Chùa Vạn Niên (Tây Hồ, Hà Nội)

Chùa Vạn Niên (Tây Hồ, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Vạn Niên thuộc địa phận thôn Vệ Hồ, xã Xuân La, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Xuân La là một trong 24 xã thuộc huyện Từ Liêm (cũ), khi thành phố lập thêm quận Tây Hồ, Xuân La được cắt về quận và trở thành phường Xuân La. Sau đợt sáp nhập địa giới hành chính năm 2025, chùa thuộc địa phận phường Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Lịch sử và nhân vật

Lịch sử 

Về sự ra đời của chùa với tên Vạn Niên không thấy sử sách ghi chép lại, tòa nhà có dấu vết sớm nhất hiện nay tìm được cũng chỉ mang dấu ấn của thế kỷ XIX là toà Thượng Điện. Nhưng qua khảo sát lại thấy hệ thống tường và chân móng Thượng Điện đều được xây bằng những viên gạch vồ lớn, loại vật liệu thường gặp ở các loại hình kiến trúc thời Lê, do đó có thể khẳng định, muộn nhất chùa Vạn Niên cũng xây dựng từ thời Lê. Nhưng hầu như suốt triều Lê rất ít chùa chiền được xây dựng mới (trừ một vài chùa của nhà nước) mà hầu hết là trùng tu và sửa chữa những ngôi chùa cũ, bởi vậy, chùa Vạn Niên có lẽ phải được làm từ trước đó.

Một số thư tịch cổ như Thiền Uyển tập anhThăng Long cổ tích khảo đều khẳng định chùa Vạn Niên ở ấp Quán La thuộc xã Xuân La vốn là chùa Vạn Tuế đổi tên thành. Nếu như vậy thì chùa Vạn Niên (Vạn Tuế) có niên đại khởi dựng tuyệt đối là năm Thuận Thiên thứ 2 triều Lý (1011) tức là chỉ 1 năm sau khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tân Hợi, [Thuận Thiên] năm thứ 2 [1011]… ở trong thành bên tả dựng cung Đại Thanh, bên hữu dựng chùa Vạn Tuế, làm kho Trấn Phúc”. Sách Tây Hồ chí phần Chùa am cũng ghi: “Vạn Niên tự (萬年寺): Chùa ở bờ phía tây Hồ Tây, thuộc địa phận ấp Quán – La(觀羅邑), thời cổ tên Vạn Tuế (萬歲寺), sau đổi ra Vạn Niên (萬年寺)”.

Hơn nữa, thông tin về chùa Vạn Tuế còn nhiều lần được ghi chép trong Toàn thư, chắc hẳn đây là một ngôi chùa lớn và có vai trò quan trọng trong tín ngưỡng của dân tộc: “Năm 1014… tháng 5, Hữu nhai Tăng thống là Thẩm Văn Uyển tâu xin lập đàn chay ở chùa Vạn Tuế để cho Tăng đồ thụ giới. Vua chuẩn tâu”; “Năm 1028… tháng 5, ngày 6, có dấu vết của thần nhân hiện ra ở chùa Vạn Tuế” hay“Năm 1029… mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, trời mưa gạo trắng thành đống trước bậc thềm chùa Vạn Tuế”.

Năm 1044, trong nhóm tù binh mà vua Lý Thái Tông đưa từ Chiêm Thành về Thăng Long có Thảo Đường, người được giao làm nô cho một vị Tăng Lục. Vị Tăng lục viết Ngữ lục để trên bàn, có lần ra ngoài, Thảo Đường lén sửa lại. Vị Tăng lục ấy tâu lên vua, vua bèn phong ngài Thảo Đường làm Quốc sư. Trong Lịch sử phật giáo Việt Nam, Tập 3, Thiền sư Lê Mạnh Thát nhận định vị Tăng lục ấy là Huệ Sinh, sư trụ trì chùa Vạn Tuế thuở bấy giờ

Tiếp đó, Thiền Uyển tập anh còn có đoạn viết, Tăng thống Khánh Hỷ (1067 – 1142) đã đến chùa Vạn Tuế và có cuộc đối thoại với Thiền sư Biện Tài. Đây là một trong những mốc quan trọng của chùa trong việc giao lưu học thuật Phật giáo.

Trải qua thời gian tồn tại, thăng trầm cùng đất nước, chùa đã được tu sửa nhiều lần nhưng rồi cũng không tránh khỏi sự hư hại nặng nề; bởi vậy, đến thế kỷ XIX chùa được tu sửa gần như hoàn toàn với các thức kiến trúc và nghệ thuật mang đậm phong cách Nguyễn. Tuy quy mô không lớn như nhiều chùa khác song chùa Vạn Niên cũng có đầy đủ các công trình kiến trúc phục vụ thờ tự như Tam Quan, Tiền Đường, Thượng Điện, Nhà Tổ, Nhà Mẫu,… Hầu hết các công trình này đều được tu sửa xây dựng lại sau năm 1995 song vẫn sử dụng vật liệu truyền thống là gỗ với các đề tài trang trí trên kiến trúc rất quen thuộc của người Việt Nam (tứ linh và tứ quý). 

Chùa Vạn Niên lưu giữ một số hiện vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật, phản ánh sự phát triển của Phật giáo và văn hóa qua các thời kỳ.

– 46 pho tượng tròn: 26 pho tượng Phật, 20 pho tượng Mẫu, tượng Tổ (niên đại từ Lê Trung Hưng đến Nguyễn). 

– Tại chùa có bức tượng phật Thích Ca, cao hơn 1,3m và nặng 600kg, được làm từ ngọc Phỉ Thúy (Jadeit tự nhiên) được an vị tại Chính Điện của chùa vào năm 2010, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.

– Hai quả chuông đồng: Trong đó có chuông Vạn Niên tự chung đúc từ thời Gia Long, có bài ký mô tả chùa là danh lam phía Tây kinh thành.

– 10 đạo sắc phong thần cho ông bà Vũ Phục của thời Lê, Tây Sơn.

Thế hệ các sư trụ trì

Theo tư liệu hiện còn, thông tin về các thế hệ sư trụ trì chùa Vạn Niên chưa liền mạch, chỉ biết một số vị, gồm:

  1. Tăng thống Lâm Huệ Sinh (? – 1064). Thiền Uyển tập anh chép rằng: “Rồi sư cố từ không về kinh. Sứ giả lại phải đến mời lần nữa, sư mới chịu về kinh bái yết vua. Lý Thái Tông cả mừng, phong sư giữ chức Nội cung phụng, ban sắc chỉ cho sư trụ trì ở chùa Vạn Tuế tại kinh đô Thăng Long”. Thiền sư Huệ Sinh người Đông Phù Liệt (sau thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì) thế hệ 13 của phái thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Ngài họ Lâm tên Khu, tướng mạo kỳ vĩ, ăn nói lưu loát, rất giỏi văn chương, viết vẽ rất đẹp, tinh thông nho học, uyên thâm giáo lý Phật Đà. Ngài thường tới các chốn tùng lâm học hỏi các bậc cao Tăng. Ngài là đệ tử Thiền sư Định Huệ; người đời gọi Ngài là Đại sĩ nhục thân. Vua Lý Thái Tông nghe tiếng mời vào kinh, ngài cố từ chối nhưng không được mới chịu về cung yết kiến vua, gặp mặt vua rất mừng phong làm nội cung phụng tăng, sắc trụ trì chùa Vạn Tuế. Vua Lý Thánh Tông lại càng hết mực tôn kính, các vương công đại thần thường lui tới học hỏi đạo thiền lấy lễ thầy trò kính ngài. Sau vua phong chức Đô tăng lục rồi lại phong đến chức Tả nhai đô tăng thống tước Hầu, vua rất kính nể, không dám gọi tên ngài.
  2. Thiền sư Thảo Đường, người Trung Hoa là đệ tử của Thiền sư Trùng Hiển ở Tuyết Đậu đời thứ ba phái Vân Môn. Sư sang Chiêm thành truyền giáo, là người sáng lập Thiền phái Thảo Đường ở Đại Việt.

An Nam chí lược chép: “Theo thầy sang ở Chiêm-Thành. Lý-Thánh-Vương đánh Chiêm-Thành bắt được, cho làm đầy-tớ Sư-Lục. Ngày nọ Sư-Lục viết văn sớ để trên bàn, đi ra ngoài, Thảo-Đường lén sửa chữa lại. Sư-Lục lấy làm lạ, tâu vua nghe, vua phong Thảo-Đường làm Quốc-Sư”.

Tây Hồ chí chép:  “Khi bấy giờ, những vị sư danh tiếng như: Lâm Tuệ-Sinh (林慧生), Lý Thảo-Đường (李草堂) kế tiếp trụ trì tại đó”.

  1. Thiền sư Biện Tài người Quảng Châu, đến Việt Nam vào triều Lý Thánh Tông, là đệ tử Thiền sư Thông Biện – thế hệ thứ 8 dòng Vô Ngôn Thông. Sư vâng lệnh vua biên sửa “Chiếu đối lục”.
  2. Tỷ khiêu Ni Đàm Dung thuộc môn đồ chùa Ngọc Trục (Từ Liêm), trụ trì giai đoạn 1950 – 1975.
  3. Thượng tọa Thích Minh Tuệ, môn nhân Hương Tích đời thứ 12, trụ trì chùa từ 1992 đến nay.

Xếp hạng

Chùa được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1996.

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1998) Đại Việt sử ký toàn thư , Tập 1, Nội các quan bản, Nxb Khoa học xã hội.
  2. Tây Hồ chí, Trần Thanh Đạm dịch, Nxb Bộ Giáo dục, 1962.
  3. Lê Tắc (1961), An Nam chí lược, Nxb Đại học Huế.
  4. Lê Mạnh Thát (2023), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập 3, Nxb Đồng Nai.
  5. Thiền Uyển tập anh, Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thúy Nga dịch, Nxb Văn Học, 1990.
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)