Đền Hát Môn (Hai Bà Trưng- Phúc Thọ, Hà Nội)

Đền Hát Môn (Hai Bà Trưng- Phúc Thọ, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí 

Đền Hát Môn còn gọi là đền Quốc Tế và đền Hai Bà Trưng thuộc thôn Hát Môn xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc thành phố Hà Nội, đây là một trong những ngôi đền thờ Hai Bà Trưng (Trưng Trắc, Trưng Nhị) lớn và lâu đời nhất mang nhiều dấu ấn lịch sử hào hùng của Hai Bà Trưng – 2 vị nữ tướng hào kiệt, đã làm rạng danh truyền thống anh hùng bất khuất của phụ nữ Việt Nam. Năm 1964, Đền Hát Môn được Bộ văn hóa xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho di tích Đền Hát Môn vào năm 2013. 

Từ Trung tâm thành phố Hà Nội di chuyển đến đền Hát Môn khoảng 35km, có thể di theo trục đường chính là quốc lộ 32 đi qua thị trấn Phùng, đến địa phận Phúc Thọ rẽ phải lên đường đê sông Đáy đi thêm khoảng vài km nữa là tới. 

Hai Bà Trưng 

Hai Bà Trưng là hai nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc Việt Nam, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa lớn vào loại sớm nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chống xâm lược, nô dịch. Họ trở thành những nữ hoàng đầu tiên, cai quản quốc gia, dân tộc, sau khi đất nước được giải phóng, hồi đầu thế kỷ thứ nhất sau công nguyên.

Hai Bà Trưng (mất ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão 43) là tên gọi chung của Trưng Trắc và Trưng Nhị, hai chị em là con gái lạc tướng huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) thuộc dòng dõi Hùng Vương. Cha mẹ làm nghề nuôi tằm, dệt lụa nên đã đặt tên Hai Bà mồ côi cha sớm nhưng được mẹ quan tâm nuôi nấng, dạy cho nghề trồng dâu, nuôi tằm, dạy con lòng yêu nước, rèn luyện sức khỏe, rèn luyện võ nghệ.

Sách Đại việt sử ký toàn thư cho biết: “Tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên … (Thi Sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau. Sách Cương mục tập lãm lấy Lạc làm họ là lầm). Đóng đô ở Mê Linh”.1 Trưng Trắc là một phụ nữ đảm đang, chồng bà là Thi Sách con trai lạc tướng huyện Chu Diên ( bây giờ là phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên), cũng là một người con yêu nước, ủng hộ chính sách lật đổ ách đô hộ nhà Hán. 

Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị là những cô gái can đảm, mưu trí , dũng cảm, vì căm thù giặc, bà cùng em gái dựng cờ khởi nghĩa, lật đổ chính quyền đô hộ, hai chị em là anh hùng dân tộc của người Việt. 

Hai Bà Trưng khởi binh chống lại quân Hán, lập ra một quốc gia với kinh đô tại Mê Linh và tự phong là nữ vương. Sau khi cuộc khởi nghĩa này bị quân Hán dưới sự chỉ huy của Mã Viện đánh bại, tục truyền rằng vì không muốn chịu khuất phục, hai Bà đã nhảy xuống sông tự tử. 

Lịch sử

Trưng Trắc và Thi Sách là con hai nhà lạc tướng có thế lực hàng đầu của quận Giao Chỉ, việc kết hôn với nhau càng làm thân thế của họ thêm mạnh hơn. 

Chính sách tàn bạo của nhà Đông Hán khiến cho Trưng Trắc và Thi Sách nổi dậy chống lại, huyện Mê Linh và Chu Diên là trung tâm khởi nghĩa chuẩn bị diễn ra. Kết quả là âm mưu bị bại lộ, Thi Sách bị Tô Định (là một viên quan lại người Hán được ở triều đình Đông Hán được cử sang Bách Việt làm Thái thú Giao Chỉ vào năm 34) đàn áp và giết chết, khi thấy chồng của mình bị kẻ thù giết chết, càng làm lòng căm thù của bà dâng lên đỉnh điểm. 

Đại việt sử ký toàn thư viết: “Canh Tý, năm thứ 1 [40], (Hán Kiến Vũ năm thứ 16). Mùa xuân, tháng 2, vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình, mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu. Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được [2b] 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vua, mới xưng là họ Trưng”.2

Vào tháng 3 năm 40 Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa ở cửa sông Hát (là nơi gặp nhau giữa sông Hồng và sông Đáy, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội) đây là vùng được cho là địa hình thuận lợi vì có sông, có núi nên bà đã chọn dựng căn cứ ở đây để trả thù cho đất nước và trả thù cho người chồng của mình. Dân làng và các hào kiệt từ mọi miền tổ quốc ai cũng căm thù hận Tô Định nên khi thấy bà phát động họ đều kéo nhau về tham gia khởi nghĩa cùng Hai Bà. 

Sách Thiên Nam Ngữ Lục đã chép lại lời thề của Trưng Trắc trước các quân sĩ:

“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”.

 

Hai Bà Trưng cùng hơn 10 vạn quân tiến đến đánh Tô Định, từ sông Hát kéo xuống đánh chiến Đô uý trị (Hạ Lôi, Mê Linh), tiếp theo đánh chiếm lại thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và mở cuộc tiến công đánh thẳng vào dinh của Tô Định.

Vì quân dân quá đông chính quyền đô hộ sụp đổ dưới chân cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, bọn quan lại sợ hãi bỏ chạy về nước, còn thái thú Tô Định đã phải chạy trốn về Nam Hải. Trong thời gian ngắn ngọn cờ chính nghĩa của khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã tập hợp được 65 tỉnh thành khôi phục lại nền độc lập sau nhiều năm dưới ách đô hộ Trung Quốc. 

Đại việt sử ký toàn thư ghi chép: “Tân Sửu, năm thứ 2 [41], (Hán Kiến Vũ năm thứ 17). Mùa xuân, tháng 2, ngày 30, nhật thực. Nhà Hán thấy họ Trưng xưng vương, dấy quân đánh lấy các thành ấp, các quận biên thùy bị khổ, mới hạ lệnh cho Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu ta sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương, cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó sang xâm lược”3. Nghe tin Trưng Trắc khởi nghĩa và xưng vương dễ như trở bàn tay, nhà Hán tăng cường chi viện, Mã Viện là người chỉ đạo cánh quân xâm lược này gồm có: 2 vạn quân tinh nhuệ, 2 nghìn xe thuyền và nhiều dân phu, sửa sang cầu đường, thông miền khe núi sang đánh chiếm nước ta. Nhưng vì tính thông minh, tính toán, Hai Bà quyết định chủ động lui về phía sau tập trung cao độ lực lượng và chặn đứng tiêu diệt địch ở Lãng Bạc (Lãng Bạc là gò đất cao, ở giữa vùng ngập lụt tạo điều kiện lợi thế cho nước ta), sau nhiều lần tiến công không thành Mã Viện đã phải rút quân về nước. 

Năm thứ 3 năm 42, sau một thời gian hồi sức Mã Viện dựa vào kinh nghiệm dày dặn và có các lực lượng thuỷ bộ phối hợp nên đã dần lấy được thế chủ động, quân của Trưng Vương bị yếu thế, có hàng nghìn người bị bắt và hy sinh. Sợ quân mình không chống nổi bà cho lui quân về khu căn cứ Cấm Khê, lấy chỗ dựa che chở cho nghĩa quân trước những lần chiếm đánh sắp tới của quân Mã Viện. 

Đại việt sử ký toàn thư có nói: “Nhâm Dần, năm thứ 3 [42], (Hán Kiến Vũ năm thứ 18). Mùa xuân, tháng giêng, Mã Viện theo ven biển mà tiến, san núi làm đường hơn nghìn dặm, đến Lãng Bạc (ở phía tây Tây Nhai của La Thành, gọi là Lãng Bạc)67 đánh nhau với vua. Vua thấy thế giặc mạnh lắm, tự nghĩ quân mình ô hợp, sợ không chống nổi, lui quân về giữ Cấm Khê (Cấm Khê, sử chép là Kim Khê). Quân cũng cho vua là đàn bà, sợ không đánh nổi địch, bèn tan chạy. Quốc thống lại mất”4. Sau nhiều ngày chiến đấu anh dũng, vào tháng 4 năm 43 khu căn cứ Câm Khê bị vỡ, đại quân Trưng Vương bị đánh tan.

Khi rút quân về xã Hát Môn, Hai Bà không chịu đầu hàng kẻ thù đã nhảy xuống dòng sông để tự vẫn. Sau khi hai nữ anh hùng của dân tộc mất, dân làng lập đền thờ ngay trên mảnh đất này để tưởng nhớ công lao khởi nghĩa của Hai Bà. Đền Hát Môn xưa vốn chỉ là một am tranh nhỏ, trải qua nhiều lần trùng tu, cuối thế kỷ X  đâù thế kỷ XI mới được tu bổ lại xây dựng thêm khang trang như bây giờ. Ngôi đền gắn liền với 3 sự kiện quan trọng của cuộc khởi nghĩa: Hai Bà Trưng đã chọn đất này là nơi dựng cờ khởi nghĩa, sau khi chiến thắng Hai Bà về đây khao quân và xưng Vương, đây cũng là nơi cuối cùng Hai Bà trở về sau thất bại trước quân Mã Viện và khi gieo mình xuống dòng sông Hát tự vẫn.  

Kiến trúc 

Hai Bà Trưng – người anh hùng dân tộc đã sống mãi với thời gian và trong tâm thức dân gian. Trong suốt diễn trình lịch sử của dân tộc, ngôi đền vẫn luôn được bảo tồn. Cho đến nay, quần thể đền gồm các hạng mục: Quán Tiên, Miếu Tạm Ngự, Cột Trụ Biểu, Cổng Tam Quan, Nhà Bia, Nhà Đại Bái, Tiền Tế, Hậu Cung, Nhà Khách. Đền được nằm trên một khu đất cao, trên triền đê sông Hát, đặc biệt trong kiến trúc là tất cả các đồ thờ trong đền đều không được sơn màu đỏ mà đều có màu đen duy nhất. 

Quán tiên

kiến trúc nhỏ này được dân làng dựng lên để tưởng nhớ công ơn đối với bà hàng bánh trôi, bà đã dâng cả gánh bánh để Hai Bà ăn trước khi ra trận dẹp giặc. Ngôi quán này xây bằng gạch, cửa mở về hướng đền kiểu vòm cuốn, có mái đao cong, lợp ngói đỏ, nền cao hơn mặt đường 45cm, tạo ba bậc lên nền quán, trước quán còn được dựng bức tường với 6 cột trụ, trên mỗi trụ được đắp hình bông sen. 

Miếu tạm ngự

Ngôi miếu nằm phía trước bên phải đền chính, đây là nơi tạm ngự của Thánh Bà. Khi mùa nước lũ hàng năm, khu đền chính bị ngập, dân làng rước tượng, ngai thờ và toàn bộ đồ thờ tự của đền về đền Tạm ngự, hết mùa nước lũ lại rước Thánh hoàn cung. Miếu có mặt bằng dạng chữ Đinh, gồm tiền tế và hậu cung. Nhà tiền tế ba gian, kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh. Các bộ vì kết cấu kiểu vì “giá chiêng, hạ kẻ bẩy hiên”. Tòa hậu cung ba gian, xây nối liền với tiền tế, hệ vì đỡ mái có kết cấu tương tự nhà tiền tế. Phía trước mở hệ thống cửa kiểu bức bàn. 

Hai trụ biểu

Được dựng trước cổng tam quan, Cột trụ biểu hình tháp trụ vuông có 4 mặt, mỗi mặt được khắc dòng chữ hán, phần trên của trụ được gắn với các hình lân quay ra các hướng, các đường đắp chỉ công phu, nối liền với hai trụ là bức tường lửng được đắp hình voi hai bên tượng trưng cho Hai Bà Trưng. 

Cổng tam quan 

Với cấu trúc làm theo kiểu chồng diêm hai mái, tầng mái dưới lớn phía trên, phần viền mái cũng được nhấn nhá cách điệu với sự sắp xếp ngói mũi hài khá điệu đà. Cổng có kiến trúc 3 gian, tường kéo dài ra 2 bên, tường có khung bảng đắp voi chầu rồi 2 bên là cổng phụ uốn vòng cung có mái đắp với 2 cây trụ mở ra ở 2 tường cánh cánh gà thước thợ nhô ra phía trước. Ở cổng chính gian giữa làm lối đi với cánh cổng gỗ lớn. 2 bên là cửa sổ đắp khung lồng chữ thọ, có đắp giá ban thờ bên dưới và khung giá bên trên. 

Nhà bia 

Hai nhà bia được xây ở vị trí phía ngoài dãy nhà tả/ hữu mạc, trên nền cao hơn mặt sân 30 cm, kiểu phương đình, mái lợp ngói ta, bốn đầu đao tạo cong vút.

Tả mạc/ Hữu mạc

 Bước qua sân gạch ta thấy có 2 dãy nhà mỗi dãy năm gian chạy dọc theo sân đền, kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi, với bốn hàng chân cột, vì nóc theo kiểu giá chiêng, cốn kèo ngồi, quá giang trốn hai hàng cột giữa. được đặt lên tường bổ trụ trốn một hàng cột.

Nhà đại bái (đền chính)

Mục kiến trúc được quan tâm nhất là Đại bái – đền thờ chính được dựng theo kiểu tiền nhất, hậu đinh, gồm năm gian, tường xây hồi bít đốc, bốn hàng chân cột đặt trên một nền thấp với hai mái chảy lợp ngói ri,  nổi bật nhất là kiến trúc các cột gạch vuông lòng, đây là loại gạch bát tràng nâu sẫm, trang trí trên kiến trúc tập trung dày đặc ở đầu dư, cốn, xà nách, bẩy, ván gió dưới dạng chạm nổi, chạm lộng với các đề tài rồng, tứ linh.

Tiền tế 

Là kiến trúc gồm năm gian, xây gạch kiểu tường hồi bít đốc, nền nhà cao hơn mặt sân 30 cm, xung quanh bó gạch vỉa, các bộ vì kết cấu“thượng rường giá chiêng, hạ bẩy hiên”.

Hậu cung

Hậu cung phía trong đều được làm chồng diêm hai tầng mái, tường hồi bít đốc, có kết cấu chính là các bộ vì kiểu ván mê mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ XIX. Gồm ba gian, xây trên nền cao hơn mặt sân, mái lợp ngói mũi. Phần mái của tòa này được nối với tòa trung đường qua phần mái của nhà cầu, bộ khung gỗ đỡ mái gồm bốn bộ vì kèo dạng “chồng rường”. Hình phượng được chạm khắc trang trí chủ yếu,  gian giữa cung cấm được tạo một khám gỗ bưng kín bằng các ván gỗ, là nơi thờ Hai Bà.

Nhà khách 

Gồm năm gian, kiểu tường hồi bít đốc. Các bộ vì đỡ mái tạo kiểu “thượng giá chiêng, hạ kẻ, bẩy hiên” cột trốn. Đây là nơi đón tiếp khách đến chùa tham quan và làm lễ. 

Giai đoạn tu sửa chùa

  • Trong  văn bia Văn bia Khắc thạch bi  刻石碑 , Kí hiệu: 15612/15613,  sưu tầm ở đền xã Hát Môn tổng Phù Long huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn Tây, gồm 31 dòng chữ Hán có Nôm, toàn văn ước khoảng 800 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy, người soạn: Nguyễn Trí Cung (1678- 1746), người viết là Trần Công Bình.

Bia có nội dung: Đền xã Hát Môn là nơi thờ Hai Bà Trưng, trải qua năm tháng đã bị hư hại, rêu xanh bao phủ thật chẳng xứng với nơi danh lam nổi tiếng như vậy. Bản xã đã đứng ra tu bổ xây dựng sân đình, bệ thềm, tiền đường hậu đường, đài thiêu hương, v.v… cho đền được quy mô hơn và đẹp đẽ hơn. Nay làm bài ký ca ngợi chư vị đã công đức cúng tiền của để trùng tu đền. Ghi rõ giáp nào trong xã đảm nhiệm xây dựng phần việc nào. 

  • Văn bia Miếu hướng bi ký 廟向碑記 , Kí hiệu: 15611, gồm 17 dòng chữ Hán có Nôm, toàn văn ước khoảng 500 chữ, có hoa văn, không có chữ húy, Niên đại: Tự Đức thứ 35 (1882). Người soạn: Hồ Danh Bật , Người viết: Nguyễn Lương Bản.

Bia có Nội dung: Đền xã Hát Môn thờ Hai Bà Trưng. Năm Bính Dần niên hiệu Tự Đức (1866) đã được trùng tu. Năm Kỷ Mão niên hiệu Tự Đức (1879) lại bị mối xông, dân làng đã bàn bạc xây dựng lại. Hướng đền là điều rất quan trọng, nếu có tu tạo phải chiếu theo như cũ tọa Mão hướng Dậu mà làm, để cho dân được yên ổn. Việc xây dựng lại đền được quan trên cấp 320 quan tiền công nên công việc thuận lợi. Nay làm bài ký ghi vào bia đá lưu truyền mãi mãi.

Năm 2004, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây (cũ) đã ra quyết định số 835/QĐ-UB phê duyệt “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử văn hóa đền Hát Môn, thờ Hai Bà Trưng, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ”. Trong đó ở giai đoạn 1 từ năm 2004-2006, tu bổ, tôn tạo các di tích gốc trong quần thể khu di tích Hát Môn gồm: Đại bái, Thiêu hương; Hậu cung. 

Lễ hội

Nơi Hai Bà Trưng nhảy xuống sông tự vẫn là một đoạn của sông Hát, xã Hát Môn, là nơi hai bà dựng cờ khởi nghĩa và chứng kiến cuộc xuất quân lần cuối của Hai Bà. Vì vậy, hằng năm nhân dân đã cử hành tới ba lễ hội để tưởng nhớ Hai Bà Trưng. 

Đền có 3 ngày lễ chính tính theo âm lịch: 

  • Mùng 6 tháng 3 (ngày hóa của Hai Bà), ngày giỗ của Hai Bà: trong ngày lễ hội này dân làng làm lễ tế, dâng hương đặc biệt có món bánh trôi, làm từ bột gạo, hình dáng được tạo thành hình tròn, bên trong có các loại nhân, đây là loại bánh tượng trưng cho truyền thống của Việt Nam.

Theo truyền thuyết, món bánh trôi này được xuất phát từ việc có một bà già mang bánh trôi dâng lên ủng hộ nghĩa quân để tỏ lòng yêu mến trước khi nghĩa quân lên đường đi đánh giặc, Hai Bà vui vẻ nhận và chia bánh cho tất cả mọi người cùng ăn. 

Để ghi nhận lòng yêu nước của bà cụ bán bánh trôi, làng cũng xây một miếu nhỏ bên gốc đa trước cửa đền Hát, và hằng năm mọi người vẫn hương khói thờ cúng bà. 

  • Mùng 4 tháng 9 (ngày tế cờ khao quân), lập đàn thế: là ngày hội quân, hội tướng của nghĩa quân. Hai Bà rút quân từ Tây Hồ về tập kết cùng bảy vạn tân binh do bà Man Thiện (Thân mẫu của Hai Bà) tuyển lựa từ các nơi trong vùng.

Ngày nay mở hội, tại đền có kéo cờ đại uy nghi, khắp đường làng đều cắm cờ ngũ hành rực rỡ, chiêng trống nổi lên vang lừng báo hội. Dân chúng tổ chức các trò vui chơi kéo dài cả ngày.

  • Ngày 24 tháng 12 (lễ rước mộc dục ,Lễ chiến thắng): Đây là hội lớn nhất, long trọng nhất trong năm. Ngày 24 đánh dấu cột mốc quan trong việc đánh bại quân Mã Viện. Các chàng trai và các cô gái mặc quân phục và giáo gươm phù giá, theo hầu kiệu Hai Bà. Nửa đêm ngày 24 lễ rước kiệu được thắp đuốc sáng rực, đã tái hiện lại vẻ huy hoàng lễ mừng chiến thắng vinh quang của dân tộc, Tượng Thánh được rước ra sông làm lễ “mộc dục”, cùng lúc đó người dân sắm sửa thuyền chở choé đựng nước ra giữa sông sông Hồng lấy nước rước về đền làm lễ dâng tế, chúc tụng, sau đó rước tượng về thờ Hậu cung. 

Theo truyền thống những người hành lễ, tất cả những người tham gia lễ hội đều không được mặc trang phục (quần áo, mũ, khăn…) có màu đỏ, với các nghi lễ và trò diễn dân gian thu hút đông đảo nhân dân địa phương và khách thập phương. Đặc biệt, tục làm bánh trôi và lễ rước bánh trôi dâng Hai Bà đã trở thành một sinh hoạt văn hóa độc đáo của vùng đất này. Lễ hội đền Hát Môn cũng đã được Nhà nước công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Hiện vật 

  • Tại đền có đặt tấm bia đá trên lưng rùa. Ghi công tích của Hai Bà Trưng, dựng từ thời vĩnh tộ, (1617- 1628).
  • Đầu dư đền Hát Môn, trưng bày tại tầng 1 Bảo tàng Hà Nội 23/11/2018.
  • Đền Hát Môn còn bảo lưu được nhiều di vật, cổ vật có giá trị về văn hoá, lịch sử, gồm: 293 di vật, cổ vật với nhiều chủng loại và phong phú chất liệu, như: gỗ, đá, đồng, sứ, giấy, kim loại… có niên đại trải dài từ thời Lê, Tây Sơn, Nguyễn đến nay.

Chú thích 

  1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam dịch, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 156
  2. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam dịch, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 156
  3. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam dịch, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 156
  4. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam dịch, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 156

Tài liệu tham khảo 

  1. Nguyễn Hinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh, Các thành hoành và tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội, Nxb Lao Động (2009).
  2. Thạch Phương, 60 Lễ hội Truyền thống Việt Nam. Nxb tổng hợp 2015.
  3. Phan Kế Bính, Nam Hài Dị Nhân
  4. Nguyễn Quang Ngọc, nghiên cứu lịch sử số 3-2010. 
  5. Các di tích Quốc gia đặc biệt.
  6. Phan Huy Lê, Đại Việt sử ký toàn thư. 
  7. Văn bia Khắc thạch bi và Miếu hướng bi ký, Tổng hợp thác bản – Văn khắc Hán Nôm. 
  8. Văn hoá tâm linh Thăng Long Hà Nội.

 

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)