Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Láng, tên chữ là Chiêu Thiền tự được xây dựng ở làng Yên Lãng (tên nôm là Láng), trước đây thuộc huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, nay thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Chùa tọa lạc tại số 88 phố Chùa Láng.
Giải thích về tên Chiêu Thiền tự, trong văn bia tạo dựng năm Thịnh Đức thứ 4 (1656) hiện còn được bảo quản ở chùa có chép rằng: “Cái nguyên hữu chiêu hiển gia tường, cố dĩ Chiêu danh. Đĩnh sinh Thiền sư đại thánh, cố dĩ Thiền danh”. Tạm dịch: Vì có điều tốt rõ rệt nên gọi là Chiêu. Đây là nơi sinh ra Thiền sư đại thánh nên gọi là Thiền.
Lịch sử và nhân vật
Tương truyền rằng, chùa được xây vào thời Lý Thần Tông (1128 – 1138) trên một khu đất rộng khoảng 6 mẫu Bắc Bộ, để thờ Phật và ghi nhớ công ơn của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, người được cho là đã thác sinh thành vua Lý Thần Tông. Bởi vậy, trong chùa ngoài tượng Phật còn có tượng Từ Đạo Hạnh mặc áo cà sa và tượng Lý Thần Tông ngồi trên ngai vàng, “lại có một cái tráp đựng sách đồng khắc chữ Phạn màu đỏ, tương truyền là di vật của Từ Đạo Hạnh, sách này đã bị mất đêm 19.12.1946.”[1]
Trong sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp chép khá đầy đủ về thân thế, sự nghiệp của Thiền sư Từ Đạo Hạnh:
“Chùa Thiên Phúc ở núi Phật tích (nay ở núi Sài Sơn, xã Phúc tài, huyện An Sơn), Đạo Hạnh Thiền sư họ Từ tên là Lộ; ông thân tên là Vinh, làm chức Tăng quan đô án triều Lý, thường đến chơi làng An Lãng, sau lấy người con gái họ Tăng. Từ Lộ là con nàng Tăng thị, lúc trẻ ham chơi bời nhưng khẳng khái có chí lớn, thường cùng với một nho giả tên là Phí Sinh, một đạo sinh tên là Lê Toàn Nghĩa, một linh nhân tên là Phạm Ất kết làm bạn thân, đêm thời khắc khổ đọc sách, ngày thổi sáo, đá cầu, đánh bạc làm vui; cha thường trách là hoang đãng.
Một buổi chiều kia, ông cụ lẻn vào chỗ Lộ nằm dòm thử xem chàng làm gì thì thấy ngọn đèn cháy tàn, sách vở chất đống, Lộ đang dựa án mà ngủ, tay chưa rời quyển sách, từ đấy, ông cụ không lo nữa; sau Lộ ứng thí tăng đồ, đậu khoa Bạch liên.
Chưa bao lâu, cụ Vinh dùng tà thuật chống lại Diên Thành Hầu. Hầu nhờ Thiền sư Đại Điên dùng phép đuổi đánh chết, quăng thầy xuống sông Tô Lịch, thầy trôi đến cầu Quyết Kiều chỗ nhà Hầu ở, bỗng đứng dậy không đi nữa; Hầu sợ, chạy cáo với Đại Điên; Điên đến đọc kệ rằng: Tăng giận chưa thỏa mãn hay sao?
Thầy liền ứng thanh trôi đi.
Từ Lộ lo phục thù cho cha, nghĩ chưa ra kế gì, một hôm lén dòm Điên đi ra liền đón đường mà đánh, bỗng nghe giữa không trung có tiếng bảo dừng. Lộ sợ quăng gậy mà đi, muốn qua nước Phương Độ cầu linh thuật để chống Điên; đường phải đi ngang qua làng mọi răng vàng, hiểm trở nên Lộ bỏ về, mới ẩn lại trong hang núi Phật Tích, thường trì tụng Đại Từ Tâm Kinh, chú Đà Lai, hết mười tám vạn tám ngàn lần.
Một hôm thấy một thần nhân đến thưa rằng: Đệ tử tức là Trấn Thiên Vương, cảm công đức trì kinh của Sư nên đến đây hầu hạ xem Sư có sai khiến gì chăng?
Từ Lộ biết rằng đạo của mình đã viên thành, thù cha có thể phục được, mới thân đến cầu Quyết Kiều, thử ném cái gậy cầm trong tay xuống giữa dòng nước chảy thì cái gậy trôi ngược lên như con rùa bơi, đến cầu Tây Dương Kiều mới dừng lại.
Lộ nói: Phép của ta đã hơn Điên rồi. Bèn đi thẳng đến nhà Điên;
Điên thấy Lộ bảo rằng: Mày không nhớ cái việc ngày trước hay sao?
Lộ ngẩng mặt lên trời thấy vắng vẻ không có gì mới đuổi Điên mà giết. Điên phát bệnh rồi chết. Từ đấy, thù xưa rửa sạch, lục tự tiêu tan, Lộ mới du lịch tùng lâm, khảo sát ấn chú…”[2]
Thuở ấy, vua Lý Nhân Tông không có con trai, có ý nhận một tiểu đồng linh dị hiệu là Giác Hoàng làm Hoàng thái tử, các quần thần đều can, cho rằng nên để người này thác sinh vào nơi cung cấm. Từ Đạo Hạnh biết sự việc nói với chị gái rằng: “Đứa trẻ kia là yêu quái, mê hoặc rất nhiều người, nếu ta ngồi xem không lo cứu vãn để cho nó huyễn hoặc nhân tâm, cổ loạn chính pháp hay sao”[3] . Bởi vậy, ông ra sức ngăn cản và đã thành công nhưng bị vua phát hiện nên bắt nhốt. May mắn, ông được em vua là Sùng Hiền hầu xin cho nên thoát nạn. Để báo ân, ông thác sinh làm con của Sùng Hiền hầu. Sùng phu nhân sinh con trai đặt tên là Dương Hoán. Dương Hoán lên hai tuổi được lập làm Hoàng thái tử, sau lên làm vua, hiệu Lý Thần Tông. Do đó, người đời sau vẫn lưu truyền câu chuyện rằng Lý Thần Tông là kiếp sau của Từ Đạo Hạnh.
Theo sách Thiền uyển tập anh, Từ Đạo Hạnh là vị thánh tổ thứ 12 của Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đã đào tạo được nhiều nhà sư tài đức, điển hình là quốc sư Nguyễn Minh Không được Đạo Hạnh truyền ấn và cờ.
“Thời Lê trung hưng, chùa được trùng tu năm Thịnh Đức 4 (1656) với quy mô rộng lớn, có văn bia của Diên Thọ bá Nguyễn Văn Trạc soạn và Dương Trí Trạch hiệu Nghị Trai hiệu duyệt có đoạn tả:
Động Thiền rộng mở, kiểu thức huy hoàng
Lầu gác nguy nga, tạc tô thánh tượng
Tháp sao chót vót, toà báu huy hoàng
… Chùa Chiêu Thiền này là đất phúc lưu truyền một phương dấu anh linh mãi còn muôn thuở. Dân cầu khấn thì người khoẻ, của nhiều, trăm lộc, trăm phúc dồn tới, đủ điều phúc, thọ, khang, ninh. Nước cầu khấn thì dân yên, nước trị, nhà vua là chúa muôn năm, cơ nghiệp vững bền dằng dặc.”[4]
Có tài liệu cho rằng chùa được xây dựng dưới thời Lý Anh Tông (1138 – 1175). Anh Tông là con Thần Tông cho dựng chùa ở Yên Lãng để thờ vua cha là Thần Tông và kiếp trước của cha là Từ Đạo Hạnh. Tám thế kỷ trôi qua, chùa đã được trùng tu nhiều lần. Thời Lê trung hưng, chùa được tu sửa lớn vào năm 1656, có văn bia do Diên Thọ bá Nguyễn Văn Trạc soạn và Tham tụng, Bạt quận công Thượng trụ quốc Dương Trí Trạch hiệu duyệt. Diện mạo như ta thấy hiện nay là từ lần sửa dưới thời Tự Đức, giữa thế kỉ XIX.
Năm 1656, TS Nguyễn Văn Trạc đỗ khoa Tân Mùi (1631) theo lệnh vua Lê soạn văn bia ca ngợi cảnh chùa Láng: “… Thật là danh lam bậc nhất thế gian, không chùa nào sánh nổi. Khí tốt phượng thành (Thăng Long) bên hữu hoà toả khắp, dòng Tô Lịch bên tả lượn vòng…”[5]
Kiến trúc cảnh quan
Diện mạo như ta thấy hiện nay của chùa là từ lần sửa dưới thời Tự Đức. Trước đây chùa bao gồm đúng 100 gian. Được xây theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Tam Quan 3 gian, Lầu bát giác 4 gian, Tiền Tế 1 gian, Tả vu 9 gian, Hữu vu 9 gian, Tiền đường 9 gian, hành lang hai bên 18 gian, Hậu Cung và Trung Cung 7 gian, Nhà Tổ 5 gian, Hậu Điện 9 gian, Nhà Hậu 10 gian, nhà khách 7 gian (không kể nhà bếp). Đáng chú ý là các ngôi nhà chính đều có 9 gian tạo nên ngôi chùa to rộng bề thế.
Khuôn viên chùa rộng rãi, cõi tục và cõi thiền được phân chia bởi lớp tường gạch bao quanh vừa quá tầm mắt. Bố cục mặt bằng đối xứng theo một đường trục dọc từ Tam Quan đến Nhà Tổ phía sau. Kiến trúc tầng tầng lớp lớp với chức năng khác nhau, hoà hợp với sân vườn và cây xanh tạo nên một không gian hài hoà, sâu thẳm, tĩnh mịch, cổ kính của cảnh chùa Việt Nam.
“Cổng vào chùa là một hàng 4 cột hoa bằng gạch xây với 3 mái cong thanh thoát vươn cao, tạo ra vẻ uy nghi. 3 mái không phủ lên đỉnh cột mà gắn vào sườn cột, mái giữa cao hơn 2 mái bên, phảng phất tựa cổng cung vua phủ chúa. Một sân rộng lát gạch Bát Tràng. Giữa sân có sập đá. Cuối sân là Tam Quan. Hai bên có tường hoa, giữa là đường gạch dẫn tới nhà bát giác – nơi đặt tượng Thánh – qua đây tới chùa chính. 2 dãy hành lang có động Thập Diện miêu tả các hình phạt ở Địa ngục để răn đe kẻ ác. Tượng vua Lý Thần Tông và Thiền sư Đạo Hạnh đặt ở Hậu cung.”[6]
Nhà Bảo Cái (bát giác) đặt ở vị trí trung tâm của chùa, là công trình có giá trị kiến trúc nghệ thuật nổi bật. Cột hiên bao quanh và tường bên trong đều bằng gạch nung già để trần. Mái lợp kiểu mái chồng, hai tầng, gồm 16 mái mềm mại thanh nhã.
Hai bên bậc thềm dẫn lên nhà Tiền Đường có đôi rồng đá uốn khúc uyển chuyển đẹp đẽ. Toà Tiền Đường và Trung Đường song song, cách nhau chỉ hơn một mét, để tạo nên ánh sáng mờ ảo, được nối với nhau bằng một nhà cầu ở giữa. Hậu Cung gắn với Trung Đường dạng chữ Công. Khối kiến trúc được nối với Nhà Tổ phía sau bằng hai dãy hành lang. Tại đây có lầu chuông và lầu khánh, chùa có hai quả chuông và một khánh lớn. Chuông được đúc năm 1740 và khánh đúc năm 1738.
Hiện vật
Hiện tại, chùa còn lưu giữ 198 pho tượng lớn nhỏ và 15 tấm bia đá. Tấm bia tạo lệ dựng năm Thịnh Đức 4 (1656) cao 1,4m, rộng 0,8m, có hoa văn rồng chầu mặt nguyệt, hai bên diềm có phượng chầu hoa sen và hai tiên nữ với đôi cánh dướn bay lên trời xanh. Bên trái Tiền Đường có một tấm bia Phúc Điện ghi việc thái uý Tây Quốc công Trịnh Tạc (1657 – 1682) cùng vợ là công chúa Lê Thị Ngọc cúng hậu một mẫu ruộng vào chùa, gần đó có bức tượng công chúa thường được gọi là tượng “Bà Hậu”. “Hệ thống tượng thờ ở chùa có niên đại tạo tác từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, mang giá trị nghệ thuật cao.”[7] Chùa có 12 đạo sắc phong của các vua Lê, Tây Sơn và triều Nguyễn. Sớm nhất là của vua Lê Cảnh Hưng (1790) và sắc cuối là của vua Khải Định. Trong hộp sắc còn có cuốn sách Luận tích của tri phủ Quốc Oai viết năm Vĩnh Hựu 3 (1737) phán xét việc khiếu nại của dân trại Yên Lãng rước hội qua các làng Thượng Yên Quyết, Dịch Vọng Tiền lên chùa Bà Lãng thăm mẹ của Từ Đạo Hạnh. Ngoài ra còn hai cuốn sách bằng chữ Nôm diễn ca “Sự tích thánh để họ Từ” và “Phụ lục sự tích”, dài 464 câu.
Lễ hội
“Hội Láng xưa diễn ra trong 10 ngày, được 9 làng tham dự là hội lớn và hấp dẫn nhất phía tây thành Thăng Long. Vì thế từ 3 đến 5 năm mới rước thánh một lần, đấy là năm đại hội, “hoà cốc phong đăng”, “dân khang vật thịnh”. Hàng năm, lấy ngày hoá của tăng thánh họ Từ ở chùa Thầy mồng 7 tháng 3 mở hội. Từ tháng Giêng, Hai, các cụ cao niên, các vị chức sắc đã họp bàn kén chọn thủ kiệu, hàng đô. Dân làng lo chuẩn bị lễ vật, hàng giáp làm pháo lệnh, pháo thăng thiên để cho cuộc đấu thần…”[8]
Đến nay dân gian vẫn lưu truyền câu ca dao:
Nhớ ngày mồng 7 tháng 3,
Trở về hội Láng, trở ra chùa Thầy.
Đội rước gồm hai cụ thủ kiệu, là người có uy tín trong dân. Cụ đi hia, mặc quần trắng, áo thụng xanh, đầu đội mũ tế. Các trai làng khiêng kiệu gọi là “hàng đô”, đầu đội mũ quả dưa, đóng khố ngang lưng, thắt bao đen, mình trần, quàng mảnh vải điều chéo qua vai gọi là khăn vắt.
Hội Láng bắt đầu bằng đám rước bát hương, đến chùa Nền – nơi được cho là xây trên nền nhà cũ của gia đình Thiền sư Từ Đạo Hạnh, mang ý nghĩa thánh về thăm nơi chôn rau cắt rốn. Dâng lễ là biểu hiện của chữ hiếu, kính trọng người đã sinh ra mình.
Sáng ngày mồng 3 tháng Ba, trước khi làm lễ mộc dục có bài khấn giải y thất cà sa để mặc áo long bào… Tối mồng 6 tháng Ba sau khi về Láng từ chùa Tam Huyền – nơi gắn liền với câu chuyện về cha của Từ Đạo Hạnh, dân làng đưa tượng thánh ra ngự ở Lầu bát giác. Nghi lễ múa chầu thánh do 10 cô gái thanh tân thể hiện. Các cô mặc áo tứ thân, đầu vẫn khăn nhiễu điều, váy lĩnh, thắt lưng hoa lý, đeo xà tích. Mỗi lòng bàn tay đỡ một ngọn nến đang cháy, mu bàn tay đeo một bông hoa. Hoà với tiếng đàn, tiếng sáo réo rắt, họ múa quanh lầu bát giác. Dân làng vây quanh vòng trong vòng ngoài lễ thánh.
Sáng sớm ngày mồng 7 tháng Ba, theo hiệu lệnh của hai cụ thủ kiệu, mười tám hàng đô nhanh chóng xếp thành hai hàng ở sân chùa. Theo lệnh truyền “hàng đô” từ từ rước thánh từ lầu ngũ giác ra chỗ sập đá ngoài Tam Quan, ngự trên cỗ kiệu đã được chồng sẵn. Khi thánh yên vị, chiêng trống nổi lên, dứt một hồi ba tiếng, dàn nhạc bắt đầu hòa tấu xen với tiếng pháo hiệu nổ. Hàng đô đặt kiệu lên vai bước ra cửa tam thiền. Đến đây dừng lại chờ đám rước các làng khách đến hộ giá. Đám rước của 9 làng dài đến một cây số (7 làng thuộc tổng Hạ và làng Thượng Đình, Thượng Yên Quyết).
Thứ tự đoàn rước lần lượt là: cờ ngũ hành, cờ bát quái, cờ tiết mao, trống, chiêng, ngựa gỗ đều được che tàn; chấp kích, bát bửu, tay văn, tay võ, phường đồng văn có đám múa bồng, múa sênh tiền, phường bát âm rồi đến long đình bày hương hoa, bài vị được che tán, lọng; cuối cùng đến long kiệu của thánh. Năm nào làng Mọc rước kiệu Từ Vinh lên thì kiệu thánh đi sau kiệu của thánh phụ. Sau kiệu thánh là các vị chức sắc, các cụ cao niên, các vị sư sãi cuối cùng đến dân làng và khách thập phương.
“Đám rước đến cầu Yên Quyết thì dừng lại chờ kiệu thánh “độ hà”, nghĩa là kiệu không đi trên cầu mà lội qua sông. Phải làm như vậy vì xưa kia Từ Vinh bị Đại Điên đánh chết, vứt xác xuống sông Tô, trôi về đến cầu Yên Quyết thì dừng lại, nay nếu đi trên cầu tức là đi trên đầu mình nên phải lội sông. Kiệu nặng sông sâu, khi khênh kiệu lội sông kiệu phải được giữ thăng bằng – ấy là một việc khó, đòi hỏi “hàng đô” phải tài trí khéo léo.
Qua sông lên bờ, kiệu thánh được múa rồng chào đón. Chỉnh trang lại đội ngũ, đám rước đi đến Cầu Giấy, xuyên qua xóm Quan Hoa đến ngõ Vụt cách chùa Duệ khoảng nửa cây số thì có lệnh trì kiệu (dừng kiệu). Pháo chuột, pháo lệnh nổ giòn giã, pháo thăng thiên bắn về phía chùa. Pháo nổ vang trời, khói bay mù mịt, hoà với tiếng chiêng trống, thanh la, tiếng hò reo của dân chúng. Cuộc chiến “đấu thần” náo nhiệt chừng nửa giờ thì kết thúc. Đám rước về chùa Hoa Lăng, nơi thờ thánh mẫu Tằng Thị Loan. Đến nơi, cờ quạt, bát bửu ở ngoài, chỉ có kiệu long đình, long kiệu thánh vào dân hạ ở trước Tiền Đường. Dân làng vào dâng lễ, nghỉ ngơi đến giờ ngọ đám rước trở về chùa Láng.
Sau lễ rước, ngày 8 tháng Ba trở đi, các vị chức sắc kỳ mục, các cụ phụ lão lần lượt tế ở chùa làng. Đây là nét đặc biệt, chỉ một vài nơi có. Được tế trong chùa vì Từ Đạo Hạnh vừa là Phật vừa là thánh. Đến ngày 15 tháng Ba lễ tạ, làm lễ giải triều phục, mặc áo cà sa nhà Phật.”[9]
Ngoài phần lễ, hội Láng còn có các trò vui khác như đánh đu, đánh vật… thực ra là cuộc diễn xướng tổng hợp văn nghệ thể thao của một vùng quê ven sông Tô.
Hội Láng xưa sau nhiều năm bị gián đoạn mới được khôi phục, đến năm 1995 đã tổ chức hội lớn.
Xếp hạng
Chùa đã được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật ngày 28/4/1962.
Chú thích
[1] Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên), Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh Niên, 2006, tr. 196.
[2] Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Nhà sách Khai Trí, 1960, tr. 81 – 82.
[3] Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Sđd, tr. 84.
[4] Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên), Chùa cổ Việt Nam, Sđd, tr. 196 – 197.
[5] PGS Lê Trung Vũ (Chủ biên), Lễ hội Thăng Long, Nxb Hà Nội, 2001, tr. 448.
[6] Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên), Chùa cổ Việt Nam,Sđd, tr. 197.
[7] Võ Văn Tường, 500 danh lam Việt Nam, Nxb Thông Tấn, 2008, tr.4.
[8] PGS Lê Trung Vũ (Chủ biên), Lễ hội Thăng Long, Sđd, tr. 452.
[9] PGS Lê Trung Vũ (Chủ biên), Lễ hội Thăng Long, Sđd, tr. 454 – 455.
Tham khảo
- Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên), 2006, Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Trần Thế Pháp (1960), Lĩnh Nam chích quái, Nhà sách Khai Trí.
- Võ Văn Tường (2008), 500 danh lam Việt Nam, Nxb Thông Tấn.
- PGS Lê Trung Vũ (Chủ biên), 2001, Lễ hội Thăng Long, Nxb Hà Nội.
