Chùa Lại Đà (Cảnh Phúc Tự – Đông Anh, Hà Nội)

Chùa Lại Đà (Cảnh Phúc Tự – Đông Anh, Hà Nội)

Vị trí


Chùa Lại Đà có từ thời Hậu Lê có tên chữ ”Cảnh Phúc Tự”. Vị trí ở giữa xã Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội, phía bắc giáp làng Trung Thôn, phía đông-bắc giáp làng Hội Phụ, phía đông giáp làng Đông Trù, phía nam giáp làng Đông Ngàn, phía tây giáp làng Xuân Trạch.

Lược sử


Cảnh Phúc Tự được kiến lập từ xa xưa, song vì chưa ai tìm ra văn bia thư tịch liên quan nên không rõ dựng vào năm nào. Dựa vào dấu tích và một số công trình còn lại thì có thể đoán định rằng chùa được làm từ thời Hậu Lê. Người viết tờ trình làng và tự nguyện làm hội chủ đứng ra quyên góp đúc quả chuông đầu là cụ Ngô Quý Hương (1657-1724). Đại hồng chung này được đúc trong khoảng từ năm 1690 đến 1724, nhưng sau đó không rõ bị thất lạc về đâu.

Quả chuông đồng hiện tại thì được đúc vào năm Giáp Thìn đời vua Thiệu Trị (1844), khởi công vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch và hoàn thành vào 29 tháng Hai. Trong danh sách các thiện nam tín nữ hằng tâm công đức đúc chuông có vị tiến sỹ họ Vũ đỗ khoa thi Hội năm Bính Tuất (1826). Khoa này đỗ 10 người, chỉ có hai người họ Vũ là Vũ Tông Phan và Vũ Đức Mẫn. Cụ Vũ Tông Phan sau làm Đốc học tỉnh Bắc Ninh nên có lẽ là người tham gia vào việc đúc chuông.

Chùa đã qua nhiều lần trùng tu, kiểu dáng ổn định đến nay là của lần sửa chữa vào đầu thế kỷ XX, hầu hết đều mang phong cách nghệ thuật kiến trúc cuối thời Nguyễn.

Kiến trúc


Ngoài tam quancác sân gạch, chùa Cảnh Phúc gồm có 2 khu nhà chính nối với nhau bằng một hành lang mở có mái che, phía trước là toà tam bảo, phía sau là tòa hậu đường. Nằm ngay đầu con đường rẽ vào đình làng, tam quan được dựng vào năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800), tức cuối triều vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản. Cổng này được xây tách riêng theo lối 2 tầng chồng diêm với 8 mái và đầu đao cong vút; bên dưới chia làm 3 gian, đối xứng trước – sau; gác trên có sàn gỗ và giá treo chuông.

Thông thường hàng ngày nhà chùa dùng cổng bên giáp với con đường chính xuyên qua làng, tam quan chỉ mở vào dịp lễ lạt. Cổng bên dẫn thẳng vào sân sau giáp với lưng tòa tam bảo và mặt trước của các dãy nhà khách, nhà Tổ.

Toà tam bảo trải qua thời gian dài bị xuống cấp cho nên được giải hạ vào quãng đầu thập niên 1960. Tháng 7-2003, dân làng cùng sư trụ trì Đàm Nguyện đã xây nhà Tổ và ngày 24-11 (tức mùng 1 tháng 11 năm Quý Mùi) khởi công dựng lại tòa tam bảo. Các công trình được thiết kế với quy mô bề thế và sử dụng vật liệu tốt.

Toà hậu đường là nhà thờ Tổ, bao gồm 5 gian 2 dĩ, kết nối với hậu cung theo hình “chữ Đinh”, trên bờ mái đắp 3 chữ “Tự hậu đường”. Phía sau có nhà Tăng và vườn tháp, gần đây cũng đã được trùng tu.

Khu di tích Lại Đà gồm đình, chùa, miếu với trung tâm là đình, bên trái là chùa, bên phải là miếu.

Đình

Đình dựng trên đầu Hoàng Hổ, mặt quay hướng chính nam. Cửa chùa xây 2 trụ lớn nối liền tường bao quanh chạy sang hai bên với tam quan chùa và cửa miếu, phía trong là 2 giếng tròn tượng trưng mắt hổ. Tiếp đến là sân đình. Mái đình lợp ngói vẩy rồng, bờ nóc chạy thẳng được soi bằng những chỉ chìm. Thân và bờ dải được đắp thẳng bằng những hoa chanh tạo vẻ thanh thoát.

Đầu kìm phía ngoài vuốt cong như sừng trâu, phía trong là đầu rồng cuốn thủy. Toà đại đình được kết cấu bởi 6 bộ vì. Bộ vì chính theo kiểu giá chiêng chồng rường con nhị, trang trí các loại vân xoắn, lá cách điệu. Phần sau của đình làm dạng 2 tầng mái. Trong trang trí bức cửa võng cùng bức hoành phi đề 4 chữ lớn: Nguyễn Đại vương từ. Trong cùng đặt 1 ngai thờ bài vị ghi rõ: Nguyễn Đại vương thần vị và 1 nhang án, 1 sập thờ và một số đồ thờ tự.

Miếu

Miếu thờ Thánh Mẫu Tiên Dung, người có công phù giúp Nguyễn Hiền dẹp quân Chiêm, được vua Trần phong làm phúc thần. Miếu gồm 2 toà, 3 gian tường hồi bít đốc, giá chiêng kiêm vì kèo. Phía trước có cửa bức bàn, trong có khám gỗ chạm hình rồng, lão mai, lão cúc hoá rồng. Lồng trên bề mặt khám là đại tự “Thánh cung vạn tuế”.
 

Di sản


Chùa có đầy đủ hệ thống tượng Phật giáo. Về giá trị, đáng chú ý là 3 pho tượng Tam Thế Phật (Quá Khứ, Hiện Tại và Vị Lai) mang phong cách nghệ thuật điêu khắc của thế kỷ XVIII.

Ngoài ra trong chùa còn lưu giữ nhiều cổ vật khác như đồ tế khí, hoành phi, câu đối, cửa võng... được chế tác công phu. Đình hiện còn 2 nhang án, một ngai thờ, 11 hòm quần áo mũi hia, câu đối, hoành phi, sắc phong, hương ước, điều lệ, công ước… của làng xã. Miếu có di vật cùng thời với di vật ở đình, ngoài ra còn khám thờ và tượng Mẫu Tiên Dung.

Có một đôi câu đối viết như sau:

”Nhập môn giả năng vô tham sân si thị xuất gia nhi cầu quy y đắc quy y phúc địa
Tương lai kỳ tất hữu quảng đại thắng sử hiện tại bất vi quá khứ hựu quá khứ thời kỳ”

Tạm dịch là:

”Vào cửa không còn tham sân si là xuất gia, cầu quy y sẽ được quy y đất phúc
Tương lai hẳn được quảng đại thời kỳ hiện tại, quá khứ lại không như thời kỳ quá khứ”

Thành tựu


Cùng với đình làng và miếu Lại Đà, Cảnh Phúc Tự được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia ngày 5-9-1989.

Tham khảo


  • http://wikizisan.vn/baiviet/?article=3114
  • http://ditichlichsu-vanhoahanoi.com/2017/11/30/dinh-mieu-lai-da-2/
  • https://phatgiao.org.vn/nhung-hinh-anh-dep-ve-quan-the-dinh–mieu–chua-lai-da-d10595.html
Chấm điểm
Chia sẻ
8. Chùa Lại Đà (Nguồn vietlandmarks.com)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926