Chùa Hương Trai (Hoài Đức – Hà Nội)

Chùa Hương Trai (Hoài Đức – Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí đại lý

Chùa Hương Trai, còn có tên gọi khác là chùa Cả, tọa lạc tại xã Dương Liễu huyện Hoài Đức, Hà Nội. Nằm trong cụm di tích của tổng Sấu xưa kia, cách chợ Sấu sầm uất một con đê. Với bề dày lịch sử, chùa Cả là một cổ tự tiêu biểu, lưu giữ nhiều giá trị đặc sắc về mặt kiến trúc, văn hóa và tín ngưỡng. Không chỉ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của người dân địa phương, chùa còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của cộng đồng vùng lân cận.

Lịch sử và nhân vật

Xã Dương Liễu, nay thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội, là một địa danh mang đậm bề dày lịch sử văn hóa với những giá trị đặc biệt trên các phương diện: truyền thống yêu nước, hiếu học và di sản văn hóa dân gian. Không chỉ là nơi thờ phụng danh tướng Lý Phục Man từ thời Lý Nam Đế, Dương Liễu còn là vùng đất địa linh nhân kiệt, từng sản sinh ra nhiều bậc đại khoa và trí thức nổi danh, có nhiều đóng góp cho đất nước.

Dấu ấn thời trung đại: Từ làng quê hiếu học đến đất khoa bảng

Dương Liễu xưa thuộc tổng Dương Liễu, huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây, một vùng đất cổ giàu truyền thống khoa bảng. Trong suốt các triều đại phong kiến, Dương Liễu đã vinh dự là quê hương của ba vị tiến sĩ nho học nổi tiếng: Nguyễn Phi Kiến, Phí Đăng Nhậm và Nguyễn Danh Dự.

  • Tiến sĩ khai khoa Nguyễn Phi Kiến (1564 – 1628)

Nguyễn Phi Kiến là người mở đầu truyền thống đỗ đạt khoa bảng của làng Dương Liễu. Sinh năm 1564, ông là cháu đời thứ năm của Nguyễn Phi Hùng (em út Nguyễn Trãi), thuộc dòng hậu duệ nhà Nguyễn Phi tại Dương Liễu. Dù đỗ Cử nhân từ khi còn trẻ và được bổ làm Tri phủ Khoái Châu, do hoàn cảnh công vụ và gia đình, ông mãi đến năm 59 tuổi mới dự kỳ thi Hội và đỗ Hội nguyên, đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Hợi (1623), dưới triều Lê Thần Tông. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm làm Hiến sát sứ Hải Dương, nổi tiếng là vị quan liêm khiết, cương trực và quan tâm đến đời sống văn hóa nông thôn. Ông từng cho di dời đình tổng Dương Liễu ra vị trí trung tâm để phục vụ sinh hoạt chung, và khuyến khích dân làng dùi mài kinh sử. Lăng mộ ông hiện vẫn được bảo tồn tại xứ Đồng Mía, xã Dương Liễu.

  • Tiến sĩ Phí Đăng Nhậm (1618 – ?)

Đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1661), Phí Đăng Nhậm từng giữ chức Giám sát Ngự sử đạo Kinh Bắc, sau được điều động vào Thanh Hóa giữ chức Đốc đồng quan công. Ông là người biên soạn hương ước đầu tiên của làng Dương Liễu – bản văn quy phạm có nhiều nội dung đề cao đạo lý, học tập và sự đoàn kết của cộng đồng, đến nay vẫn còn lưu giữ.

  • Tiến sĩ Nguyễn Danh Dự (1627 – ?)

Nguyễn Danh Dự đỗ Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1685), sau giữ nhiều chức quan trọng như Phó đốc thị Nghệ An, Hiến sát sứ Yên Quảng, Thiêm sai Bồi tụng tri thị nội thư tả hộ phiên. Ông từng được cử làm phó sứ sang nhà Thanh năm 1709, để lại nhiều tác phẩm thơ văn và các công trình khảo cứu, tiêu biểu là bộ “Thi tự thanh ứng” gồm 1.529 bài thơ đề vịnh, hiện vẫn còn được lưu giữ. Ông cũng tham gia soạn thảo hương ước liên làng Dương Liễu – Mậu Hòa – Cát Quế, trong đó bản năm 1691 do ông đứng tên hiệu đính hiện đang được bảo tồn tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Dấu ấn thời cận đại: Trí thức đầu thế kỷ XX và sự nghiệp giáo dục

Cụ Hồng Lô Nguyễn Bá Luận (1887 – 1968)

Là một trí thức thời Pháp thuộc, cụ Nguyễn Bá Luận từng du học Pháp và sau đó giữ nhiều chức vụ giáo dục quan trọng như Đốc học Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng. Với học vị Hồng Lô tự khanh, ông có công lớn trong đào tạo lớp trí thức đầu thế kỷ XX, trong đó có nhiều nhà cách mạng nổi tiếng như Trần Phú, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Khánh Toàn,… Hiện từ đường cụ Nguyễn Bá Luận còn lưu giữ nhiều tư liệu quý giá, trong đó có đôi câu đối nói về khí tiết và chí lớn của một đời làm quan:

“Nhất sinh chí khí thu hồ đán 

Quảng hạ thí hoài tam thiếu lăng”.

Kiến trúc cảnh quan

Chùa Hương Trai nằm tiếp giáp với chân đê, mặt quay ra hướng Nam, lưng tựa vào triền đất cao, phía trước là khoảng không gian rộng lớn với nhiều cây cổ thụ. Khu vực này nguyên là chợ Dương Liễu xưa, nay trở thành sân trước tự nhiên, tạo nên một trường nhìn thoáng đãng và không gian chuyển tiếp giàu tính biểu tượng giữa đời sống trần tục và không gian Phật giới. Cấu trúc tổng thể của chùa tổ chức theo trục “tiền môn – chính điện” rõ ràng, phù hợp với mô thức bố cục truyền thống trong kiến trúc Phật giáo Bắc Bộ.

Nổi bật trong tổng thể kiến trúc là tòa Tam Quan và Gác Chuông, được xây dựng theo hình thức hai tầng tám mái, một kiểu thức hiếm gặp và có giá trị nghệ thuật cao. Hệ mái được bố trí tỏa đều về bốn phía, đỡ trên khung kết cấu gỗ tạo thành ba gian, với các đầu đao cong vút nâng lên thanh thoát, tạo nên cảm giác bay bổng và linh thiêng, vừa mang tính biểu tượng về mặt thiền học, vừa có hiệu ứng thẩm mỹ mạnh mẽ. Kiến trúc này cho thấy sự tương đồng đáng kể với Tam Quan chùa Tây Phương (huyện Thạch Thất), đồng thời phản ánh kỹ thuật thi công khung gỗ và xử lý mái đặc sắc trong truyền thống kiến trúc dân gian đồng bằng Bắc Bộ. Tầng trên của Tam Quan treo một đại hồng chung cao 1,23m, thân khắc nổi dòng chữ Hán: “Hương Trai tự chung”. Quả chuông này được đúc vào năm Gia Long thứ 13 (1814), một thời điểm đặc biệt vì nhà Nguyễn khi ấy đã ban hành lệnh cấm đúc chuông, xây chùa ở Bắc Hà. Việc quả chuông vẫn được tạo tác trong giai đoạn này cho thấy nỗ lực bảo tồn tín ngưỡng của cộng đồng Phật tử địa phương, đồng thời phản ánh tính chất đối thoại âm thầm giữa quyền lực trung ương và tín ngưỡng bản địa. Bên cạnh đó, tại gian bên phải của Tam Quan còn treo một khánh đồng, trên thân khắc: “Hương Trai tự khánh – Quý Dậu trùng tu”, nhiều khả năng phản ánh lần trùng tu vào một trong các năm Quý Dậu (có thể là 1873 hoặc 1933), cho thấy tính liên tục trong lịch sử tu bổ và giữ gìn di tích.

Bước qua Tam Quan là Tiền Đường, mở đầu cho quần thể chính điện, được bố trí theo hình thức mặt bằng chữ “Công” (工), một dạng thức bố cục phổ biến trong các chùa cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tòa Tiền Đường gồm 7 gian 2 chái, có quy mô bề thế, được dựng trên hệ 4 hàng cột cái và cột con đặt trên chân tảng đá xanh. Kết cấu mái được thực hiện theo kỹ thuật “chồng rường, kẻ chuyền”, cho thấy sự phát triển của nghệ thuật kết cấu gỗ truyền thống, đồng thời tạo ra không gian nội thất thoáng rộng, phù hợp với chức năng tụng niệm và tập hợp tăng chúng.

Tiếp nối là Tòa Thiêu Hương, đóng vai trò là không gian chuyển tiếp giữa Tiền Đường và Thượng Điện. Bộ khung của Thiêu Hương kết hợp hai kiểu kết cấu: vì ngoài theo “chồng rường” gắn liền với Tiền Đường, còn hai vì giữa sử dụng kết cấu “giá chiêng”, một đặc trưng xuất hiện phổ biến trong kiến trúc chùa thời Mạc. Đặc biệt, hệ trụ trốn được chạm khắc tinh xảo với hoa lá lớn, hình người, ván lá đề chạm rồng, cốn gỗ khắc hình hươu nằm và vân xoắn lớn, thể hiện trình độ nghệ thuật chạm khắc gỗ đạt tới độ tinh vi cao. Phần câu đầu và thân cột được gắn tượng tiên nữ cao khoảng 0,4m, chi tiết này hiếm thấy trong chùa nhưng lại tương đồng với nghệ thuật đình làng, đặc biệt là đình Tây Đằng (Ba Vì), qua đó phản ánh sự giao thoa giữa tín ngưỡng Phật giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa, thể hiện tính linh hoạt và bản địa hóa trong không gian thờ tự.

Ở vị trí cao nhất của trục thần đạo là tòa Thượng Điện, gồm một gian hai chái, bố trí theo chiều ngang, khác biệt với bố cục chiều dọc của các hạng mục trước. Hai bộ vì chính tại đây có kết cấu tương tự tòa Thiêu hương, trong đó cột cái đỡ câu đầu qua hệ đấu vuông thót đáy, một kỹ thuật tạo khớp nối giữa khối dọc và mái ngang, giúp phân bố trọng lực hiệu quả. Bao quanh là hệ ván bưng đố lụa không trang trí, tạo nên vẻ giản lược, trang nghiêm, phù hợp với tính chất linh thiêng và tĩnh lặng của không gian Thượng điện. Dù đã trải qua nhiều lần tu bổ, nhưng phần đầu dư, kẻ hiên và hoa văn chạm khắc vẫn giữ được dấu ấn phong cách thời Mạc, đặc biệt là trong các chi tiết hình rồng, vân xoắn, cách thức tổ chức họa tiết đối xứng và nhịp điệu.

Nhìn chung, kiến trúc cảnh quan chùa Hương Trai không chỉ mang dáng dấp điển hình của kiến trúc Phật giáo truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn kết tinh các lớp văn hóa – lịch sử – mỹ thuật từ thời Trần, Mạc đến Nguyễn. Mỗi hạng mục đều cho thấy sự dụng công trong tổ chức không gian, kỹ thuật kết cấu gỗ điêu luyện, cũng như trình độ thẩm mỹ cao trong nghệ thuật trang trí, xứng đáng là một trong những công trình kiến trúc Phật giáo tiêu biểu còn bảo tồn được khá nguyên vẹn đến ngày nay.

Hiện vật

Chùa Hương Trai sở hữu một hệ thống hiện vật phong phú và đa dạng, bao gồm tượng pháp, đồ thờ tự và di vật đá có giá trị, phản ánh rõ sự tiếp biến các phong cách nghệ thuật từ thời Trần, Lê, Mạc cho đến thời Nguyễn. Tính phong phú không chỉ thể hiện ở số lượng và hình thức bài trí, mà còn ở sự tương tác giữa yếu tố Phật giáo chính thống với tín ngưỡng dân gian trong đời sống tôn giáo cộng đồng.

  • Tại Thượng điện tôn trí bộ Tam thế Phật gồm Phật Quá khứ, Phật Hiện tại (Thích Ca Mâu Ni), và Phật Vị lai (Di Lặc), ngự ở ba tòa sen lớn đặt tại vị trí trung tâm. Các pho tượng thuộc phong cách thời Nguyễn, với hình khối đầy đặn, dáng ngồi vững chắc, khuôn mặt đôn hậu, ngực đeo anh lạc, tay kết ấn thiền định, và tòa sen có cánh lớn, bo tròn, những đặc trưng tiêu biểu của nghệ thuật tượng Phật cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. 
  • Phía sau Tam thế là tượng Phật A Di Đà (ở trung tâm), tượng Phật Di Lặc (ở bên phải) và hai vị Bồ Tát theo truyền thống Phật giáo Đại thừa: Văn Thù cưỡi sư tử ở bên phải và Phổ Hiền cưỡi voi trắng ở bên trái. Hai pho tượng Bồ Tát này có hình khối thanh thoát, tỷ lệ cân đối, chạm khắc tóc, trang phục và đài sen một cách tinh tế, cho thấy phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII, có thể thuộc về thời Lê Trung hưng, một giai đoạn nổi bật trong lịch sử tượng pháp Phật giáo Việt Nam với kỹ thuật tạo hình đạt đến độ tinh xảo. 
  • Tại các gian bên, đặc biệt ở phía trái, đặt tượng Quan Âm Thị Kính, một mẫu tượng mang sắc thái thuần Việt, thể hiện rõ sự kết hợp giữa tín ngưỡng dân gian và giáo lý từ bi của Phật giáo. Ở hai góc ngoài gian thờ là tượng Thổ địa và Giám trai, những vị thần thường không thuộc hệ thống Phật giáo chính thống nhưng lại được thờ phổ biến trong chùa làng Việt Nam, minh chứng cho sự giao thoa tôn giáo và tính bản địa hóa sâu sắc trong tín ngưỡng.
  • Tại tòa Thiêu Hương bài trí tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế, được chầu hai bên bởi bốn tiên nữ, chia thành hai lớp: hai tượng phía trong gần ngai và hai tượng phía ngoài gần mép tiền đình. Các tiên nữ đều có vóc dáng thon gọn, khuôn mặt thanh tú, đầu đội mũ cánh phượng, gợi liên tưởng tới mô thức mỹ thuật cung đình thời Nguyễn. Hai bên ngoài cùng đặt tượng Nam Tào và Bắc Đẩu, thể hiện rõ ảnh hưởng của Đạo giáo trong không gian thờ tự chùa làng. Nhóm tượng này là bằng chứng cụ thể cho truyền thống tam giáo đồng nguyên, phổ biến trong tín ngưỡng cộng đồng người Việt từ thời Lê về sau.
  • Tiền Đường bài trí các pho tượng Hộ pháp, Đức Ông, Thánh Hiền và Quan Âm tọa sơn, tạo nên lớp bảo vệ bên ngoài và điều phối nghi lễ bên trong. Tượng Hộ pháp thường được tạc theo đôi, với gương mặt dữ tợn, tay cầm vũ khí, tạo tư thế oai phong, thuộc mô hình Tứ đại Thiên Vương hoặc Vi Đà Hộ pháp, phổ biến từ thời Lê Trung hưng trở về sau. Tượng Đức Ông có dáng ngồi an tĩnh, thường đội mũ cánh chuồn, mình mặc áo quan lại, phản ánh sự lồng ghép yếu tố nhân thần trong văn hóa Phật giáo Việt Nam. Quan Âm tọa sơn là hình thức phổ biến từ thời Lê – Nguyễn, thể hiện đức Quán Thế Âm hiện thân cứu độ chúng sinh tại chốn rừng sâu, non cao, hình ảnh giàu tính biểu tượng và gần gũi với đại chúng.
  • Tượng Di Lặc đặt tại Thượng điện có hình khối chắc khỏe, thân thể tròn đầy, đầu hói, bụng lớn, tay cầm túi vải, dáng ngồi khoan thai trên tòa sen đơn giản. Pho tượng này ít chi tiết hoa văn, tập trung vào hình khối và biểu cảm, cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của nghệ thuật thế kỷ XVIII, khi mà phong cách tạo hình thiên về biểu cảm nội tâm, chú trọng khối tượng hơn là trang trí ngoại vi.
  • Bệ sen đá thời Trần: Di vật quý giá 

Một trong những hiện vật có giá trị nhất tại chùa là bệ sen bằng đá nguyên khối, đặt tại chính điện, thuộc phong cách thời Trần, niên đại được xác định bằng văn bia là năm Đại Trị thứ 32 (1360) và năm 1370, thời điểm hoàn tất việc tạo dựng. Bệ có dạng hộp chữ nhật, cao 1,60m, rộng 1,32m, dài 3,66m – kích thước lớn so với mặt bằng chung các bệ đá cùng thời. Trên mặt bệ là bộ làm thẻ, được khắc chạm tinh vi các cảnh sơn lâm, sen cuộn, đầu mặt nhẫn, thể hiện cảnh giới thanh tịnh nơi cõi Phật. Phần thân bệ khắc nổi hình chim thần Garuda ở bốn góc, kết hợp với bốn con rồng uốn lượn ở giữa các mặt, tạo nên bố cục sống động và giàu tính biểu tượng Phật giáo – Bà-la-môn giáo. Văn bia trên bệ ghi rõ việc cúng ruộng tiền cho chùa và mục đích tạo bệ thờ, là minh chứng cụ thể cho vai trò trung tâm của chùa trong đời sống tín ngưỡng và kinh tế xã hội thời Trần.

  • Chuông đồng niên hiệu Gia Long thứ 13 (1814): Tư liệu lịch sử hiếm quý

Một hiện vật tiêu biểu tại chùa Hương Trai là đại hồng chung treo trên gác chuông kiêm Tam Quan, được đúc bằng đồng nguyên khối, có chiều cao 1,23m, đường kính miệng rộng khoảng 0,6m. Trên thân chuông khắc nổi dòng chữ Hán: Hương Trai tự chung – Chuông chùa Hương Trai, kèm theo niên đại đúc là Gia Long thập tam niên (1814). Đáng chú ý, năm 1814 thuộc thời kỳ vua Gia Long thi hành chính sách giới hạn việc xây chùa và đúc chuông tại Bắc Hà, trong bối cảnh triều Nguyễn vừa thiết lập quyền lực và còn dè chừng các thiết chế văn hóa Phật giáo phía Bắc. Vì vậy, sự tồn tại của quả chuông này không chỉ có giá trị nghệ thuật, mà còn là một chứng tích quan trọng về chính sách tôn giáo và tình hình xã hội giai đoạn đầu triều Nguyễn. Quả chuông có hình thức truyền thống: vai chuông cong tròn, thân chia làm bốn ô dọc, trang trí các họa tiết hoa văn dây cuốn, mây xoắn nhẹ nhàng, phần núm gõ không chạm long vân như phong cách thời Lê, cho thấy sự tiết chế trong mỹ thuật đầu thời Nguyễn.

  • Khánh đồng niên hiệu Quý Dậu 

Tại gian bên phải của Tam Quan còn lưu giữ một chiếc khánh đồng, kích thước vừa phải, có dáng hình cong vồng, hai đầu uốn nhẹ, viền ngoài có sóng lửa và mây cuộn. Trên thân khánh khắc dòng chữ: Hương Trai tự khánh – Quý Dậu trùng tu. Niên hiệu Quý Dậu có thể tương ứng với năm 1873 (Tự Đức 26) hoặc năm 1933 (Bảo Đại 8), tùy theo văn cảnh, nhưng đều thuộc những giai đoạn mà việc trùng tu chùa chiền diễn ra khá phổ biến sau biến động xã hội cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Sự kiện và lễ hội

Chùa Hương Trai qua thời gian đã hình thành hệ thống nghi lễ, hoạt động tâm linh và giáo dục Phật giáo có tính truyền thống, thu hút sự tham gia đông đảo của quần chúng.

  • Nghi lễ Phật giáo và lễ hội truyền thống

Hằng năm, vào các dịp lễ lớn trong Phật giáo như: Phật đản (15/4 Âm lịch), Vu lan báo hiếu (15/7 Âm lịch), Rằm tháng Giêng (Tết Nguyên tiêu), mồng Một và Rằm các tháng âm lịch, chùa Hương Trai là nơi diễn ra các nghi lễ long trọng như: lễ cầu an, lễ cầu siêu, lễ dâng hương, dâng hoa cúng Phật, thu hút hàng nghìn Phật tử và nhân dân về tham dự. Đặc biệt, dịp Tết Nguyên đán, không khí lễ hội tại chùa trở nên trang nghiêm và ấm cúng với các khóa lễ đầu năm, tụng kinh Dược Sư, khai đàn cầu quốc thái dân an, thể hiện nét đẹp văn hóa tâm linh đặc trưng của người Việt: kết hợp tín ngưỡng thờ Phật với tinh thần tri ân tổ tiên, cha mẹ. Tuy không tổ chức lễ hội quy mô lớn như các trung tâm hành hương, nhưng chính sự thanh tịnh, mộc mạc và nghiêm cẩn trong tổ chức nghi lễ đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của chùa Hương Trai, gắn kết cộng đồng Phật tử quanh vùng.

  •  Không gian giáo dục và trải nghiệm Phật pháp

Bên cạnh chức năng lễ bái và hành hương, chùa Hương Trai còn là nơi tổ chức các khóa tu học và hoạt động giáo dục tâm linh dành cho nhiều lứa tuổi. Tiêu biểu là:

Khóa tu mùa hè dành cho thanh thiếu niên với nội dung rèn luyện đạo đức, thiền định, học giáo lý Phật pháp, kết hợp sinh hoạt tập thể mang tính giáo dục nhân cách.

Trại hè thiền và trải nghiệm đời sống thiền môn dành cho người trẻ và người đi làm, giúp họ sống chậm lại, nhận diện chính mình và tìm kiếm sự an yên giữa đời sống hiện đại xô bồ.

Lớp học Phật pháp căn bản do chư Tăng hướng dẫn, tạo điều kiện cho Phật tử tại gia nâng cao hiểu biết và hành trì Phật pháp đúng chính tín.

Những hoạt động này không chỉ góp phần lan tỏa giá trị đạo đức và từ bi của Phật giáo, mà còn khẳng định vai trò của chùa Hương Trai như một trung tâm giáo dục tâm linh cộng đồng trong thời hiện đại.

  • Điểm đến văn hóa – du lịch tâm linh

Với giá trị lịch sử, kiến trúc đặc sắc cùng không gian yên tĩnh và phong cảnh hài hòa, chùa Hương Trai đã trở thành một địa điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn. Du khách đến đây không chỉ được chiêm ngưỡng những di vật quý như bệ đá thời Trần, hệ thống tượng Phật cổ, chuông và khánh niên đại thế kỷ XIX, mà còn có cơ hội tìm hiểu sâu sắc về nếp sống văn hóa, tín ngưỡng và truyền thống Phật giáo của người Việt.

Không gian thanh tịnh và kiến trúc hài hòa với thiên nhiên khiến chùa trở thành nơi lý tưởng cho những ai tìm kiếm sự suy nghiệm, hồi hướng tâm linh và kết nối với bản thể nội tâm, một đặc trưng quan trọng của du lịch thiền hiện đại.

Xếp hạng

Với giá trị nổi bật về kiến trúc nghệ thuật, hệ thống tượng pháp, di vật cổ và vai trò lâu dài trong đời sống tín ngưỡng – văn hóa của cộng đồng, chùa Hương Trai đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia từ năm 1964. Đây là một trong những ngôi chùa được công nhận sớm nhất tại miền Bắc sau năm 1954, khẳng định vị thế đặc biệt của chùa trong kho tàng di sản Phật giáo Việt Nam. Việc xếp hạng không chỉ góp phần bảo tồn kiến trúc – mỹ thuật cổ truyền, mà còn tạo cơ sở pháp lý và nhận thức xã hội trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa tâm linh truyền thống.

Tài liệu tham khảo

  1. Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích tập 02, Nxb Hà Nội.
  2. Trần Siêu, “Đất thiêng Dương Liễu sản sinh ba nhà khoa bảng nức tiếng”, Báo Giáo dục Thủ đô, Ngày 29/03/2025.
  3. Sơn Dương, “Chùa Hương Trai (huyện Hoài Đức)”, Tạp chí Người Hà Nội online, Ngày 29/08/2023.
  4. Chùa Hương Trai, Website: Hnctity https://360.hncity.org/spip.php?article788
  5. Chùa Hương Trai, Website: Theo chân Phật https://theochanphat.com/chua-o/chua-huong-trai-00001 

____________________________________

Các ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Huong Trai Pagoda, located on the outskirts of Duong Lieu village, belonging to Duong Lieu commune, Hoai Duc district, stands out with its unique architecture and a rich system of statues. The temple is oriented towards the West-Northwest and features a Tam Quan (Three-Gate) structure with a bell tower at the base, resembling the stacked matchbox style seen in Tay Phuong Pagoda in Thach That, Tay Son. The Tam Quan is adorned with intricately decorated sword heads, and the Han characters for the reign of “Bao Dai” suggest renovations around the Giap Than year (1944). The diverse statue system within the temple ranges from Tam The, A Di Da, Quan Am, to various other deities. Notably, the temple houses a unique cubic stone lotus pedestal from the Tran period, serving as evidence of the history and culture of this rural village.

Tiếng Trung (Chinese)

香材寺位于杜央越村的边缘,属于槐德县杜央越乡,以其独特的建筑和丰富的雕像系统而脱颖而出。这座寺庙朝西北方向,底部有一座钟楼的Tam Quan(三门)结构,类似于塔山的石塔中看到的叠加火柴盒风格。 Tam Quan饰有精美装饰的剑头,而“宝代”的汉字表明了在Giap Than年(1944年)左右进行的翻修。寺庙内的雕像系统多种多样,从Tam The、A Di Da、Quan Am到其他各种神祇。值得注意的是,寺庙还保留了一座独特的来自Tran时期的方形石莲花底座,作为这个乡村的历史和文化的证明。

Tiếng Pháp (French)

Le temple Hương Trai, situé en périphérie du village de Duong Lieu, appartenant à la commune de Duong Lieu, dans le district de Hoai Duc, se distingue par son architecture unique et un riche système de statues. Le temple est orienté vers l’ouest-nord-ouest et présente une structure de Tam Quan (Trois-Portes) avec un clocher à la base, ressemblant au style d’une boîte d’allumettes empilées que l’on trouve au temple Tay Phuong à Thach That, Tay Son. Le Tam Quan est orné de têtes d’épée richement décorées, et les caractères Han pour le règne de “Bao Dai” suggèrent des rénovations vers l’année Giap Than (1944). Le système de statues diversifié du temple va de Tam The, A Di Da, Quan Am, à diverses autres divinités. Notamment, le temple abrite un piédestal unique en forme de lotus en pierre cubic de l’époque Tran, servant de témoignage de l’histoire et de la culture de ce village rural.

 
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)