Chùa Vũ Lăng (Thanh Oai, Hà Nội)

Chùa Vũ Lăng (Thanh Oai, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Vũ Lăng có tên chữ là Linh Quang tự, là một trong những ngôi cổ tự tiêu biểu, giữ vai trò trung tâm trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng cư dân xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội (trước thuộc tỉnh Hà Tây). Tọa lạc tại rìa làng Vũ Lăng, chùa nằm tiếp giáp quốc lộ 21B, tuyến giao thông huyết mạch kết nối các vùng phía Tây Nam thủ đô, tạo nên vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho việc chiêm bái, hành hương cũng như tổ chức các hoạt động lễ nghi, tín ngưỡng và lễ hội truyền thống có quy mô lớn.

Không chỉ là điểm đến linh thiêng của người dân địa phương, chùa còn là nơi giao hòa giữa không gian làng quê thanh bình với dòng chảy Phật pháp an tịnh. Trải qua nhiều thế kỷ, chùa Vũ Lăng không chỉ là nơi gửi gắm niềm tin tâm linh của bao thế hệ mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa bản địa, phản ánh rõ nét mối quan hệ gắn bó giữa đạo và đời trong sinh hoạt cộng đồng vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vị trí cảnh quan đắc địa cùng giá trị lịch sử – văn hóa lâu đời đã góp phần khẳng định vị thế quan trọng của chùa trong không gian di sản Phật giáo Thăng Long – Hà Nội.

Lịch sử và nhân vật

Lịch sử

Hiện chưa có tư liệu xác định chính xác niên đại khởi dựng, song theo truyền tích và các dấu tích khảo cổ, có thể đoán định ngôi chùa đã hiện diện từ rất sớm, có thể từ thời Lý – Trần.

Theo truyền thuyết lưu truyền tại địa phương, vào khoảng năm 1210, tức cuối triều Lý, danh tướng Đoàn Thượng, người được dân gian tôn là Đông Hải Đại Vương trong một lần hành quân qua vùng này, nhận thấy nơi đây có địa thế “địa linh, nhân kiệt”, đã phát tâm công đức tu sửa một ngôi chùa cổ, đồng thời đặt hiệu là Linh Quang tự. Sau khi hóa, ông được nhân dân địa phương suy tôn là Thành Hoàng, lập miếu phụng thờ bên cạnh chùa.

Ban đầu, đình làng, chùa và miếu nằm gần nhau trong làng Vũ Lăng. Tuy nhiên, do địa thế trũng thấp, cư dân trong vùng đã dời làng và đình về phía Tây như hiện nay, còn chùa và miếu vẫn được bảo tồn nguyên vị trí cổ. (tư liệu thầy Di Sơn thu thập)

Trải qua các thời kỳ lịch sử, chùa Linh Quang đã nhiều lần được trùng tu, phục dựng. Theo văn bia Linh Quang tự công đức bi ký năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736), chùa được trùng tu, do Tăng Lục pháp danh Như Tâm, cùng nhân dân địa phương hưng công. Năm Ất Mùi niên hiệu Cảnh Hưng (1775), Tổ sư hiệu Pháp Thành cùng ông ngoại pháp danh Phúc Cẩn tiếp tục tu sửa ngôi Tam Bảo. Năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), chùa bước vào một đợt đại trùng tu quy mô lớn, dưới sự chủ trì của Thiền sư Chiếu Quyền, hiệu Pháp Tiến, đệ tử của Tổ sư Kim Liên. Năm 1834, trùng tu Tam Bảo; năm Ất Mùi 1835, tạc tượng Phật, Bồ Tát bằng gỗ thay thế tượng thổ cũ; năm Bính Thân 1836, dựng hai dãy hành lang; năm Mậu Tuất 1838, đúc đại hồng chung; năm Kỷ Hợi 1839, dựng lầu chuông, năm Canh Tý 1840, công trình đại trùng tu hoàn thành. 

Năm Duy Tân thứ 7 (1912), Thiền sư Thích Nguyên Phi từ tổ đình Khê Hồi về trụ trì. Ngài phát nguyện xây dựng lại nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà Tăng và mở trường hạ an cư, song chưa hoàn thành thì viên tịch năm Giáp Tý (1924). Năm 1949, dân làng thỉnh Hòa thượng Thích Thanh Viên người bản quán Vũ Lăng, dòng họ Nguyễn Tuấn về chấp cảnh trụ trì. Khi về trụ trì Linh Quang tự, Hòa thượng vừa tu hành, vừa tham gia kháng chiến, biến chùa thành cơ sở cách mạng, nuôi giấu cán bộ, tích trữ vũ khí. Sau năm 1954, chùa xuống cấp nghiêm trọng. Được sự ủng hộ của Sư tổ Đông Tân – Lại Yên, Hòa thượng Thích Thanh Viên cùng nhân dân địa phương tiến hành trùng tu lại Tam Bảo, nhà Tổ, nhà Tăng. Năm 1992: Hoà thượng Thanh Viên cho xây dựng Tăng xá, khai mở Trường Hạ Vũ Lăng cho Tăng Ni các huyện Thanh Oai, Chương Mỹ, Ứng Hòa, Mỹ Đức về an cư kết hạ. Vừa khi trường hạ mở cửa, Hòa thượng cũng viên tịch. Từ năm 1993 đến nay, Thượng tọa Thích Tiến Thịnh kế đăng trụ trì chùa Linh Quang, tiếp tục phát huy vai trò của chùa như một trung tâm hoằng pháp, tu học của Phật giáo vùng Hà Tây cũ. Năm 1997 – 2000: trùng tu Tam Bảo, nhà Tổ, hai dãy hành lang. Năm 2013: xây hai dãy nhà Tăng – Ni hai tầng (28 phòng). Năm 2016: xây Tổ đường gỗ lim (2 lớp, 10 gian); trùng tu nhà Tổ cũ thành nhà Mẫu. Năm 2017: đúc đại hồng chung 750kg; dựng gác chuông hai tầng tám mái; xây tam quan ngũ môn. Tháng 8/2017: dựng Tam Bảo mới (7 gian tiền đường, 3 gian hậu cung, gỗ lim, ngói lưu ly); dựng hai dãy hành lang chín gian. Năm 2018 – 2020: trùng tu nhà tưởng niệm Tôn Sư, hai vườn tháp tổ; tạc tượng Lịch đại Tổ sư, La Hán; xây giảng đường gần 300m² là trung tâm Phật giáo huyện Thanh Oai.

Các đời trụ trì 

  1. Tăng Lục pháp danh Như Tâm 

Ngài có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chấn hưng chùa vào năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736). Dưới sự chủ trì của ngài, chùa được trùng tu khang trang, là mốc khởi đầu cho chuỗi trùng tu dài suốt thế kỷ XVIII.

  1. Tổ sư Pháp Thành

Năm Ất Mùi niên hiệu Cảnh Hưng (1775), Tổ sư Pháp Thành cùng ông ngoại pháp danh Phúc Cẩn tiếp tục trùng tu lại ngôi Tam Bảo.

  1. Thiền sư Chiếu Quyền (hiệu Pháp Tiến)

Ngài là đệ tử của Tổ sư Kim Liên, thuộc dòng thiền Tào Động. Dưới sự trụ trì của ngài, chùa Linh Quang bước vào giai đoạn đại trùng tu từ 1834 đến 1840, bao gồm việc: Tạc tượng Phật, dựng hành lang, đúc chuông, xây lầu chuông, hoàn thiện kết cấu tổng thể Tam Bảo. Sự nghiệp của ngài để lại dấu ấn sâu sắc trong việc định hình kiến trúc truyền thống của chùa như ngày nay.

  1. Thiền sư Thích Nguyên Phi (trụ trì 1912 – 1924)

Ngài xuất thân từ tổ đình Khê Hồi, được mời về trụ trì vào năm Duy Tân thứ 7 (1912). Dù thời gian trụ trì không dài, nhưng ngài có chí nguyện lớn, từng xây dựng lại nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà Tăng, mở trường hạ an cư, thể hiện tâm nguyện đào tạo Tăng tài. Ngài viên tịch năm Giáp Tý 1924, chưa kịp hoàn thành tâm nguyện.

  1. Thiền sư Thích Thanh Trí (1886 – 1952)

Ngài kế đăng trụ trì sau Thiền sư Nguyên Phi và ở lại hơn một thập kỷ. Về sau, ngài chuyển về trụ trì chùa Úc Lý, xã Thanh Văn. 

  1. Ni sư Đàm Tuyết

Sau thời kỳ của ngài Thích Thanh Trí, chùa Linh Quang do Ni sư Đàm Tuyết trụ trì. 

  1. Thiền sư Thích Thanh Thức (?)

Ngài là người vùng Ước Lễ, từng được mời về trụ trì, tuy nhiên thời gian trụ trì không lâu.

  1. Hòa thượng Thích Thanh Viên (1923 – 1993)

Ngài là người bản quán Vũ Lăng, họ Nguyễn Tuấn, xuất gia năm 17 tuổi tại chùa Đông Tân, đệ tử của Sư tổ Thích Thanh Thuần. Năm 1949, ngài được thỉnh về trụ trì chùa Linh Quang, vừa tu hành vừa tham gia kháng chiến, biến chùa thành cơ sở cách mạng. Trong thời gian trụ trì chùa (1949 – 1993), ngài đã cho trùng tu toàn bộ Tam Bảo, nhà Tổ, nhà Tăng, xây trường Hạ đồng thời tham gia tích cực trong phong trào Phật giáo yêu nước, giữ nhiều trọng trách trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

  1. Thượng tọa Thích Tiến Thịnh (trụ trì từ 1993 đến nay)

Ngài là đệ tử trưởng của Hòa thượng Thích Thanh Viên, Thượng tọa kế đăng trụ trì từ năm 1993. Dưới sự hướng dẫn của ngài, chùa Linh Quang được trùng tu và xây mới quy mô lớn, trở thành trung tâm Phật giáo của huyện Thanh Oai. Ngài hiện là bậc Tôn túc có uy tín trong vùng, và đã đào tạo các đệ tử tiêu biểu là Đại đức Thích Di Sơn, trụ trì chùa Thanh Lương và Úc Lý; Đại đức Thích Di Thuận, trụ trì chùa Văn Quán, xã Đỗ Động.

Kiến trúc cảnh quan

Chùa Vũ Lăng được quy hoạch theo bố cục kiến trúc “Nội Công ngoại Quốc” truyền thống, trong đó các hạng mục chính được sắp xếp liên hoàn theo trục dọc từ cổng chính vào đến hậu điện. Tam Quan với lối kiến trúc mái chồng diêm, lợp ngói mũi hài, tạo thế đăng đối hai bên. Phía sau Tam Quan là lầu Quan Âm quy mô nhỏ nhưng được bài trí trang nghiêm. Tam Bảo chùa được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống, chia thành ba gian hai chái, mái ngói cổ, vì kèo theo kiểu chồng rường, tạo nên vẻ bề thế và tĩnh lặng. Phía sau Tam Bảo là cụm kiến trúc gồm ba tòa: Nhà Tổ, Nhà Mẫu và Nhà Vong. Bao quanh khu nội tự là hệ thống hai dãy nhà hai tầng, một bên là khu nhà Tăng, một bên là khu nhà Ni phục vụ cho sinh hoạt và tu học của chư Tăng Ni, đặc biệt trong mùa an cư kiết hạ. Xen kẽ trong khuôn viên là các công trình phụ trợ như nhà bếp, nhà trai đường (nhà ăn), khu sinh hoạt và hành đường, tạo nên tổng thể kiến trúc khép kín, đầy đủ chức năng, đảm bảo thuận lợi cho đời sống tu hành và tổ chức nghi lễ.

Hiện vật 

Hiện chùa còn lưu giữ được một số hiện vật có niên đại trải dài từ Lê đến Nguyễn: 

  • Thanh Oai/Võ Lăng/Linh Quang/Tự chung: niên đại Minh Mệnh năm thứ 18 (1837): Chuông đồng, khắc minh văn, còn nguyên vẹn. 
  • 1 quả chuông nhỏ 
  • Bia Linh Quang tự Hậu Phật bi ký: niên đại Vĩnh Thịnh năm thứ 4 (1708): Là văn bia cổ nhất còn lại tại chùa.
  • Bia Hậu Phật bi ký: niên đại Cảnh Hưng năm thứ 3 (1750): Ghi việc cúng ruộng làm Hậu Phật của Đào Hữu Thuyết và vợ.
  • Bia Linh Quang tự công đức bi ký: niên đại Giáp Ngọ – Minh Mệnh năm thứ 15 (1834): Ghi việc trùng tu Tam Bảo, đúc chuông, dựng hành lang…
  • Bia Ký kỵ thạch bi: niên đại Tự Đức năm thứ 2 (1849): Ghi việc gửi giỗ, công đức phụng Phật.
  • Bia Hậu Phật bi ký : niên đại Thành Thái năm thứ 1 (1889): Ghi công đức cúng giỗ và gửi gạo hàng năm của tín đồ.

Sự kiện và lễ hội

Chùa Vũ Lăng hiện là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng cư dân xã Dân Hòa (huyện Thanh Oai, Hà Nội), giữ vai trò nuôi dưỡng đời sống tinh thần, đạo đức và gắn kết cộng đồng trong bối cảnh xã hội hiện đại nhiều biến động. Ngoài các nghi lễ Phật giáo thường kỳ như tụng kinh, sám hối, cầu an, cầu siêu, lễ thí thực cô hồn,… chùa còn tổ chức các khóa tu học, giảng pháp và sinh hoạt Phật tử định kỳ, đặc biệt là trong mùa an cư kiết hạ, trở thành nơi quy tụ và tu học của chư Tăng Ni trong vùng.

  • Các dịp lễ, hội

Vào các dịp lễ lớn trong năm, chùa tổ chức Đại lễ Phật Đản (rằm tháng Tư âm lịch), Lễ Vu Lan Báo hiếu (rằm tháng Bảy), lễ Thượng nguyên và nhiều chương trình lễ hội kết hợp với hoạt động văn hóa, từ thiện như lễ thắp nến tri ân, hội chợ chay, tặng quà cho hộ nghèo, góp phần lan tỏa giá trị từ bi, hiếu nghĩa của Phật giáo vào đời sống cộng đồng. 

Chùa cũng là nơi thực hành các nghi lễ truyền thống như lễ Hằng Thuận (kết hôn theo nghi thức Phật giáo), lễ Quy y Tam Bảo, thọ Bát quan trai giới, đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhiều lứa tuổi. Các hoạt động này được tổ chức một cách trang nghiêm nhưng không tách rời khỏi đời sống dân sinh, tạo nên sự kết nối sâu sắc giữa đạo và đời. 

Các lễ hội tại chùa không chỉ đáp ứng đời sống tinh thần tín ngưỡng, mà còn là phương thức gìn giữ và tái hiện các giá trị văn hóa truyền thống, như lòng hiếu nghĩa, tinh thần cộng đồng, đạo lý làm người. Nhờ đó, chùa Vũ Lăng không chỉ là nơi thờ tự mà còn là điểm tựa văn hóa – tâm linh, góp phần quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại địa phương.

  • Trường Hạ Vũ Lăng

Chùa Vũ Lăng còn là nơi đặt Trường hạ tập trung dành cho chư Tăng Ni các huyện Thanh Oai, Chương Mỹ và vùng phụ cận. Trường hạ này được thành lập từ năm 1994 dưới sự hướng dẫn của cố Hòa thượng Thích Thanh Viên, một bậc cao tăng có nhiều công lao trong việc trùng hưng ngôi chùa và kiến lập nền tảng giáo dục Phật giáo tại địa phương. 

Đến nay, Trường hạ Vũ Lăng đã trải qua hơn 30 năm hình thành và phát triển, trở thành một đạo tràng uy tín, nơi chư hành giả Tăng Ni về an cư kiết hạ theo đúng truyền thống Phật giáo Bắc tông. Đây là môi trường tu học trang nghiêm, thanh tịnh, giúp chư Tăng Ni thúc liễm thân tâm, trau dồi giới hạnh, kinh luận và đạo phong. Mỗi năm vào mùa hạ, Trường hạ Vũ Lăng quy tụ đông đảo hành giả Tăng Ni từ các huyện Thanh Oai và Chương Mỹ về an cư. Riêng trong mùa hạ năm nay (Phật lịch 2569 – Dương lịch 2025), Trường hạ có 77 hành giả, trong đó có 10 vị Tỳ-kheo và 67 vị Tỳ-kheo-ni, cùng nhau hành trì trong 3 tháng hạ an cư, dưới sự hướng dẫn của Thượng tọa Thích Tiến Thịnh, Trưởng ban Trị sự GHPGVN huyện Thanh Oai, Trưởng ban tổ chức Trường hạ. 

Chương trình tu học tại trường hạ được tổ chức bài bản và nghiêm mật, bao gồm các thời khóa tụng kinh, tọa thiền, lễ bái sám hối, bố tát, và đặc biệt là các buổi giảng pháp, học luật, học kinh với sự tham gia của nhiều giảng sư uy tín từ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngoài ra, các khóa học còn lồng ghép nội dung về Phật học ứng dụng, đạo đức xã hội, kỹ năng hành đạo, góp phần nâng cao kiến thức toàn diện cho hành giả trẻ trong thời đại mới. 

Trường hạ Vũ Lăng không chỉ là nơi nuôi dưỡng giới thân huệ mạng cho Tăng Ni, mà còn góp phần củng cố nền nếp tu học Phật giáo tại vùng ven đô Hà Nội. Qua ba thập niên duy trì và phát triển, trường hạ đã trở thành một điểm sáng về hoằng dương chính pháp, khơi dậy và giữ gìn mạch nguồn đạo lý truyền thống trong lòng cộng đồng Phật giáo địa phương.

Tài liệu tham khảo

  1. Giới thiệu về di tích lịch sử trên địa bàn xã, Trang Thông tin điện tử xã Dân Hòa – huyện Thanh Oai, Ngày 22/09/2023.
  2. Hòa thượng Thích Thanh Viên (1921 – 1993), Chùa Phật học xá lợi https://chuaxaloi.vn/thong-tin/hoa-thuong-thich-thanh-vien-19211993/2481.html 
  3. Diệu Tường, “Hà Nội: Đại lễ tưởng niệm lần thứ 30 năm ngày viên tịch của Đức Trưởng lão HT. Thích Thanh Viên và 30 năm thành lập Hạ trường Võ Lăng”, Báo Phật sự online, Ngày 04/06/2023
  4. Cẩm Vân, “9 trường hạ phía tây Hà Nội tác pháp hậu an cư”, Báo Giác ngộ Online, Ngày 03/07/2015.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin
chùa vũ lăng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)