Nhân vật thờ tự
Trong thần tích về Hùng Vương và An Dương Vương cùng truyền thuyết dân gian, thì Thục Phán là vị vua sáng lập nhà nước Âu Lạc – nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau Văn Lang.
Kể rằng: Vua muốn xây thành ốc. Theo truyền thuyết, nhà vua gặp yêu quái phá hoại liên tục, xây xong lại đổ, mất bao công sức vô ích. Vua buồn lắm, bèn lập đàn trai giới cầu đảo bách thần. Ngày mùng 7 tháng Ba, có một cụ già từ phương Đông đến trước cửa thành than rằng:
“Xây thành này biết bao giờ mới xong được!”
Vua mừng rỡ đón vào điện, hỏi:
“Ta xây thành này đã nhiều lần bị lở, tốn công sức mà không thành, là cớ làm sao?”
Cụ già đáp:
“Sẽ có sứ Thanh Giang đến giúp, khi đó mới thành công”.
Sau đó, được sự giúp đỡ của Rùa Vàng từ phương Đông nổi lên mặt nước, xưng là Thanh Giang sứ, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỷ thần. Thành được xây xong nhanh chóng, rộng hơn ngàn trượng, bề thế, xoắn như hình trôn ốc nên gọi là Loa thành.
Vua cảm tạ. Lúc Rùa Vàng từ biệt, vua hỏi:
“Nay nếu có giặc ngoài thì lấy gì chống giữ?”
Rùa đáp:
“Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy là do mệnh trời. Con người có thể tu đức mà kéo dài thời vận…”
Rồi rùa tháo vuốt, đưa tặng vua và nói:
“Dùng vật này làm lẫy nỏ, bắn quân giặc thì bách phát bách trúng.”
Vua sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy, gọi là “Linh Quang Kim Quy thần cơ”. Sau này, Triệu Đà sang xâm lược, vua dùng nỏ bắn, quân Đà tan vỡ, phải xin hòa. Sau đó, Đà cầu hôn. Vua vô tình gả con gái là Mỵ Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy. Trọng Thủy dỗ vợ xem nỏ thần rồi ngầm làm một cái lẫy khác thay vuốt rùa. Trước khi về phương Bắc, Thủy hỏi vợ cách làm dấu nếu chẳng may hai nước cách biệt. Mỵ Châu nói sẽ rắc lông ngỗng từ chiếc áo mình mặc.
Đà đem quân đánh, vua tin vào nỏ thần nên vẫn điềm nhiên đánh cờ. Nhưng khi cầm nỏ bắn, thấy không hiệu nghiệm, biết đã bị tráo lẫy, vua bỏ chạy. Trọng Thủy lần theo dấu lông ngỗng, đuổi theo. Đến bờ biển, vua gọi Rùa Vàng, rùa hiện lên chỉ: “Kẻ ngồi sau là giặc!” Vua tuốt kiếm giết con gái. Mỵ Châu khấn rằng: nếu phản nghịch, chết hóa bụi tro, nếu bị lừa thì hóa châu ngọc rửa sạch nhục thù. Máu nàng chảy xuống biển, trai sò ăn vào hóa ngọc.
Vua theo Rùa Vàng xuống biển. Trọng Thủy đem thi hài vợ về Loa thành, táng tại đó. Sau tự tử tại giếng – gọi là giếng Ngọc. Dân gian lưu truyền lấy ngọc ở biển rửa bằng nước giếng thì trong sáng thêm.
Vùng Cổ Loa còn giữ được nhiều di tích có giá trị mà truyền thuyết đã nhắc đến: đền thờ Thục Phán An Dương Vương, am Bà Chúa thờ Mỵ Châu, đường Mèn (nơi phát hiện hàng vạn mũi tên đồng – vũ khí của vua Thục)… Đền thờ An Dương Vương nằm tại xóm Chùa, còn gọi là đền Thượng. Trước đền có hai con rồng đá, sân đền lát đá xanh, theo bia ký thì đền xây dựng năm 1687 và tu sửa năm 1893.
Địa điểm
- Đền thờ An Dương Vương, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh
Đền thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh. Xã Cổ Loa gồm ba làng: Chùa, Đông và Đoài. Xưa, ba làng gồm mười hai xóm, nay tên gọi vẫn còn như chứng tích của lịch sử: Thượng, Nhồi, Dõng, Gà, Lan Trì, Chùa, Chợ, Vang, Hương, Mít, Bãi và Trại. Mười hai xóm ấy xưa nay vẫn cùng nhau thờ phụng, trông coi di tích nổi tiếng này của cả nước, và hằng năm cứ mùng 6 tháng Giêng lại mở hội để tưởng nhớ An Dương Vương, nhắc lại một trang sử cổ đại vừa oai hùng, vừa bi thảm của đất nước, gắn liền với một mối tình éo le nổi tiếng, đồng thời là một bài học lớn về tinh thần cảnh giác.
Phía tây đền An Dương Vương có một gò đất cao – nơi xưa vua lập miếu thờ Thần Nông, hiện nay là nhà bia. Cách cổng đền không xa, trước mặt là ao tròn, giữa ao là cồn đất có giếng nhỏ xây gạch – tương truyền là giếng Ngọc nơi Trọng Thủy nhảy xuống tự tử. Cách đó vài trăm mét là am Bà Chúa, cạnh đình Cổ Loa. Tại đây có cây đa cổ thụ toả bóng mát lên am. Am gồm thượng điện và hạ điện, trong đó có tượng công chúa Mỵ Châu phủ vải vàng – thực chất là một hòn đá tự nhiên kỳ dị. Hai bên là tượng mười hai nàng hầu. Phía sau bàn thờ là mộ Mỵ Châu – một khối đá xây kín ba bề, theo lời truyền dân gian.
Lễ hội
Từ lâu trong dân gian đã lưu truyền câu:
Chết thì bỏ con bỏ cháu, sống thì không bỏ mồng 6 tháng Giêng
để nói lên sự hấp dẫn của lễ hội Cổ Loa. Xưa, hội bắt đầu từ ngày mồng 6 đến hết ngày 18 tháng Giêng. Tương truyền ngày 6 tháng Giêng là ngày Thục Phán nhập cung và ngày mồng 9 tháng Giêng là ngày ông lên ngôi, khao toàn bộ binh sĩ. Cho nên để nhớ ngày long trọng ấy dân Cổ Loa cùng tám xã hộ nhi rước kiệu mở hội đông vui cả một vùng.
Cũng từ lâu các triều đại phong kiến hết sức chú ý giúp dân địa phương chăm lo hương khói tại đền. Chỉ dụ lâu đời nhất đề niên hiệu Lê Thần Đức (1614) còn ghi: cấp cho xã Cổ Loa năm mươi mẫu ruộng tế điền miễn thuế để trông coi đền miếu. Các đời vua Vĩnh Tộ (1620), Phúc Thái (1649), Cảnh Trị (1673), Vĩnh Thịnh (1708), Long Đức (1735), Vĩnh Hựu (1793) đều có chỉ dụ nhắc lại.
Lễ vật dùng cho tế lễ ngoài sự đóng góp của các giáp còn có hoa lợi của số ruộng đã kê trên. Trong đó có hai mươi mốt mẫu dùng cho làm cỗ bỏng, hai mươi nhăm mẫu dành cho lễ. Ngoài ra là để hương khói ngày thánh sinh, thánh hóa.
Cổ Loa còn kết chạ với tám xã khác ở xung quanh vùng thờ An Dương Vương từ ngày mồng 6 tháng Giêng. Do vậy hội đền An Dương Vương là một hội lớn trong vùng với sự tham gia không chỉ riêng dân xã Cổ Loa mà của các làng kết nghĩa nữa.
Ngày mồng 6 tháng Giêng là ngày chính hội nhưng dân làng đã tiến hành lễ nhập tịch từ ngày 14 tháng Chạp. Năm phong đăng hòa cốc thì lễ nhập tịch được tiến hành rất long trọng. Khắp nơi trong làng đường sá được sửa sang, quét dọn sạch sẽ. Các di tích được quét dọn, lau chùi tu bổ, đồ tế khí, cờ quạt được trưng bày… để chuẩn bị.
Ngày 18 tháng Chạp là ngày lễ gia quan. Áo mũ của thần được đem ra đặt lên kiệu rước về đền nơi thần ngự. Những người khiêng kiệu hôm đó phải chay tịnh từ trước. Các người hành lễ cũng phải giữ thanh khiết, bịt miệng bằng vải đỏ trong lúc phong bao áo mũ cho thần. Sau đó được tiến hành một tuần tế – tế gia quan.
Lễ rước văn và rước kiệu của các làng
Trước hội, phe tư văn trong làng đã lựa chọn người văn hay chữ tốt viết chúc văn tế thần. Người đó còn phải là người đỗ đạt cao, có tài văn chương được mọi người tín nhiệm. Phe tư văn có văn chỉ và có ruộng tư văn ba mẫu để chi vào việc hội họp và nghi lễ trong năm.
Từ sớm ngày mồng 6, một đoàn người mang lễ phục cầm cờ quạt, tàn, lọng đình, dẫn đầu là chủ lễ mặc áo thụng xanh, đội mũ tế đến nhà ông diễn văn rước bản văn ra đền. Đám rước rất nghiêm trang và lộng lẫy. Một hồi tù và rúc lên, báo hiệu đám rước văn đã tới. Ông cai đám ở đền Thượng ra nghênh tiếp bản văn và rước vào, trịnh trọng đặt lên hương án. Đoàn người lần lượt lễ thần rồi lui ra.
Trong khi dân làng Cổ Loa rước văn ra đền thì bảy xã lân cận cũng tiến hành cuộc rước kiệu của mình tới đền Cổ Loa. Từ khắp các ngả đường, đâu đâu người ta cũng gặp các đám rước với cờ quạt, nghi trượng, kiệu, phường bát âm và màu cờ sắc áo lễ phục rực rỡ của mọi người tạo nên quang cảnh ngoạn mục giữa tiết trời xuân. Đám rước của các xã đến đầu làng thì Cổ Loa cử người ra nghênh đón và đưa vào đền Thượng. Trước cửa đền Thượng là hai con ngựa gỗ to như ngựa thật được trang trí đủ ngù, đai thêu kim tuyến rất đẹp. Trên lối đi vào nội điện là hai hàng cờ quạt, chấp kích xếp hàng song song. Khoảng giữa sân là kiệu của các xã. Trước cửa đền là hương án lớn bày bộ ngũ sự bằng đồng và các lễ vật cùng hộp kính đựng hia vàng. Bên cạnh là hương án nhỏ trên bày chiếc đỉnh và đôi hạc đồng cùng chiếc nỏ, bó tên và một thanh kiếm. Nỏ sơn son thếp vàng, biểu trưng của chiếc nỏ thần xưa. Không khí hội thật nhộn nhịp, quang cảnh thật là hoành tráng.
Điều đáng lưu ý là lễ vật dâng lên ngoài hương, hoa, oản, quả và xôi thịt, còn có cỗ bánh dày, cỗ bỏng và chè lam. Tương truyền đó là những thứ mà An Dương Vương dùng để khao quân.
Mặt khác, theo nghi thức, đây là tế hội đồng, bảy xã cùng với Cổ Loa thay phiên nhau hành lễ. Thường Cổ Loa là chủ nên được tế trước, nhưng bao giờ cũng vậy, Cổ Loa mời làng Quậy (Liên Hà) tế đầu tiên. Vì người làng Quậy mới là dân gốc ở đây. Cuộc đại tế đến quá ngọ (mười hai giờ trưa) mới hoàn tất. Mỗi xã cử bốn quan viên vào lễ tạ. Mọi động tác nghi lễ đều tuân theo hiệu trống, chiêng. Trong lúc đó, ở nội tự, đại diện các xã cầu nguyện nhà vua phù hộ cho làng mình được bình yên, thịnh vượng.
Tiếp là lễ nghênh rước thần từ đền sang đình để thần dự hội. Đám rước này khá đặc biệt, từ đền Thượng đi vòng qua giếng Ngọc ra đến đầu làng rồi thần về ngự tại đình Cổ Loa. Tuy đường ngắn nhưng đám rước đi rất chậm và kéo dài thời gian. Tất cả kiệu của các làng đều dự rước. Đây là đám rước uy nghiêm và lớn nhất. Đến tam quan, các kiệu dự lễ ban phúc trước lúc ra về. Ông chủ tế của làng Cổ Loa thắp hương, xóc thẻ, rồi ban phúc cho các xã bằng cách cắm cho mỗi kiệu ba nén hương. Hương này đủ cháy cho đến khi kiệu về tới xã mình. Sau đó, Cổ Loa vào tế một tuần cuối cùng tại đình, kết thúc nghi lễ ngày chính hội.
Kể từ đó cho hết hội, tại đền và đình tiến hành lễ túc trực, và lễ của các phe, giáp, các dòng họ cũng như các đoàn thể khác và khách thập phương cùng lễ vật tự lo liệu.
Trong suốt mười hai ngày đêm, tại đền và đình đều có lễ túc trực. Đến 18 tháng Giêng, người ta tổ chức một đại tế giã đám tại đền. Các nghi thức của buổi lễ cử hành y như đại lễ ngày chính hội. Sau cùng, thần vị được rước hoàn cung và kết thúc hội. Ngày nay, làng mở tiệc ăn uống vui vẻ, mọi người cùng nhau hưởng lộc thanh, lấy khước cho một năm làm ăn với nhiều hy vọng.
Ngoài lễ hội lớn này, tại đền trong năm còn có những kỳ tế khác, đó là ngày 11 tháng Tám tục truyền là sinh nhật của An Dương Vương, và mồng 7 tháng Ba là ngày thánh hóa. Riêng ngày thánh sinh, ở đây dân làng còn tổ chức nhiều trò vui vẻ đặc sắc và tổ chức ăn uống linh đình để mừng thánh ra đời. Còn ngày thánh hóa chỉ tế lễ mà không có tiệc tùng, ca hát gì.
Dân Cổ Loa còn có phong tục đặc sắc nữa là lễ “ăn sên Bà Chúa” tức là lễ ăn hỏi công chúa Mỵ Châu vào ngày 13 tháng Tám.
Các trò vui hội hè ở Cổ Loa được tiến hành tại sân đình và xung quanh các nơi thờ tự. Cũng như các hội làng ở Bắc Bộ, hội Cổ Loa có những trò vui như cờ người, đấu vật, chọi gà, đu, tổ tôm, hát tuồng, chèo…
Cờ người là cuộc thi thú vị diễn ra tại sân đền. Tùy theo từng năm số người đăng ký đấu nhiều hay ít mà người ta phân bảng hay đấu vòng. Thường thường số người chơi không nhiều mà thời gian hội dài nên người ta tổ chức đấu vòng. Ai muốn dự thi phải được khảo, nếu là người cao cờ mới được chơi. Trước khi vào cuộc đấu, phải vào lễ thánh.
Cứ lần lượt đấu loại nhau, những người giữ giải đến ngày cuối là người thắng cuộc. Ngày cuối cùng đông vui nhất vì là ngày phá giải cờ. Ai phá giải thì được suy tôn là người giỏi cờ nhất hội năm đó. Thường thường vì danh dự nên các làng đều cử những tay cờ giỏi nhất của mình đến tham gia. Thắng cờ là niềm vinh dự lớn cho cả làng.
Trò đấu vật lại diễn ra ở bãi đất ngoài đình. Nếu như ở giải cờ là cuộc đấu trí thông minh, thì ở giải vật là tinh thần thượng võ, sức khỏe, sự nhanh nhẹn và không kém phần thông minh. Do vậy giải vật cũng là một giải mang vinh dự lớn cho các đô và dân làng. Giải vật chia ba bậc: giải cọc, giải thứ và giải cuộc. Mỗi bậc có thể có nhiều người được giải. Giải cuộc là giải cho tất cả các đô vật vào giáp, dù là thắng hay thua. Giải thưởng thường là ấm đồng, mâm thau, vò rượu hay thùng gạo nếp… Các chàng trai đua nhau đọ sức so tài không chỉ vì giải mà còn là dịp để phô bày sức khỏe và tài nghệ của mình trước bàn dân thiên hạ, trước mắt các cô gái trong vùng. Đối với họ đó là niềm vui, niềm vinh dự mà hội làng mang đến, chứ không chỉ là sự ăn thua.
Chọi gà cũng là một trong những trò vui nổi tiếng ở hội đền Cổ Loa. Vùng này cũng là vùng hay tổ chức đấu gà chọi và nuôi gà chọi. Do vậy dịp hội người ta đem đến đây những cặp gà đã được nuôi nấng, luyện tập rất công phu để tranh giải. Các cụ cho biết thời xa xưa hội Cổ Loa có đánh trống đồng, nam nữ từng đôi “giã trống” (như giã cối gạo chày tay). Tiếng trống đồng trầm hùng vang vang như thôi thúc con người ở núi, ở rừng.
Ngoài những cuộc vui trên, trong hội Cổ Loa còn nhiều trò và cuộc đua tài khác không kém phần hấp dẫn như tổ tôm điếm thu hút các cụ già, nhún đu lò xo kéo các trai thanh gái lịch, múa rối nước, hát cửa đình… Ban đêm có hát tuồng, chèo. Đây là những đêm hội mà xưa kia, người dân quê ai ai cũng say mê đến mức có thể “bỏ con bỏ cháu” để về với hội. Những trò vui ấy kéo dài suốt từ ngày mở đám cho đến ngày giã hội.
Trích nguồn:
Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
Tài liệu tham khảo
- Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, bản dịch Trần Quốc Vượng, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1990, tr. 65.
- Ngô Sĩ Liên (chủ biên), Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.
- Khuyết danh, Việt sử lược, bản dịch của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960.
- Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội – Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Di sản Văn hóa, Di tích và lễ hội Cổ Loa, Hà Nội, 2005.
- Ngô Đức Thịnh, Hội làng Việt cổ truyền, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002.
- Lê Trung Vũ (chủ biên), Từ điển lễ hội truyền thống Việt Nam, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003.
- Tập thể tác giả, Lịch sử Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 2010.
- Thần tích xã Cổ Loa, bản lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Phòng Văn hóa Thông tin huyện Đông Anh.



