Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Thập Tháp hay còn gọi là Thập Tháp Di Đà nằm ở phía bắc thành Đồ Bàn, kinh đô của nhà nước Chiêm Thành xưa – nay thuộc địa phận Vạn Thuận, phường Nhơn Thành, Thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 27km về phía tây bắc.
Đây là ngôi tổ đình lâu đời nhất ở miền Trung, chứa đựng nhiều dấu tích lịch sử, gắn liền với tên tuổi vị khai sơn – Thiền sư Nguyên Triều.
Lịch sử và nhân vật
Vào khoảng thế kỷ XVII, đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1665), một nhà sư Trung Quốc, huý là Nguyên Thiều đã đến vùng đất Chiêm Thành, chọn một ngọn núi nằm sau thành Chàm và dựng một lều nhỏ (tranh am) để truyền đạo.
Theo cuốn “Đồ Bàn thành ký” có viết: “Than ôi! Những ngọn Tam Tháp và Thập Tháp có thể đổ nát (Thập Tháp trước kia có 10 toà tháp Chàm nên mới đặt tên như thế”.
Am nhỏ được xây dựng trên một ngọn núi cao có tên Thập Tháp, ở phía Bắc thành Đồ Bàn của người Chăm xưa. Tên gọi “Thập Tháp” bắt nguồn từ việc trên khu đồi này từng có 10 ngôi tháp Chiêm, sau bị sụp đổ và mất dần dấu tích.
Đến năm Quý Hợi, niên hiệu Chính Hoà đời Lê Hy Tông năm (1683), tức 18 năm sau, khi này qua thời gian 10 ngôi tháp chiêm đã bị hoàng tàn đổ nát, ngài đã dùng lại gạch đá từ các tháp chàm bị đổ để xây dựng thành chùa.
Đến năm Tân Mùi, niên hiệu Chính Hoà thứ 12, chùa Thập Tháp đã được chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) ban hiệu “Thập Tháp Di Đà Tự”, bản Sắc tứ này hiện treo truớc chánh điện là do Hòa thuợng Một Hoàng, trụ trì chùa Thiên Mụ làm lại, phụng cúng cho chùa vào năm thú I – Minh Mạng triều Nguyễn (1820).
Lịch sử ngôi chùa được “Đồ Bàn thành ký” ghi chép lại rõ ràng: “Sau lưng thành Chàm có núi Thập tháp, trước mặt núi có ngôi chùa danh tiếng, là nơi tu hành của vị sư bên Tàu tên gọi Hoán-bích hòa thượng, (chùa này xây dựng từ niên hiệu Chính hòa năm thứ 4 tức đời Lê Hy Tông 1683), trên biển có đề 5 chữ Thập Tháp Di-Đà Tự chúa Nguyễn Hiền-Tông hiếu minh hoàng đế ban cho (1691- 1725). Cách hơn một dặm về hướng tây, làm cây thông reo, tốt tươi xanh mướt, đó là Văn miếu thờ đức thánh Khồng. Phía đông miếu còn nền móng lũy xưa đó là bức thành của phủ Quy nhơn ngày trước (thành này thuộc huyện Phù Cát (吉), cách hơn dặm về phía bắc thành Đồ-bàn là nơi trước kia Nguyễn-Nhạc tụ họp quân mán kéo xuống đánh thành Quy nhơn, rồi tu sửa thành Đồ-Hàn đề làm quốc đô, còn nền móng thành Quy nhơn phế bỏ”.
Trong tập thơ về ca dao miền Trung đã có bài thơ nhắc đến vẻ đẹp và danh lam thắng cảnh của An Nhơn:
An Nhơn có núi Mò O
Có chùa Thập Tháp, có đò Trương Thi
Câu da dao nói về vẻ đẹp và các danh lam nổi tiếng ở Thị xã An Nhơn, Núi Mò O thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, trong khi chùa Thập Tháp là biểu tượng của văn hóa và tâm linh nơi đây. Đò Trương Thi gợi nhớ đến cuộc sống giản dị và gắn bó của người dân với dòng nước. Tất cả những hình ảnh này hòa quyện, phản ánh tình yêu và niềm tự hào về quê hương của người An Nhơn.
Mốc thời gian tu bổ chùa
Từ khi được xây dựng đến nay, ngôi chùa đã trải qua nhiều đợt trùng tu, lần trùng tu đầu tiên vào năm Minh Mạng thứ nhất (1820).
Lần thứ 2 vào năm Kỷ Tỵ đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1749), chùa được trùng tu lại trên quy mô lớn hơn.
Sau nhiều năm chịu ảnh hưởng của những trận chiến tranh quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh, ngôi chùa bị tàn phá và tiếp tục được cái sư trụ trì tu bổ.
Đến đời Hoà Thượng Minh Lý (1836-1889), ngôi chùa lại được trùng tu lại với quy mô lớn trong nhiều năm.
Hoà Thượng Vạn Thành (1865-1905) đã đúc một quả chuông lớn có đường kính 0,7m, cao 1,5m, nặng 835kg.
Năm 1924, Tam Quan và ngôi Phương Trượng của chùa được xây dựng lại.
Đời Hoà Thượng Huệ Chiếu (1898-1965) ngôi chùa tiếp tục được tu sửa.
Truyền thuyết Hòn Đá Chém
Hòn Đá Chém hiện nay được đặt ngay bậc thềm trước cửa khu Phương Trượng của Chùa Thập Tháp.
Hòn Đá Chém có màu trắng, bề mặt mịn, cao khoảng 40 cm, dài 1,5 m, rộng 1,3 m, 4 góc được đẽo 4 nét hoa văn đơn giản. Hòn đá được coi là vật chứng lịch sử chứng kiến sự trả thù tàn khốc của Nguyễn Ánh (Vua Gia Long) với Nhà Tây Sơn.
Tương truyền, khi Nguyễn Ánh đánh chiếm thành Hoàng Đế, liền mở cuộc trả thù tàn khốc. Lúc ấy, Nguyễn Ánh chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa sẽ không trả thù, ai bị trọng tội thì hình phạt cao nhất là đày vào miền Nam khai khẩn đất mới và ai có tài sẽ được trọng dụng. Sau lần chiêu dụ này, rất đông người có quan hệ dòng tộc với nhà Tây Sơn ra trình diện.
Nhưng sau đó, Nguyễn Ánh trở mặt, mang ra chém đầu bất kể già trẻ lớn bé rồi chôn tập thể. Đao phủ của Nguyễn Ánh dùng một tảng đá đặt ngay cổng thành Hoàng Đế, kê đầu nạn nhân lên đó mà chém. Hàng trăm đầu người lăn lóc trên hòn đá này, máu tràn ra hết lớp này đến lớp khác mà đao phủ không màn đến việc lau chùi. Nỗi oan khuất và đau đớn của hàng trăm con người như đã in lặn vào tảng đá kia, vì thế mà sau khi hoàn xong nhiệm vụ hành hình, dù có bao nhiêu quân lính đi chăng nữa vẫn không thể nhích được hòn đá ra khỏi chỗ cũ đấy. Và hằng đêm, người ta vẫn hay nghe trong tảng đá đó vẳng ra tiếng vang thảm, tiếng than khóc ai oán đến đáng sợ.
Sau đó một vị trụ trì chùa Thập Tháp xin được lập đàn cầu siêu để giải nỗi oan khuất. Sau 3 ngày đêm kinh kệ, nhà sư cho người mang hòn đá kia về chùa Thập Tháp, đặt cạnh cây thị cổ thụ. Đến thời Hòa thượng Phước Huệ làm trụ trì, hòn đá chém được chuyển vào để ngay bậc tam cấp trước khu Phương Trượng.
Cho đến hiện tại, truyền thuyết về Hòn Đá Chém vẫn được người trong vùng truyền tụng đời này qua đời khác, hòn đá như một điểm nhấn cho cảnh quan ngôi chùa vừa như một chứng tích lịch sử được lưu truyền.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Thập Tháp được bao quanh bởi lớp tường thành gạch xung quanh, trước cổng chùa có một hồ sen lớn rộng khoảng 500m2, xung quanh khung thành hồ được xây bằng gạch đá ong, trong khuôn viên chùa được trồng nhiều cây xanh tạo không gian mát mẻ và thanh tịnh cho ngôi chùa. Kiến trúc chùa Thập Tháp theo hình chữ Khẩu, toàn bộ đều được xây bằng gạch chàm, các công trình hiện tại gồm có: Cổng, Chính Điện, khu Phương Trượng, khu Đông Đường, khu Tây Đường, Vườn Tháp.
Cho đến hiện tại chùa Thập Tháp vẫn giữ nguyên được nét giản dị sau nhiều lần tu bổ.
Cổng
Chùa Thập Tháp có ba cổng, bao gồm một cổng chính và hai cổng phụ. Cổng chính chỉ được mở vào dịp lễ, ngày thường sử dụng cổng phụ để vào chùa.
Cổng chính chùa Thập Tháp được xây dựng trên nền cao hơn so với mặt đường 2 bậc thang lên xuống, phía trước được xây bao quanh bởi thành hàng rào tạo thành khoảng sân trước cổng. Cổng chùa được thiết kế với lối kiến trúc đơn giản, được tạo bởi hai trụ cổng, đây là hai trụ cố định xuống đất để giữ hai cánh cửa cổng và là phần kết nối giữa hàng rào xung quanh ngôi chùa.
Hai cột trụ cổng hình vuông cao khoảng 4 mét, chân đế và đầu trụ hình lồng đèn độc đáo, phần ô lồng đèn được trang trí đề tài mây, chim phượng. Trên đỉnh mỗi cột, đặt hai tượng sư tử ngồi, mặt hướng về phía trước, dáng vẻ uy nghiêm, canh gác cho ngôi chùa. Dọc theo thân cột, các dòng chữ Hán được chạm khắc và đắp nổi, khung ngang nối giữa hai cột khắc rõ chữ Hán “Thập Tháp”. Cổng chùa được thiết kế dạng mái vòm, uốn cong, đây là lối ra vào chính của chùa.
Ngay sau cổng chính là bức bình phong cao khoảng 1,5m, đặt trên bệ chân quỳ, mặt trước hiện nay theo thời gian đã không còn nhìn thấy hoạ tiết, mặt sau đắp nổi bức tranh Long Mã Hà đồ, trên lưng cõng hình bát quái. Đây là họa tiết khá phổ biến trong nhiều bức bình phong, thể hiện vũ trụ quan Đông Phương.
Còn hai cổng phụ có kiến trúc nhỏ và đơn giản hơn cổng chính, thân hai cột trụ cổng cũng được đắp nổi dòng chữ Hán, mái cổng lợp ngói, đây là lối ra vào chùa thường ngày.
Chính Điện
Khu Chính Điện được xây dựng trên nền cao hơn nền sân 3 bậc thang lên xuống, là công trình chính được xây dựng theo phong cách nhà rường, gồm ba gian hai chái được kết nối bởi bốn hàng cột cái, bốn hàng cột quân, tám cột con và 16 cột hiên. Ba gian giữa được làm cửa bức bàn, là lối ra vào chính, hai gian ở hai bên đầu đốc được xây kín, có trổ cửa sổ hình vuông. Đây là công trình được tạo dựng lần thứ 3 vào năm Kỷ Tỵ (1749) dưới thời Ngài Liễu Triệt.
Chính Điện được bao quanh bởi dãy hành lang dài 30m và rộng 20m. Công trình chủ yếu được xây dựng bằng gỗ, với những chạm khắc tinh xảo, thể hiện các chủ đề hoa sen, rồng và chim phượng cách điệu. Ba gian giữa là nơi thờ Đại Hùng Bảo Điện, hai gian phụ hai bên dành cho phòng chúng tăng.
Các khám thờ chính cao khoảng 5m, được chạm trang trí lưỡng long tranh châu, bên trong là các tượng: Tam Thế Phật, A Nan, Ca Diếp, Quan Thế Âm Bồ Tát, Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, Thập Bát La Hán, Thập Điện Diêm Vương. Trong đó bộ tượng Tam Thế Phật được đúc bằng đồng có chiều cao khoảng 2m, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đúc bằng đất nung, sơn thếp vàng, cao khoảng 0,9m. Hầu hết các bộ tượng trong Chính Điện đều được tạc vào thời Thiền sư Minh Lý trụ trì (1871-1889). Tại cột thờ trong Chính Điện có treo hai câu liễn sơn thếp vàng, được chúa võ Nguyễn Phúc Khoát, đạo hiệu Từ Tế Đạo Nhân (1738-1765) viết tặng.
Chính Điện chùa được lợp ngói mũi hài, trên nóc mái đặt lưỡng long chầu nhật, gắn đá xanh.
Phương Trượng
Nhà Phương Trượng tọa lạc phía sau Chính Điện, được xây dựng vào năm 1924 dưới sự chỉ đạo của Quốc sư Phước Huệ. Công trình gồm ba gian, trong đó các gian thờ được chạm khắc tỉ mỉ với nhiều họa tiết tinh xảo. Gian giữa là nơi thờ tự Hòa thượng Phước Huệ (1869-1945), vị cao tăng thuộc đời thứ 40 của dòng thiền Lâm Tế. Bên vách trái, có bài chí khắc gỗ do thị giảng học sĩ Lĩnh An Nhơn viết về chùa Thập Tháp.
Bên trong nhà Phương Trượng có treo tấm hoành phi “Y bát trùng quang” do Hòa thượng Khánh Phước, trụ trì chùa Linh Sơn, dâng tặng vào năm Canh Thìn (1880). Mái nhà Phương Trượng được lợp ngói âm dương, các lớp mái được sắp xếp cao thấp đan xen, tạo nên vẻ đẹp độc đáo.
Đông Đường
Đông Đường nằm đối xứng với nhà Tây Đường, đây là nơi tiếp khách và chỗ ở của tăng chúng. Tòa nhà này được xây dựng bởi Hòa thượng Kế Châu vào năm 1967. Kiến trúc của Đông Đường mang nét hiện đại hơn, với cách trang trí đơn giản, chỉ điểm xuyết bằng những câu liễn và hoành phi, tạo nên không gian rộng, thoáng mát.
Tây Đường
Tây Đường là nơi thờ phụng Tổ khai sơn Nguyên Thiều, cùng các vị Tổ sư kế thừa và những Phật tử đã viên tịch. Tây Đường được tu bổ dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Liễu Trí – Huệ Nhật. Kiến trúc của tòa nhà mang vẻ đẹp tương đồng với Phương Trượng, mái được lợp ngói âm dương.
Vườn Tháp
Vườn tháp Tổ chùa Thập Tháp nằm ở phía sau vườn, đây là nơi chôn cất các vị trụ trì và chư tôn túc trong chùa với 24 ngôi tháp cổ kính
Tất cả tháp đều xây dựng từ thế kỷ XIX-XX. Mỗi tháp đều có tường bao, phía trước có bức bình phòng che chắn và các linh thú ngay lối vào, các tháp có kích thước và số lượng tầng khác nhau.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội chùa Thập Tháp là lễ hội văn hóa tâm linh lớn diễn ra tại chùa Thập Tháp ở Bình Định. Đây là dịp để tưởng nhớ các vị tổ sư, đặc biệt là Tổ khai sơn Nguyên Thiều, và cầu an cho mọi người. Lễ hội thường được tổ chức vào ngày 21 tháng Giêng âm lịch hàng năm.
Trong lễ hội, có nhiều hoạt động phong phú như lễ rước kiệu, dâng hương, cúng lễ, và các buổi lễ cầu nguyện. Ngoài ra, lễ hội còn bao gồm các chương trình văn nghệ, biểu diễn nghệ thuật dân gian và các trò chơi truyền thống, mang đậm bản sắc văn hóa của địa phương. Đây không chỉ là dịp để tôn vinh tín ngưỡng Phật giáo mà còn là cơ hội để gắn kết cộng đồng và gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống.
Hiện vật
- Phía trước Chính Điện là hai bên hành lang có đặt một chuông lớn (hồng chung), chuông do ngài Vạn Thành đúc vào đời thứ V vua Thành Thái (1893). Chuông nặng 1 tấn, cao 1,5m, đưòng kính 1m, trên lưng có hoa văn, ghi tên họ những người cúng dường tôn tạo.
- Phía sau Chánh điện có tấm bia ghi bài minh Sắc tứ thập tháp Di Đà tự bi minh, do cư sĩ Dương Thanh Tu biên soạn, Hòa thượng Minh Lý lập năm Tự Đức thứ 29 (1876). Khắc 46 câu minh ca ngợi lịch sử và công đức của những người có công xây dựng chùa Thập Tháp.
- Khánh đồng có cấu tạo với hình dáng bán nguyệt với phần trong được uốn lượn như vân mây và phần giữa được khắc hình quầng lửa, phía trên được đục lỗ để treo lên giá.
- Pháp bảo của chùa Thập Tháp hiện còn nhiều tạng bảng in bằng gỗ và tạng kinh bằng giấy được bảo tồn nhiều đời cho đến bây giờ. Tạng bảng bằng gỗ gồm hơn 1.000 bảng: Kinh Di Đà Sớ Sao; Kinh Kim Cang Trực Sớ ; Kinh Pháp Hoa Khoa Chú. Tạng kinh bằng giấy được tàng trữ trong 2 tủ lớn, hiện có 389 bộ (được lưu trữ riêng).
Xếp hạng
Trải qua nhiều thập kỷ, đến nay chùa Thập Tháp ngày nay trở thành một công trình kiến trúc Phật giáo danh tiếng bậc nhất ở miền Trung và là một di tích văn hóa có giá trị lịch sử lớn. Vì vậy vào năm 1990, chùa Thập Tháp đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.
Tham khảo:
- Hoàng Giáp, Nguyễn Văn Hiển (1969), Đồ Bàn Thành Ký
- Chùa Thập Tháp, Hành Trình Khảo Sát Kiến trúc & Di Sản Phật Giáo Việt Nam (2023), Nxb Tôn Giáo.
- Những ngôi chùa nổi tiếng của Việt Nam (2016), Nxb Chính trị Quốc gia sự thật và Nxb Văn Học.
- Quách Tấn (1967), Nước non Bình Định, Nxb Nam Cường.
- Ca dao miền Trung, Từ điển danh ngôn
- Võ Văn Tường (2007),108 danh lam cổ tự Việt Nam, Nxb Thuận Hoá.

