Chùa Hưng Phúc (Chùa Kênh – Quảng Xương, Thanh Hoá)

Chùa Hưng Phúc (Chùa Kênh – Quảng Xương, Thanh Hoá)

Tấm bia cổ

Trong một chuyến công cán tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, theo đường liên xã từ xã Quảng Thọ xuống xã Quảng Vinh, qua xã Quảng Hùng để về xã Quảng Giao, tôi và một bạn đồng nghiệp quá cố cùng Phùng Văn Cường, đã phát hiện ra tấm bia đá cổ thời Trần giữa đồng không mông quạnh thuộc địa phận làng Trường Tân, xã Quảng Hùng, huyện Quảng Xương (nay thuộc thị xã Sầm Sơn). Không một gian chùa quán, không một mái nhà bia, không một bóng cây che mát. Cảnh tượng thật quá hoang tàn hiu quạnh. Đau đớn hơn, trước đó đã có một ai đó đã toan đập bia để nung vôi. Đầu con rùa – bệ đỡ bia – đã bị lìa khỏi cổ, lăn lóc ở bên, mép bia bị sứt từng mảng. Còn may là do quá cứng, hoặc một sự linh thiêng thần bí nào đó mà lò vôi bất hảo kia chưa kịp cướp đi của nhân dân huyện nhà cũng như của toàn dân tộc một di sản văn hóa quý giá. Chứng tích về một sự kiện lịch sử quan trọng đã diễn ra cách đây hơn 700 năm về trước mà chính sử bỏ sót không chép.

Có thể nói tấm bia này thuộc vào loại quý hiếm. Đã gần ba chục năm trôi qua, chúng tôi chưa tìm thấy thêm một tấm bia nào khác tương tự. Ngay khi phát hiện và công bố đã có nhiều nhà sử học về tận nơi để khảo sát, nghiên cứu, hoặc sử dụng nó như một nguồn sử liệu chính thống.

Bia cao 1m55, rộng 0m66, dày 0m24 dựng trên con rùa bằng đá cao 0,42m. Cả hai mặt bia đều khắc chữ. Mặt trước hướng ra Biển Đông. Trán bia hình vòng cung, chính giữa có 4 kiểu chữ hiện trên khắc nổi xếp thành hai hàng: Hưng Phúc tự bi nghĩa là Bia chùa Hưng Phúc (tục gọi là chùa Kênh). Hai bên viên phân được trang trí bằng hình rồng trơn, nhỏ dài, uốn khúc. Ngăn cách giữa trán và thân bia là một dãy hoa văn kiểu móc câu. Hai bên diềm bia là hai hàng hoa văn cúc dây. Chân bia là loại hoa văn hình sóng nước. Mặt sau không trang trí hoa văn, có khoảng 300 chữ do Vũ hội thôn Trường Tân khắc vào năm Tự Đức thứ 13 (1859) với tiêu đề: Trường Tân thôn Vũ hội trùng thuyên Tướng công bi ký ” (Bài ký về việc khắc lại bia Tướng công của Vũ hội thôn Trường Tân). Nhờ có bài ký này mà chúng tôi đã định được niên đại của văn bia trước là vào năm Khai Thái đời Trần – 1324 khôi phục lại một số chữ đã bị mất, bị mờ hoặc nhầm lẫn do khắc lại cùng năm với bài ký ở mặt sau.

Toàn bộ văn bia mặt trước, kể cả 24 câu 96 chữ của bài minh, gồm khoảng 770 chữ. Trong đó đã bị mất và bị mờ hoàn toàn là 20 chữ. Điều đáng tiếc là tên tuổi, chức tước, danh hiệu người soạn văn bia lại nằm trong số 20 chữ đó. Vì thế chúng tôi không biết gì mấy về người đã kể lại những dòng văn, vần thơ bất hủ này. Chỉ biết qua văn phong, bút pháp hẳn tác giả phải là người học rộng, tài cao, uyên thâm Nho giáo, am tường Phật học. Từng chữ, từng lời đều ẩn tàng điền tích hoặc của Phật, hoặc của Nho. Vào thời nhà Trần, Khổng giáo đã phát triển nhưng Phật giáo lại rất hưng thịnh. Không phải ai khác mà chính ông vua đầu tiên của triều Trần – Trần Thái Tông – đã có lúc toan định bỏ ngai vàng, vào núi đi tu để “mong làm Phật không cầu gì khác. Kế đến, vua Trần Thánh Tông thì về già kê cứu lẽ huyền bí của đạo Phật, noi theo phép nhà. Tiếp theo, vua Trần Nhân Tông mới 38 tuổi đời đã nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để “lưu tâm kinh điển nhà Phật, xây am Thiên Kiện, đúc đỉnh Phổ Minh, Rất chăm thờ Phật. Và cuối cùng rũ áo bảo hoàng mặc áo nâu sòng, vào núi Yên Tử (tỉnh Quảng Ninh) đi tu, lập ra Thiền phái Trúc Lâm – một dòng phái Phật giáo mang màu sắc riêng của nước Đại Việt. Lẽ ra trong bối cảnh Phật giáo đã trở thành quốc giáo thì việc dựng chùa, tô tượng đúc chuông, khắc bia và ghi lại công tích là chuyện thường tình. Song riêng ở ngôi chùa Hưng Phúc, văn bia lại có vấn đề về lịch sử mà chúng ta không thể không bàn tới. Đó là hương Yên Duyên – nơi dựng chùa Hưng Phúc – chủ nhân của nó và cuộc chiến đấu của nhân dân nơi đây chống giặc Mông – Nguyên vào thời nhà Trần.

Đôi nét lịch sử

Trở về với lịch sử ta thấy, vào cuối thời Lý đầu thời Trần nền kinh tế bị đình đốn, chế độ chính trị bị khủng hoảng. Để nhanh chóng khắc phục tình trạng ấy nhà Trần đã áp dụng nhiều biện pháp tích cực. Công cuộc khẩn hoang mở rộng diện tích phát triển sản xuất rất được coi trọng. Năm 1266 Nhà nước cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, phi tần, chiêu mộ dân nghèo xiêu tán, khai khẩn đất hoang lập thành các điền trang. Quý tộc, quan lại sai nô tì đi đắp đê lấn chiếm bãi bồi, mở rộng làng xã, thiết lập tư trang. Nô tì được phép lấy vợ, lấy chồng và trở thành cư dân ở đấy.

Về mặt chính trị, tất cả những chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước đều do tôn thất họ Trần nắm giữ, các vương hầu được phân phong đi trấn trị các nơi có quyền lợi và nghĩa vụ lập quân đội riêng (gia binh) để dùng khi quốc gia hữu sự. Sử chép: “Chế độ nhà Trần, vương hầu đến phủ đề riêng ở hương của mình, khi chầu hầu mới đến kinh sư xong việc lại quay về”. Trên đất Quảng Xương hồi bấy giờ có phủ đệ của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật ở vùng núi Văn Trinh, phủ đệ của Thượng tướng minh tự Lê Công An ở hương Yên Duyên.

Hương Yên Duyên thời Trần bao gồm gần hết các phần đất của tổng Thủ Hộ và tổng Giặc Thượng thời Nguyễn. Tức là dải đất ven biển phía đông tỉnh lộ 4 kéo dài từ Nho Quan xuống đến Đồn Điền. Thuở ấy dải đất này hãy còn hoang vắng, đa phần còn cồn cát đầm lầy, rừng cây, sông ngòi, khe lạch. Có lẽ vị tướng họ Lê được phép của triều đình đến đây khai phá, xây dựng dinh thự, phủ đệ trên đất Trường Tân bây giờ. Năm tháng trôi qua, đất lở cát bồi, con người khai phá diện mạo của vườn đất cũ không còn, làng ấp mới mọc lên nhưng những địa danh cả chữ Hán lẫn Nôm quanh vùng đều là dư ảnh của một vùng sông nước khe lạch, bến bãi. Làng Bến, làng Kênh được thay thế bằng Trường Tân thôn thời Nguyễn. Còn những tên khác như xóm Bến, cầu Bến, bến Kênh, cánh đồng Kênh vẫn còn lưu giữ. Nhà nghiên cứu sử học PGS. Nguyễn Danh Phiệt đã về đây nghiên cứu khảo sát cho rằng… 60 năm về trước trên con sông Rào, hằng năm nhân dân vẫn thường xuyên đánh bắt tôm nước lợ và rươi (một loại thủy sản chỉ có ở nơi nước lợ). Nguồn nước lợ này từ sông Mã tràn vào phía nam cánh đồng Bình Hòa ở phía tây thị xã Sầm Sơn, vượt qua đường số 8 qua cầu Bình Hòa đổ vào cánh đồng Triều Khê phía tây chân núi Sầm Sơn và theo nguồn sông Rào, cũng gọi là sông Đơ chảy về địa hạt Trường Tân. Cho đến những năm 60 về trước, trước khi có đập nước Quảng Vinh (ở kề phía nam núi Sầm Sơn bên bờ biển) về mùa lũ lụt nước từ những cánh đồng cao đổ vào cánh đồng Kênh chảy xuôi theo hướng nam đến làng Mỹ Lâm dồn vào sông Rào, trút ra biển theo hướng bắc ở cửa sông Mã.

Từ những chỉ dẫn trên, chúng tôi đã có cơ sở nghĩ đến một luồng nước từ cửa sông Mã bao quanh khu vực núi Sầm Sơn thông ra biển qua một bến biển ở vùng đất này từ đầu thế kỷ trước trong quá trình hình thành đồng bằng ven biển ở đây.

Nếu như phủ đệ của Trần Nhật Duật ở vùng núi Văn Trinh khai khẩn cả vùng đất sát tây huyện và đặc biệt là khống chế kiểm soát đoạn đường thiên lý từ Bắc vào Nam thì phủ đệ của Lê Công An ở hương Yên Duyên ngoài nhiệm vụ khai khẩn đất hoang xây dựng trang ấp còn phải cai quản, bảo vệ cả một đoạn bờ biển dài hơn 20 km từ cửa Lạch Trào (cửa Hới) cho tới cửa Hàn (cửa Ghép).

Dấu tích xưa

Trở lại với chùa Hưng Phúc trên đất Yên Duyên, theo văn bia cho biết chùa do Đại toát Lê Công Bằng – người con thứ của Thượng tướng Lê Công An dựng vào năm Giáp Tý, niên hiệu Thiệu Long (1264). Công việc chưa hoàn thành, quy mô còn nhỏ hẹp, tượng Phật đắp chưa xong, nhà hiên làm chưa đủ thì ông Lê Công Bằng chết. Các con trai ông là Nguyên Đại toát Ký ban Lê Mạnh Tử, Ký ban Lê Quảng, Lê Khả Lỗi, và Đại toát đại liêu ban phục Lê Công Mạnh cùng con cháu đã đồng lòng hiệp sức mở rộng quy mô, đắp tượng Phật, khắc chạm muôn hình, nhà Phật phía trước, phòng ng mặt sau…. Tương truyền rằng ngôi chùa nguy nga tráng lệ đó đã bị giặc Minh xâm lược phá hoại hồi thế kỷ XV. Mãi đến giữa thế kỷ XIX Phố tổng Đỗ Danh Quán cùng với hội Vũ thôn Trường Tân đóng góp tiền xây dựng lại, chùa khắc lại bia mặt trước và khắc bia mới mặt sau để lưu truyền mãi mãi. Nhưng vào năm 50 của thế kỷ XX chùa lại bị phá hoại một lần nữa. Thế là chùa cũ không còn chỉ còn lại tấm bia không được nguyên vẹn. Tuy vậy, nhờ từ của nó mà chúng ta biết được nhiều điều lý thú như đã bàn luận phần trên. Đặc biệt chỉ một đoạn văn ngắn ghi trong bia (xem phần dịch cuối bài) cũng có thể dựng lại cả một thời kỳ chống giặc ngoại xâm rất hào hùng, oanh liệt của dân tộc, trong đó có sự đóng góp quan trọng của nhân dân Yên Duyên.

Hồi đầu thế kỷ XIII vào năm 1206 trên bờ sông Ô Môn, Thành Cát Tư Hãn đã lập nên nhà nước Mông Cổ. Chế độ phong kiến quân sự độc tài, tập quyền chấm dứt thời kỳ chiến tranh liên miên kéo dài của các bộ lạc người Mông, song cũng từ đó vó ngựa của Thành Cát Tư Hãn và các đời vua kế nghiệp đã gieo rắc tai hoạ xuống đầu các dân tộc từ Âu sang Á. Trong vòng hơn nửa thế kỷ bản đồ của đế quốc Mông Cổ kéo dài từ bờ biển Hắc Hải đến tận Thái Bình Dương. Năm 1271 trên đất Trung Hoa, Hốt Tất Liệt lập nên triều đại nhà Nguyên, xưng hiệu là Nguyên Thế Tổ. Vì thế sử sách mới gọi là đế quốc Mông – Nguyên, năm 1279 nước Nam Tống – mảnh đất cuối cùng của Trung Hoa lục địa – đã bị Nguyên Thế Tổ thôn tính.

Trước và sau khi đánh chiếm Nam Tống, đế quốc Mông Cổ đã 3 lần liền tiến hành xâm lược nước ta vào các năm 1258, 1285, 1287. Nhưng cả 3 lần quân dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần đã quét sạch kẻ thù hùng mạnh nhất, thiện chiến nhất hồi bấy giờ ra khỏi biên cương Tổ quốc, giữ vững nền độc lập dân tộc. Sự kiện lịch sử do văn bia ghi lại là cuộc chiến tranh lần hai (1285).

Bất chấp bài học thất bại hay cay đắng trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất, đế quốc Mông – Nguyên vẫn ráo riết chuẩn bị chiến tranh xâm lược nước ta lần nữa. Trước tình hình đó, nhà Trần đã động viên toàn dân kháng chiến. Sau hội nghị các vương hầu, bách quan ở Bình Than để “bàn kế sách đánh giữ” và “chia phân nơi giữ hiểm yếu” Thượng hoàng Trần Thanh Tông đã mời phụ lão trong cả nước về kinh đô Thăng Long đặt tiệc ở thềm điện Diên Hồng hỏi kế sách đánh giặc. Trả lời cho câu hỏi của nhà vua có nên đánh hay không thì vạn người đồng thanh hô “đánh. Tiếng hô đanh thép đó chắc chắn có các cụ đại diện cho quê hương miền biển xứ Thanh.

Lệnh kháng chiến của triều đình được ban bố. Khắp mọi nơi đều trương tấm biển: Tất cả các quận, huyện trong nước, đâu có giặc ngoại đến phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép họ lẩn vào rừng núi chứ không được phép đầu hàng.

Nếu như trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất (1258) Thanh Hóa còn là hậu phương thì trong cuộc chiến tranh thứ hai này vừa là hậu phương vừa là tiền tuyến. Thanh Hóa đất rộng người đông, rừng núi hiểm trở không những chỉ cung cấp sức người sức của cho cuộc kháng chiến mà còn là nơi ém quân kín đáo che giấu an toàn các vua Trần trong lúc quân giặc chiếm được kinh đô. Trong cuộc chiến tranh lần này, Thanh Hóa nằm trong tình thế hai đầu đều có giặc, phía Bắc giặc từ biên giới tràn sang, phía Nam giặc từ Chiêm Thành quay sang tạo thế gọng kìm. Trên đất Thanh Hóa diễn ra nhiều cuộc chiến đấu ác liệt. Riêng Quảng Xương ít nhất đã diễn ra hai lần. Lần đầu vào thượng tuần tháng 3 năm 1285 ở kênh Bố Vệ (khoảng từ Quảng Tân đến Quảng Thắng) khi quân Toa Đô vượt qua Hoan Diễn (Nghệ An – Hà Tĩnh) tiến ra. Và lần sau vào cuối tháng 3 đầu tháng 5 năm 1825 tại hương Yên Duyên khi quân Toa Đô từ Trường Yên (Ninh Bình) quay lại đuổi theo các vua Trần khi chúng phát hiện ra đại bản doanh của triều đình rút vào Thanh Hóa. Quân giặc từ Trường Yên chia quân tiến vào Thanh Hóa theo cửa Đáy tiến đến vùng biển theo đường sông Vân Sàng và sông Trinh Nữ qua cửa Thần Phù để theo đường sông Hoạt vào nội địa phía bắc Thanh Hóa. Đạo quân theo đường biển để tạo bất ngờ, giặc không tiến vào cửa sông Mã (cửa Hới) mà theo đường tắt – đường Cổ Khế thuộc bờ biển hương Yên Duyên, tức luồng nước bao quanh núi Sầm Sơn và các vùng phụ cận. Từ đây giặc có thể tiến vào sông Mã hoặc đổ bộ tiến về trung tâm Thanh Hóa lúc bấy giờ khoảng từ Bố Vệ đến làng Giàng với hy vọng có thể tìm bắt được hai vua Trần… Nhưng quân giặc vừa từ biển đổ bộ vào đất liền đi tắt theo đường Cổ Khê đã vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của dân binh và nhân dân hương Yên Duyên dưới sự lãnh đạo của một viên võ tướng làm chức quan xã thuộc dòng dõi tướng cao cấp trước kia. Hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến của triều đình, Đại toát đại liêu ban phục Lê Mạnh đã tổ chức bố phòng cẩn mật chuẩn bị cho trận đánh phủ đầu kỹ lưỡng và chu đáo. Vì vậy đạo quân giặc do viên phó tướng Toa Đô chỉ huy đang trên đà chiến thắng lùng đuổi vả lại cũng rất am hiểu địa hình (không đi theo đường chính mà đi theo đường tắt) vừa đặt chân lên đất liền đã rơi vào trận địa mai phục của quân dân Yên Duyên tại bến đò Cổ Bút, đến nỗi tiến công không được mà rút lui cũng không xong. Nếu không có kẻ đầu hàng dẫn đường cho giặc thì chắc chắn Yên Duyên sẽ là nơi vùi xác tướng giặc Toa Đô, một viên tướng khét tiếng hung ác tàn bạo, Yên Duyên sẽ trở thành địa danh lịch sử như Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết. Kết cục cuộc chiến không thành nhưng nhân dân hương Yên Duyên vẫn có quyền tự hào đã góp phần xương máu vào thắng lợi cuối cùng của toàn dân tộc vào ngày 6 tháng 6 năm Ất Dậu niên hiệu Thiệu Bảo thứ 7 (9-7-1285).

Bia cũ đã mờ, chùa cũ đã mất nhưng công tích của người xưa vẫn còn nguyên vẹn. Hình ảnh một hương Yên Duyên có phủ đệ trang ấp của vị tướng đương triều với ngôi chùa Hương Phúc nguy nga lộng lẫy và với trận chiến đấu ác liệt chống giặc ngoại xâm hơn 7 thế kỷ về trước vẫn mãi mãi in đậm trong tâm trí các thế hệ với niềm tự hào về truyền thống chống giặc bảo vệ quê hương của tiền nhân.

Tham khảo

  • Chùa xứ Thanh (Tập I), NXB Thanh Hoá, CN. Phạm Văn Kính
Chấm điểm
Chia sẻ
Chua-Hung-Phuc-Quang-Xuong-Thanh-Hoa (2)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Hình ảnh
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926