Chùa Linh Thông (Chương Mỹ, Hà Nội)

Chùa Linh Thông (Chương Mỹ, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Giới thiệu chung

Chùa Linh Thông tên chữ là Linh Thông tự, do nằm trên đỉnh núi nên còn được gọi tên khác là chùa Cao Ninh. Chùa toạ lạc ở núi Phượng Hoàng, thôn Ninh Sơn, thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 20km. 

Từ trung tâm nội thành Hà Nội, chúng ta có thể lên xe bus số 37 (tuyến Giáp Bát – Chương Mỹ), hoặc số 80 (Mỹ Đình- Kênh Đào), hoặc số 57 (Đông Ngạc- KCN Phú Nghĩa) và xuống bến đỗ Vực Ninh, đi tiếp khoảng 100m sau đó rẽ sang phải vào cổng làng Ninh Sơn rồi đi thẳng hơn 200m lên đỉnh núi thì đến chùa.

Thiền sư Ngộ Ấn

Thiền sư Ngộ Ấn (1020-1088) ở thế kỷ XI đời thứ 8 dòng thiền Vô Ngôn Thông, hoàn cảnh ông được sinh ra rất đặc biệt, mẹ của ông họ Cù tên Sư là người sống ở ngoài bìa rừng gần khu dân làng. Trong một lần khi bà đang dệt vải trong nhà, có một con khỉ rất lớn chạy vào và quấn lấy bà một ngày mới bỏ đi, thời gian sau bà biết mình mang thai, đến ngày sinh nở mặc dù là một đứa con trai nhưng bà rất hoảng sợ và không chấp nhận được sự thật nên đã mang ông vào bỏ trong rừng. Sau đó ông được một nhà sư họ Đàm, quê ở Chiêm Thành nhìn thấy và mang về nuôi từ đó ông được mang danh họ Đàm tên Khí.

Năm Thiền sư Ngộ Ấn 10 tuổi, nhà sư Chiêm Thành cho ông theo học Nho, vốn ông rất thông minh nên đã thông thuộc cả chữ Hán và chữ Phạn. 

Ngài xuất gia thọ giới cụ túc, chuyên học hai bộ kinh Viên Giác và Pháp Hoa Năm 19 tuổi.

Sau khi theo học thiền ông được Thiền sư Quảng Trí ở chùa Quán Đỉnh truyền tâm ấn, Thiền sư bèn đến núi Ninh Sơn- phủ Ứng Thiên kết am tranh làm chỗ ở, sau đó dựng thành chùa. 

Thiền sư Ngộ Ấn mất năm (1088), thọ 68 tuổi. 

Lịch sử 

Lịch sử xây dựng chùa chưa xác định được rõ chính xác là vào thời gian nào nhưng theo sách Thiền Uyển Tập Anh có ghi chép lại:“Chùa Long ân, Ninh sơn, phủ Ứng Thiên, người Từ lý, làng Kim bài, họ Đàm tên Khí. Mẹ là Cù Thị, lúc chưa lấy chồng, nhà ở bên cạnh rừng Mộ, thấy người bẫy chim đêm bà buồn bã nói: “Thà chịu chết làm lành, chứ không chịu sống làm ác”. Một hôm, bà bắt đầu dệt gấm, có một con khỉ lớn từ trong rừng ra, đến ôm lưng bà, trọn ngày mới bỏ đi. Cù Thị biết mình có thai. Đến khi sinh con, bà ghét lắm, đem bỏ trong rừng. Có người Chiêm thành cùng làng là Cụ Sư họ Đàm lượm đem về nuôi, nhân đó đặt tên là Khí. Đến năm 10 tuổi, theo học nghiệp Nho. Học vấn càng ngày càng tiến, rất giỏi chữ Hán và Phạn. Năm 19 tuổi xuất gia, đầy đủ giới định. Đối với nghĩa của hai kinh Viên Giác, Pháp hoa (23a1) Sư nghiên cứu rất tinh tường. Khi đã được tâm ấn nơi Quảng Trí chùa Quán đảnh, Sư vào thẳng Ninh sơn dựng am tranh tu hành, gọi là Ngộ Ấn”.(1) Trong đoạn trích từ sử liệu có nhắc đến nguồn gốc và nơi sinh ra của Thiền sư Ngộ Ấn.

Đại nam nhất thống chí viết:“Núi Ninh ở phía bắc huyện lỵ Chương đức 19 dặm, trông ra sông Hát, triều Lê dựng hành cung trên núi để làm nơi đến viếng chơi, huyện Chương đức thì đông giáp huyện Thanh oai, tây giáp huyện Mỹ lương, tỉnh Sơn tây nam giáp huyện Hoài an và bắc giáp huyện Yên sơn, tỉnh Sơn tây. Đất huyện Chương đức như vậy tương đương với huyện Chương mỹ hiện nay”.(2) 

Núi Ninh Sơn- phủ Ứng Thiên xưa nay chính là núi Phượng Hoàng- thôn Ninh Sơn- huyện Chương Mỹ- Thành phố Hà Nội. Qua đó có thể thấy rằng chùa được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XI, Thiền sư Ngộ Ấn – Đời thứ 8 dòng thiền Vô Ngôn Thông  là Tổ sư khai sáng. Ban đầu chùa chỉ là một Am tranh nhỏ để tu hành, về sau do công đức tu hành và danh tiếng của Thiền sư nên chùa được xây dựng khang trang rộng rãi hơn để đáp ứng nhu cầu tham gia học Phật Pháp của Tăng Ni-Phật tử gần xa và đã trở thành trung tâm tín ngưỡng của cả vùng. 

Kiến trúc

Vị trí của ngôi chùa được coi là đắc địa phong thuỷ chùa được bao bọc xung quanh bởi con sông Đáy, núi Hỏa Tinh, Núi Tử Trầm. Đây đều là những danh lam lịch sử của Việt Nam, kiến trúc chùa được xây dựng với vật liệu chính là gỗ lim, các bức tường thì xây bằng gạch bát tràng, nhìn từ trên cao xuống ta thấy tổng quần thể ngôi chùa gồm có 4 tòa nhà. 

Nằm chính giữa trung tâm là Đại Hùng Điện Bảo với diện tích lớn hơn các toà còn lại, xây theo mô hình chữ công, phía trước là tòa Tam Bảo 2 tầng 8 mái xây Tiền đường rộng 5 gian (Tiền đường bên phải thờ đức Thánh Hiền, bên trái thờ Thập Bát Long Thần), thiêu hương 3 gian, hậu cung 3 gian (hậu cung thờ đức Thánh Văn Xương Đế Quân). 

Trong chính điện trên cùng là tượng tam thân Phật (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Hoá thân), lớp thứ 2 là tượng Tây Phương Tam Thánh (Phật A-DI-Đà, Bồ Tát Quan Âm và Bồ Tát Thế Chí), lớp thứ ba là tượng Phật Thích Ca, hai vị Thị giả A Na- Ca Diếp, lớp thứ tư thờ tượng Quán Âm Thiên Thủ, lớp dưới cùng là tòa Cửu Long với hai bên là trời Đế Thiên – Đế Thích.

Đằng sau chùa là nhà thờ Tổ thờ chư vị lịch đại Tổ sư của chùa, phía trước có tượng Quan thế âm Bồ tát. Bên trái là nhà tiếp khách, bên phải là điện thờ Mẫu. 

Chùa được xây dựng giữa khu vực có nhiều cây cối mát mẻ, trên đỉnh núi cao khi nhìn xuống chúng ta có thể ngắm nhìn toàn bộ thị trấn và những cánh đồng phía dưới. 

Giai đoạn trùng tu 

Sau khi Thiền sư Ngộ Ấn – Đời thứ 8 dòng thiền Vô Ngôn Thông cho xây dựng cuối thế kỷ XI, đến năm thứ 23 niên hiệu Cảnh Thịnh triều đại Hậu Lê (1763) do đã nhiều năm tồn tại ngôi chùa đã bị xuống cấp trầm trọng, trụ trì Tăng Phó Hải Hương và nhân dân địa phương thỉnh Bản sư là Thiền sư Tính Tuệ (trụ trì chùa Ngũ Phúc) về chùa Linh Thông trùng tu trên nền kiến trúc cũ. 

Năm thứ 24 thời vua Tự Đức triều Nguyễn (1824) Thiền sư Tâm Huy là người bản địa đã đứng ra trùng tu, do đường đi lên chùa quá dốc và khó đi nên ông đã cho lấy đá kè đắp thành những bậc thang để phục vụ cho việc đi lại dễ dàng hơn.

Những năm kháng chiến chống pháp và mỹ chùa không có ai đứng ra làm trụ trì nên không có ai trông coi và bảo quản nên chùa đã bị tan hoang và xuống cấp, thời gian đó chính quyền địa phương và nhân dân đã phá vỡ các công trình của chùa mang về làm nhà kho, trại chăn nuôi của hợp tác xã, ngôi Tam Bảo và nhà thờ Tổ cũ nát nên không bị phá mà giữ nguyên. 

Đến năm 2006 sư trụ trì là đại đức Thích Đạo Phong đã tổ chức quyên góp để tu sửa ngôi chùa làng Ninh Sơn, tổng thể chùa được quy hoạch và xây dựng lại mở rộng diện tích các tòa nhà. Ngôi Đại Hùng Bảo Điện vẫn duy trì theo hình chữ công, các công trình khác như đúc Đại hồng chung, nhà khách, điện thờ Mẫu, nhà thờ Tổ, lầu chuông, lầu trống và các công trình phục vụ sinh hoạt cũng  được tiến hành xây dựng, khôi phục lại.

Hiện vật

Trải qua nhiều thời kỳ biến động nay chùa không còn giữ được nhiều hiện vật cổ, trong khuôn viên chùa Linh Thông có một quả chuông đồng nặng 1,5 tấn đây được coi là chuông có trọng lượng lớn nhất vùng.

Đường lên chùa đã được người dân sửa sang lại, ô tô có thể lên đến sân chùa, tới thăm chùa du khách sẽ được thưởng thức không khí trong lành, yên tĩnh, trải qua ngàn năm lịch sử chùa Linh Thông vẫn giữ được nét cổ kính, khẳng định nền văn hoá vật thể, phi vật thể của dân tộc Việt Nam. 

Chú thích 

  1. Thiền Uyển Tập Anh, Nxb Đại Học Vạn Hạnh-Sài Gòn (1976-1999), tr 53. 

Tài liệu tham khảo 

  1. Trang thông tin Phật Giáo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 
  2. Thích Thanh Từ,Thiền sư Việt Nam, Nxb Tôn giáo. 
  3. Lê Mạnh Thát,Thiền Uyển Tập Anh, Nxb Đại Học Vạn Hạnh – Sài Gòn (1976-1999). 
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)