus.

Objets conservés

Malgré les siècles, Trieu Tuong Tu a conservé un riche ensemble d’objets anciens : statues bouddhiques, panneaux calligraphiques, autels, portes sculptées, etc.

Socle de lotus pour Bouddha :

En pierre bleue, formé de grands blocs assemblés, haut de 119 cm, long de 285 cm. Les pétales de lotus à double rangée présentent des motifs en relief typiques des périodes Ly–Tran. La partie médiane est décorée de dragons-serpents, et des figures de yaksha soutiennent la base. Ce socle est considéré comme une œuvre d’art unique de Hai Phong (datée soit des Tran, soit des Nguyen).

Statues des Trois Bouddhas :

Trois sculptures représentant le passé, le présent et l’avenir, taillées dans un seul bloc de pierre, de style Mac (XVIᵉ siècle).

Tableaux horizontaux (Dai Tu) :

Deux grands panneaux en bois précieux, sculptés en forme de rouleau, portant respectivement les inscriptions « 阿彌佗佛 » (Amitabha Buddha) et « 慈豋彼岸 » (La compassion conduit à l’autre rive), œuvres de la fin du XIXᵉ siècle.

Colonne de pierre (Thach Tru) :

Monolithe surmonté d’un chapiteau en lotus, portant l’inscription de la 8ᵉ année de Chinh Hoa (1687) mentionnant les donateurs des restaurations.

Un autre pilier daté de Chinh Hoa 2 (1682), orné de motifs floraux, ainsi qu’une stèle figurant deux bienfaitrices, Madame Nguyen et Madame Dao, complètent l’ensemble.

Classement patrimonial

La pagode Do Nha a été classée Monument historique et culturel national en 2007.


3. 中文繁體

名稱與地理位置

由牙村(由牙),意譯為「高貴之鄉」,俗稱「牙村」。故村中古地名多以「牙」為號,如牙閘、牙市、牙館等。十九世紀末始改稱由牙。

由牙寺,字號「肇祥寺」,位於海防市安陽縣新進社由牙村,地勢平坦高爽,四周為村道所環。

寺名「肇祥」寓意「佛開祥瑞於斯地」,今民間仍稱之為「牙寺」。

歷史與人物

據《海防古寺集》卷一載:

「寺創於陳朝,名肇祥,義為祥光。據鎮國寺金剛子和尚手蹟(1990年)所記,由牙寺列入二十外傳山門之一。傳為東山聖祖,海陽省金城縣養蒙村人所建。」(1)

據海防市團委網站〈安陽縣新進社由牙村祠寺〉文稱:

「由牙寺創於後李時期(十二至十三世紀),今寺中尚存一方蓮座石基,為李陳時代(十一至十三世紀)遺物。」(2)

建築景觀

歷經滄桑,今之由牙寺為阮朝十九世紀木構建築。原朝西,後於重修時改向南,村民仍記其事曰:「丙子年修,戊辰年轉向。」

寺呈「丁」字形平面,占地四千七百一十四平方米,前殿五間,後殿三間,覆以瓦。前殿封火山牆,脊飾卷書「肇祥寺」三字,兩端飾鯨尾。外設表柱,柱座瓜形,柱身刻楹聯,頂飾雙層蓮燈,四面雕四靈。

文物

肇祥寺千年存續,尚保存眾多珍貴古物,如佛像、楹聯、匾額、香案、門扇等,具高度歷史與藝術價值。

石蓮座:

青石所造,高一一九公分,長二八五公分。雙層蓮瓣,線條流暢,間飾雲紋龍蛇,四角雕夜叉托座。此為海防市獨一無二之石藝珍品,年代或為陳、或為阮。

三世佛像:

三尊代表過去、現在、未來佛,與蓮座一體石雕,髮螺衣褶,坐姿結跏趺,屬莫朝(十六世紀)作品。

大匾:

兩方木雕卷書形,一題「阿彌佗佛」,一題「慈豋彼岸」,紅底金字,約十九世紀末製。

石柱:

整石雕成,頂作蓮台,刻「正和八年」(一六八七)年款,記施主姓名。另有「正和二年」(一六八二)石柱,高一點五五米,刻花蔓文樣,並有一碑刻兩女信士阮氏、陶氏像以紀功德。

文物等級

由牙寺於二〇〇七年被列為國家級歷史文化遺跡。

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)