Chùa Vân Hoạch (chùa Đại Lạp – Đông Anh, Hà Nội)

Chùa Vân Hoạch (chùa Đại Lạp – Đông Anh, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Vân Hoạch còn gọi là chùa Đại Lạp, tọa lạc tại thôn Xuân Canh, xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Đông Anh Là một vùng đất cổ nằm ở phía bắc Thủ đô, có bề dày phát triển và truyền thống văn hóa đặc sắc. Theo dấu lịch sử, từ thời kỳ dựng nước, Đông Anh đã sớm trở thành địa bàn sinh hoạt của cộng đồng cư dân Lạc Việt. Dưới thời An Dương Vương, Đông Anh hiện nay trở thành trung tâm của nước Âu Lạc với kinh thành Cổ Loa. Thời Hán chiếm Nam Việt, Đông Anh thuộc quận Giao Chỉ. 

Lịch sử và nhân vật

 Hiện chưa xác định được thời điểm khởi dựng chính xác của chùa. Tuy nhiên, căn cứ vào văn bia có niên đại Dương Hòa năm thứ 7 (1641), có thể khẳng định ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ XVII và đã nhiều lần được tu bổ, tôn tạo. Năm 1946, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, máy bay địch ném bom, bắn phá vào pháo đài Xuân Canh, khiến chùa bị hư hại nặng nề. 

Trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, ngôi chùa ngày nay mang diện mạo mới với quy mô rộng lớn, kiến trúc bề thế và bổ sung thêm nhiều hạng mục công trình.

Kiến trúc cảnh quan 

Ngôi chùa tọa lạc trên thế đất cao và thoáng rộng giữa làng, bao quanh là khu dân cư sinh sống. Chùa quay hướng Đông. Hiện nay, quần thể kiến trúc chùa gồm nhiều hạng mục thờ tự quan trọng như: Tam Quan, Tam Bảo, Nhà Mẫu, Nhà Tổ, Tịnh Xá và Vườn Tháp.

Tam Quan 

Cổng Tam Quan có kiến trúc bề thế, cân đối và mang đậm phong cách Phật giáo truyền thống kết hợp nét hiện đại. 

Công trình được xây dựng với ba lối vào chính, chia thành ba gian đối xứng, mỗi gian gồm ba tầng mái chồng diêm uy nghi, các đầu đao uốn cong mềm mại, tạo nên dáng vẻ thanh thoát. Mái được lợp ngói mũi hài nhiều lớp, đầu đao cong vút hình lưỡi rồng, gắn kèm các tượng linh thú và hoa văn tinh xảo. 

Hệ thống trụ cột được khắc nổi câu đối bằng chữ Hán, đỉnh trụ gắn lân chầu, khung cửa được đắp nổi hoa văn rồng mây, hoa lá cách điệu, các ô vòm cửa chạm khắc tinh vi hình hổ phù, tạo nên sự rực rỡ và trang nghiêm. Toàn bộ cổng được xây bằng gạch, bê tông sơn màu vàng nâu, kết hợp cùng hệ thống cửa gỗ. 

Tại mỗi lối đi đều bố trí cầu thang dẫn lên các tầng trên, đồng thời được liên kết với nhau qua những lối thông, tạo sự kết nối hài hòa trong tổng thể kiến trúc.

Tam Bảo 

Công trình được xây dựng với lối kiến trúc hiện đại, theo lối toà nhà hai tầng đổ mái bằng, tiết diện hình vuông. Xung quanh là hàng hiên chạy quanh bốn phía và có cầu thang dẫn lên các tầng. 

Trên nóc tầng hai được xây dựng một toà  nhà theo kiến trúc truyền thống, có kết cấu theo dạng chữ Công ( ) gồm hai tầng mái chồng diêm, mỗi tầng bốn mái, tường hồi bít đốc. 

Tiền Đường có kiến trúc gồm ba gian hai chái, mái lợp ngói ta truyền thống, các đầu đao uốn cong mềm mại tạo hình đầu rồng, hai bờ nóc gắn con kìm, chính giữa đỉnh mái đặt bánh xe pháp luân trên đài sen. Hệ thống cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản càng làm tăng vẻ uy nghi, cổ kính.

Kết cấu được chia thành bốn bộ vì kèo, kết cấu đồng dạng theo kiểu vì giá chiêng, mái phần thượng thủ – hạ ngồi. Gian giữa có cốn mê chạm nổi hoa văn vân triện xen lẫn họa tiết hoa lá mềm mại. Hai bức cốn ở gian hồi khắc họa hình rồng trong thế uốn lượn sống động. Toàn bộ kết cấu kiến trúc gỗ này được hoàn thiện vào cuối thế kỷ XX.

Hệ thống tượng thờ trong chùa hiện có 22 pho tượng lớn nhỏ bằng gỗ. Nổi bật nhất là pho Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn có niên đại từ thế kỷ XVII – XVIII. Tượng gần bằng người thật, thể hiện trong tư thế ngồi trên đài sen, tỷ lệ hài hòa, cân đối. Đài sen có niên đại muộn hơn (thế kỷ XVIII -XIX), gồm nhiều lớp cánh kép xếp chồng, cánh sen múp phồng, lòng cánh chạm hoa cúc và văn xoắn tinh xảo.

Khuôn mặt Quan Âm nhân hậu, đầy đặn, toát lên vẻ hiền từ. Đầu đội vương miện nhiều tầng nhỏ, trên đỉnh để lộ búi tóc. Tượng có tổng cộng 36 cánh tay, trong đó có hai đôi tay chính: đôi thứ nhất chắp trước ngực theo thế ấn Liên hoa, đôi thứ hai đặt trên đùi trong thế ấn Thiền định. Ba mươi hai cánh tay còn lại bố trí cao thấp khác nhau, bàn tay đều kết ấn quyết, chưa cầm pháp khí. Thân tượng thanh mảnh, áo để hở tay với nhiều nếp gấp uyển chuyển. Đặc biệt, phần đầu vạt áo được chạm bong, buông lửng thành múi nhọn mềm mại, gợi dấu ấn phong cách điêu khắc thời Mạc (thế kỷ XVI), cho thấy sự kế thừa tinh hoa nghệ thuật qua nhiều giai đoạn.

Tượng hậu tạc trên đá gồm 12 pho, kích thước nhỏ hơn người thực, đều ở trong tư thế ngồi khoanh chân, khuôn mặt mang nhiều nét dân gian. Các pho tượng này tạc trên 5 tấm bia đá, trên mỗi tấm bia đá đều tạo khung nhấn sâu để trang trí và để tạo độ nổi của mỗi pho tượng. Trong tổng số 12 pho tượng, chỉ có 4 pho tượng hậu (ở trên 2 tấm bia) là trên trán bia tạc hình tượng Phật Quan Âm ngồi trên đài sen. Riêng tấm bia tạc hình 3 pho tượng hậu, pho tượng ở giữa thể hiện tay theo kiểu kết ấn tam muội, hai pho hai bên áo mặc hở ngực, cổ đeo dây anh lạc, tay phải kết ấn cam lô, tay trái để ngang bụng mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX.

Nối giữa Tiền Đường và Hậu Cung phía sau là gian Ống muống. Hậu Cung được thiết kế rộng rãi, gồm hai tầng mái, là không gian thờ chính trong Tòa Tam Bảo.

Đặc biệt các tòa kiến trúc trong chùa đều được liên kết với nhau qua các cầu thang nối giữa các tòa nhà trong khuôn viên. 

Tịnh Xá

Hai bên Tam Bảo là hai dãy Tịnh Xá xây dựng theo lối kiến trúc nhà tầng. Mỗi dãy gồm hai tầng và mỗi tầng được phân chia thành nhiều gian phòng với công năng khác nhau, là không gian dành cho việc nghỉ ngơi, tiếp đón khách, đồng thời bố trí nhà khách và khu bếp phục vụ sinh hoạt.Các dãy nhà đều được nối liền với Tam Bảo bằng hệ thống cầu thang bắc ngang thông với nhau. 

Di vật 

Chùa còn lưu giữ 1 chuông đồng được đúc vào năm Cảnh Thịnh 6 (1798), 4 tấm bia nói về việc trùng tu, sửa chữa và bầu hậu ở chùa. 

  1. Bia Di Lặc tự bi công đức có niên đại sớm nhất  vào ngày 14 tháng 2 năm Dương Hòa 7 (1641). 
  2. Tấm bia thứ hai có niên đại Chính Hòa 23 (1692). 
  3. bia trụ 4 mặt Hậu phật bi ký, tấm bia đó có niên đại Khải Định 9 (1924) nói về việc bầu hậu của chùa. 

Ngoài ra chùa còn lưu giữ 2 bát hương đồng thế kỷ XIX, 1 khánh thờ gỗ thế kỷ XIX, 1 hoành phi gỗ đời vua Thành Thái (nhà Nguyễn), một câu đối đắp vữa, ngoài ra còn có các di vật như lộc bình, cây đèn, cây nến, mâm bồng…

Xếp hạng 

Chùa được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 10/8/2004.

 

Bản dịch Tiếng Anh

Name and Geographical Location

Van Hoach Pagoda, also known as Dai Lap Pagoda, is located in Xuan Canh village, Xuan Canh commune, Dong Anh district, Hanoi city.

Dong Anh is an ancient land situated in the north of the capital, with a long history of development and a rich cultural tradition. Since the early period of national formation, Dong Anh was already inhabited by the Lac Viet community. Under King An Duong Vuong, present-day Dong Anh became the political center of Au Lac with the Co Loa Citadel. During the Han occupation of Nam Viet, Dong Anh belonged to Giao Chi district.

History and Figures

The exact founding date of the pagoda remains uncertain. However, based on a stele dated to the 7th year of Duong Hoa (1641), it can be affirmed that the pagoda was built in the 17th century and has undergone multiple restorations. In 1946, during the resistance war against the French colonialists, enemy aircraft bombed Xuan Canh fortress, causing severe damage to the pagoda.

After several renovations, the pagoda now has a new appearance with a larger scale, imposing architecture, and additional structures.

Architecture and Landscape

The pagoda is located on an elevated, spacious site in the middle of the village, surrounded by residential areas. It faces east. The architectural complex currently consists of several important worship structures such as the Tam Quan Gate, the Main Sanctuary (Tam Bao), the Mother Goddess Hall (Nha Mau), the Ancestor Hall (Nha To), the Monastery (Tinh Xa), and the Tower Garden (Vuon Thap).

Tam Quan Gate

The Tam Quan Gate is a majestic and symmetrical structure, combining traditional Buddhist style with modern elements.

It has three main entrances, divided into three symmetrical compartments. Each compartment has three-tiered roofs with gracefully curved finials, creating a refined appearance. The roofs are tiled with multi-layered traditional curved tiles, with dragon-shaped tips adorned with sacred animal statues and intricate motifs.

The pillars are engraved with Chinese couplets, topped with kylin statues. Door frames are decorated with embossed patterns of dragons, clouds, flowers, and stylized motifs. Door arches are carved with ho phu (tiger-face motifs), adding brilliance and solemnity. The entire gate is built of brick and concrete, painted yellow-brown, combined with wooden doors.

Each entrance has stairs leading to the upper floors, interconnected by corridors, ensuring architectural harmony.

Main Sanctuary (Tam Bao)

The building follows a modern two-story square-plan structure with a flat roof, surrounded by verandas and stairs leading to the upper floors.

On the second floor sits a traditional-style building shaped in the form of the Chinese character gong (工), with two-tiered roofs, each with four slopes.

The front hall (Tien Duong) has three compartments with traditional tiled roofs. The roof ridges are adorned with dragon heads and con kim (mythical ornaments). At the center sits the Dharma Wheel (Phap Luan) atop a lotus pedestal. The wooden doors with vertical and horizontal bars enhance the solemn and antique look.

The wooden framework is divided into four sets of trusses, following the gia chieng structure. The middle bay features carved motifs of clouds and flowers. Side bays are decorated with dynamic dragon carvings. This wooden structure was completed in the late 20th century.

Inside the sanctuary, there are 22 wooden statues. The most remarkable is the statue of Avalokitesvara (Quan Am Thien Thu Thien Nhan) from the 17th–18th centuries. Nearly life-sized, it depicts the Bodhisattva seated on a lotus pedestal, with a serene face and multiple arms (36 in total). Two pairs of main arms form mudras, while the others are positioned differently, symbolizing compassion and protection.

Additionally, there are 12 smaller stone-carved statues, arranged on five stone steles, all in meditative seated postures, bearing folk characteristics. Some bear the artistic style of the 18th–19th centuries.

The rear sanctuary (Hau Cung), connected to the front hall by a corridor, serves as the main worship space with a two-tiered roof.

Monastery (Tinh Xa)

On both sides of the main sanctuary are two monastery blocks, each two stories high, designed for rest, guest reception, and daily activities, connected to the main sanctuary by stairways.

Relics

The pagoda preserves one bronze bell cast in the 6th year of Canh Thinh (1798), and four steles documenting restorations and donations.

  • The Di Lac Tu Bi Cong Duc stele (1641) is the earliest.

  • The second stele dates to the 23rd year of Chinh Hoa (1692).

  • The four-sided Hau Phat Bi Ky stele (1924, Khai Dinh 9) records patronage details.

Other relics include two bronze incense burners (19th century), a wooden ritual bell (19th century), a wooden horizontal board from the reign of Emperor Thanh Thai, parallel sentences, vases, lamps, candles, and offering trays.

Classification

On August 10, 2004, the pagoda was recognized as a National Historical Relic.


中文翻译

名称与地理位置

云霍寺,又称大立寺,位于河内市东英县春耕乡春耕村。

东英是首都北部的一片古老土地,历史悠久,文化传统丰富。自建国之初,东英便是骆越人聚居的区域。安阳王时期,这里成为瓯骆国的中心,建有古螺城。汉代占领南越时,东英属交趾郡。

历史与人物

寺庙的确切建造年代尚未确定。然而,根据大阳和七年(1641)的石碑,可以确认寺庙建于十七世纪,并多次修缮。1946年,抗法战争期间,敌机轰炸春耕要塞,寺庙严重受损。

历经多次重修,如今的寺庙规模宏大,建筑雄伟,并增建多项工程。

建筑与景观

寺庙建于村中高阔之地,四周为民居。寺庙朝东。现有建筑群包括山门(三关门)、三宝殿、母堂、祖堂、精舍和塔园。

三关门

山门气势宏伟,布局对称,融合传统佛教与现代风格。

共有三道正门,分三间对称,每间均为三层屋顶,檐角柔和弯曲。屋顶覆盖多层瓦片,脊饰龙首,配以灵兽与精美纹饰。

石柱镌刻楹联,柱顶饰麒麟,门框浮雕龙云花草,拱门雕虎符,庄严辉煌。整体以砖石混凝土建造,涂黄褐色,配以木门。

每道门均设楼梯通往上层,并以通道相连,形成和谐整体。

三宝殿

主体建筑为现代两层方形平顶结构,四周有回廊与楼梯。

二层屋顶上建有传统式建筑,呈“工”字形布局,双层屋顶,每层四面坡。

前殿(三间两厦)覆以传统瓦片,檐角饰龙首,屋脊安置金饰与法轮宝相。木质格扇门更添庄严古朴。

屋架分四组梁架,中间梁雕祥云花纹,两侧梁雕盘龙。此木构于二十世纪末完成。

殿内供奉22尊木雕佛像,其中最著名的是十七至十八世纪的千手千眼观音像,近乎真人大小,坐于莲台,面容慈祥,共36臂,双手结莲花印与禅定印,其余手臂作不同姿态,象征慈悲护佑。

另有12尊石刻小佛像,分布于五块石碑上,皆为结跏趺坐姿,具民间特色,部分呈十八至十九世纪艺术风格。

后殿与前殿以甬道相连,为主要供奉空间,双层屋顶。

精舍

三宝殿两侧各建两层精舍,用于休憩、接待与生活,并以楼梯与主殿相连。

文物

寺内保存一口铸于景盛六年(1798)的铜钟,及四通石碑记载修缮与功德:

  • 最早为阳和七年(1641)《弥勒寺碑功德》。

  • 第二通为正和二十三年(1692)。

  • 第三通为启定九年(1924)《后佛碑记》。

另有十九世纪铜香炉两件、木磬一件、成泰年间木匾一块、对联一副,以及瓷瓶、灯具、烛台、供盘等。

定级

2004年8月10日,寺庙被列为国家级历史遗迹。


Traduction Française

Nom et situation géographique

La pagode Van Hoach, également appelée pagode Dai Lap, est située au village Xuan Canh, commune de Xuan Canh, district de Dong Anh, ville de Hanoï.

Dong Anh est une terre ancienne du nord de la capitale, dotée d’un long développement historique et d’une riche tradition culturelle. Depuis la période de formation du pays, Dong Anh était déjà habitée par les Lac Viet. Sous le règne d’An Duong Vuong, elle devint le centre politique du royaume d’Au Lac avec la citadelle de Co Loa. Durant l’occupation Han du Nam Viet, Dong Anh appartenait au district de Giao Chi.

Histoire et personnages

La date exacte de fondation de la pagode reste inconnue. Toutefois, d’après une stèle datée de la 7e année de Duong Hoa (1641), il est certain qu’elle fut construite au XVIIe siècle et restaurée à plusieurs reprises. En 1946, lors de la résistance contre les Français, la pagode fut gravement endommagée par les bombardements de la forteresse de Xuan Canh.

Après plusieurs restaurations, elle présente aujourd’hui une apparence nouvelle, de grande envergure, avec une architecture imposante et de nombreux bâtiments annexes.

Architecture et paysage

La pagode est située sur un terrain surélevé et spacieux au centre du village, entourée d’habitations. Elle est orientée à l’est. L’ensemble architectural comprend plusieurs édifices importants : le portail Tam Quan, le sanctuaire principal (Tam Bao), la salle de la Mère (Nha Mau), la salle des Ancêtres (Nha To), le monastère (Tinh Xa) et le jardin des tours (Vuon Thap).

Portail Tam Quan

Le portail Tam Quan est majestueux et symétrique, alliant style bouddhique traditionnel et éléments modernes.

Il comporte trois entrées principales, chaque travée étant couverte de toits à trois niveaux superposés, aux extrémités recourbées. Les toits sont recouverts de tuiles traditionnelles, ornés de dragons, d’animaux sacrés et de motifs raffinés.

Les piliers portent des inscriptions en caractères chinois, surmontés de statues de qilin. Les encadrements de portes présentent des motifs en relief de dragons, nuages et fleurs, tandis que les arcs sont sculptés de figures de ho phu. L’ensemble, en brique et béton peint en brun-jaune, est complété par des portes en bois.

Des escaliers mènent aux étages supérieurs et relient les différentes parties de l’édifice.

Sanctuaire principal (Tam Bao)

L’édifice adopte une structure moderne de deux étages carrés à toit plat, entourée de galeries et d’escaliers.

Au-dessus, un bâtiment de style traditionnel en forme du caractère « gong » (工), avec toitures superposées, a été construit.

La salle antérieure (Tien Duong) comprend trois travées couvertes de tuiles traditionnelles, aux extrémités recourbées en forme de tête de dragon. Le faîte central est orné d’une roue du Dharma posée sur un lotus. Les portes en bois renforcent la majesté et l’ancienneté de l’édifice.

La charpente se compose de quatre ensembles de fermes, décorées de motifs de nuages et de fleurs, ainsi que de dragons en mouvement. Elle fut achevée à la fin du XXe siècle.

Le sanctuaire abrite 22 statues en bois. La plus remarquable est une statue d’Avalokiteshvara aux mille mains et mille yeux (Quan Am Thien Thu Thien Nhan), datant des XVIIe–XVIIIe siècles. Presque grandeur nature, elle est représentée assise sur un lotus, avec 36 bras disposés en différents gestes symboliques.

On conserve aussi 12 statues plus petites sculptées dans la pierre, disposées sur cinq stèles, représentant des figures méditatives, dont certaines relèvent du style des XVIIIe–XIXe siècles.

La salle postérieure (Hau Cung), reliée par un couloir, constitue l’espace de culte principal.

Monastère (Tinh Xa)

De part et d’autre du sanctuaire se trouvent deux bâtiments à deux étages servant de dortoirs, de salles d’accueil et de lieux de vie, reliés au sanctuaire par des escaliers.

Vestiges

La pagode conserve une cloche en bronze fondue en la 6e année de Canh Thinh (1798) et quatre stèles relatant réparations et donations :

  • La stèle Di Lac Tu Bi Cong Duc (1641) est la plus ancienne.

  • Une autre date de la 23e année de Chinh Hoa (1692).

  • La stèle Hau Phat Bi Ky (1924, 9e année de Khai Dinh) traite du patronage.

S’y ajoutent deux brûle-parfums en bronze du XIXe siècle, une cloche en bois, une planche horizontale de l’époque de l’empereur Thanh Thai, des sentences parallèles, ainsi que des vases, lampes, chandeliers et plateaux d’offrandes.

Classement

Le 10 août 2004, la pagode a été classée monument historique national.

Tài liệu tham khảo

    1. Vũ Văn Quân (2022), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long Hà Nội, tập 10, Nxb Hà Nội. 
    2. Chuyên đề Địa chí Đông Anh, Thư viện Hà Nội. 
    3. Bản vẽ thiết kế chùa Vân Hoạch, Đông Anh, Bản vẽ nhà đẹp cộng đồng kiến trúc sư Việt Nam. 
    4. Flycam: Lê Ngọc Cương, Chùa Vân Hoạch Xã Xuân Canh – Đông Anh – Hà Nội. 
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin
Chua van hoach Đong anh ha noi (nguon gg map) (2)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)