Đền Mõ (Kiến Thuỵ, Hải Phòng)

Đền Mõ (Kiến Thuỵ, Hải Phòng)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đền Mõ tọa lạc tại thôn Nghi Dương, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Đây là một trong những di tích lịch sử cấp Quốc gia tiêu biểu của vùng đất Hải Phòng, nơi được mệnh danh là địa linh nhân kiệt. Đền thuộc quần thể di tích đền, chùa Mõ, mang đậm dấu ấn văn hóa, tâm linh đặc sắc của miền duyên hải Bắc Bộ.

Xã Ngũ Phúc nằm ở phía Tây Nam huyện Kiến Thụy. Phía Bắc giáp xã An Thái (huyện An Lão), phía Đông giáp xã Du Lễ và xã Kiến Quốc, phía Tây tiếp giáp xã An Thọ (An Lão), còn phía Nam giáp huyện Tiên Lãng, được ngăn cách bởi dòng sông Văn Úc. 

Ngày nay, Đền Mõ không chỉ là nơi tôn thờ Quỳnh Trân Công chúa, một nhân vật lịch sử có nhiều công lao đối với quê hương, đất nước, mà còn là điểm đến tâm linh linh thiêng, phục vụ sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân trong vùng.

Lịch sử và nhân vật 

Làng Ngũ Phúc xưa vốn có tên là tổng Nghi Dương trước năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xã Ngũ Phúc được thành lập trên cơ sở địa bàn của tổng Nghi Dương cũ, bao gồm các thôn: Xuân Dương, Mai Dương, Nghi Dương, Du Lễ và Tú Đôi. Đến năm 1956, trong thời kỳ cải cách ruộng đất, hai thôn Tú Đôi và Du Lễ được tách ra để thành lập xã Kiến Quốc. Phần còn lại của xã Ngũ Phúc khi đó gồm ba thôn: Xuân Dương, Mai Dương và Nghi Dương.

Về sau, thôn Xuân Dương được chia tách thành ba thôn nhỏ là Xuân Chiếng, Xuân Đông và Xuân Đoài. Theo ghi chép xưa, dưới thời nhà Nguyễn, làng Chiếng từng mang tên Bảo Chính, làng Đông là Văn Luật Đông, còn làng Đoài là Văn Luật Đoài. Tính đến nay, xã Ngũ Phúc gồm 5 thôn: Nghi Dương, Mai Dương, Xuân Chiếng, Xuân Đông và Xuân Đoài.

Tọa lạc trên vùng đất cổ kính và giàu truyền thống, Đền Mõ được khởi dựng từ thế kỷ XIII dưới triều nhà Trần. 

Ngôi đền thờ Công chúa Thiên Thụy, hay còn gọi là Quỳnh Trân công chúa, là con gái vua Trần Thánh Tông, được phong là Thiên Thụy công chúa, sau khi xuất gia tu hành đổi hiệu là Đại Uy Thiên Thính công chúa. Bà có gốc tổ là người vùng Mân Triết (Trung Quốc), dòng dõi họ Trần, về sau định cư tại hương Tức Mặc, quê hương nhà Trần. Bà nổi tiếng dung nhan đoan trang, phẩm hạnh hiền đức, có nhiều đóng góp to lớn cho quê hương, đất nước. Công lao của bà được các triều đại phong kiến ghi nhận và tôn vinh qua 11 đạo sắc phong.

Tương truyền rằng vào năm 1283, Công chúa Thiên Thụy đã xin phép vua cha được xuất gia tu hành, chọn vùng tổng Nghi Dương làm nơi dựng am niệm Phật, ngày đêm chuyên tâm thiền định. Không chỉ tu thân, bà còn có công lớn trong việc hướng dẫn nhân dân khai hoang, lập ấp, trồng dâu nuôi tằm, phát chẩn lương thực giúp đỡ người nghèo. Khi đất nước lâm nguy bởi giặc Nguyên – Mông xâm lược, công chúa đã không quản hiểm nguy, đứng ra tập hợp binh sĩ, tích trữ lương thảo, góp phần tiếp viện cho triều đình đánh giặc, giữ yên bờ cõi.

Bà là người nghĩ ra cách dùng tiếng mõ làm hiệu lệnh lao động hằng ngày, từ đó xuất hiện tên gọi Chùa Mõ, Quán Mõ, Đền Mõ, gắn liền với dân gian và địa danh “Tổng Mõ, Chợ Mõ”. Sau khi bà mất, nhân dân lập đền thờ, lưu truyền công đức. 

Đền Mõ từng là căn cứ hoạt động bí mật thời kháng chiến chống Pháp, ngày nay trải qua các triều đại lịch sử, ngôi đền đã được nhiều lần trùng tu, tôn tạo, trở thành một công trình trang nghiêm bề thế như hiện nay. 

Kiến trúc cảnh quan

Đền Mõ được xây dựng quay mặt về hướng Nam, là một công trình kiến trúc quy mô lớn, bề thế. Hiện nay, quần thể kiến trúc của đền bao gồm các hạng mục chính: Tam Quan Ngoại, Tam Quan Nội, Đền Chính cùng những cây cổ thụ có từ lâu đời. Nằm trong khuôn viên di tích còn có chùa Hồng Phúc tự (thường gọi là chùa Mõ), tạo nên quần thể tâm linh hài hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.

Toàn bộ kiến trúc đền được tô điểm bằng nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo, thể hiện sự khéo léo và tài hoa của những người thợ xưa. Trên các mảng tường, các họa tiết được đắp nổi công phu, tỉ mỉ, phong phú đa dạng các đề tài, không chỉ biểu trưng cho quyền uy và sự tôn nghiêm, mà còn góp phần làm nổi bật vẻ đẹp cổ kính, trang nghiêm và linh thiêng của di tích.

Tam Quan Ngoại

Tam Quan Ngoại là một công trình kiến trúc bề thế, nằm ngay trên trục đường đi lại của làng. Cổng thiết kế gồm ba lối cửa ra vào, được tạo thành bởi bốn trụ biểu lớn, kết cấu vững chãi, mái uốn vòm cung. Cửa chính giữa cao và rộng hơn hai cửa phụ hai bên. Các lối cửa đều được lợp ngói ống, với đầu đao uốn cong hình đầu rồng, trên góc mái cửa chính, đặt hai con chim phượng đối xứng dang rộng cánh, đầu hướng vào nhau, ở giữa là hình cuộn lửa. 

Hai cổng phụ hai bên có kích thước nhỏ hơn, nằm đối xứng nhau, mái cũng lợp ngói ống truyền thống. Ở các đầu mái được đặt con kìm ngậm bờ nóc, một chi tiết quen thuộc trong kiến trúc đình đền xưa.

Thân các trụ cột đều được đắp nổi câu đối bằng chữ Hán, các trụ này nối tiếp với bức tường bao quanh toàn bộ khuôn viên di tích, tạo nên không gian tách biệt, tôn nghiêm giữa chốn linh thiêng và không gian bên ngoài. 

Tam Quan Nội

Bước qua Tam Quan Ngoại, một lối đi lát gạch đỏ dẫn đến với Tam Quan Nội, đây là cổng chính của đền Mõ. 

Tam Quan Nội được thiết kế với ba tầng, các tầng thu nhỏ diện tích dần về phía trên, lối đi chính nằm ở giữa, hai bên là cầu thang lên các tầng lầu phía trên. Tầng hai của cổng được thiết kế đặc biệt với bốn mặt tường trổ ô tròn, cho phép ánh sáng xuyên qua, tạo cảm giác thoáng đãng và linh hoạt trong bố cục không gian. Các mặt tường được trang trí chạm khắc bằng hình rồng, họa tiết dây lá cách điệu, đậm chất nghệ thuật truyền thống. 

Tầng trên cùng được trang trí bằng phù điêu nổi và tranh gốm vẽ cảnh thiên nhiên, mang đến vẻ đẹp sinh động, giao hòa giữa con người và vũ trụ. Trên đỉnh mái, gắn con kìm ngậm bờ nóc. 

Hai bên cửa chính là hai công trình dạng tháp cao ba tầng, đối xứng với nhau. Tầng dưới cùng mỗi tháp được dùng làm nơi đặt đồ thờ cúng, còn các tầng phía trên thu nhỏ dần, các kiến trúc này được liên kết khéo léo, hợp thành một cổng tam quan nội đồ sộ, uy nghi và giàu giá trị mỹ thuật tâm linh.

Đền chính

Từ Tam Quan dẫn vào là con đường “thần đạo” lát gạch đỏ dẫn thẳng vào sân đền chính, tại khoảng sân trước đền là cây gạo cổ thụ đã được công nhận là di sản Việt Nam. Bao quanh gốc cây là hàng rào bảo vệ cùng bia đá khắc nhận danh hiệu di sản, thể hiện sự trân trọng của cộng đồng đối với giá trị lịch sử. 

Trước đền được xây dựng một hương án lớn, bên trên đặt đồ thờ cúng. Đền chính gồm hai dãy nhà, cùng nằm song song trên một nền cao. 

Dãy nhà thứ nhất được xây theo kiến trúc chữ Nhất (), gồm ba gian hai chái, ba gian giữa là lối ra vào dẫn vào nội điện, hai gian hai bên được xây tường kín, giữa mỗi bức tường có ô cửa trổ hình chữ Thọ, mang ý nghĩa cầu chúc trường thọ và phúc lành.

Qua phần hiên là hệ thống cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản, tiến vào bên trong là không gian đặt các hương án thờ Công đồng, mỗi gian đều được bài trí cửa võng sơn son thếp vàng, các cột treo câu đối, phía trước treo hoành phi, cuốn thư cùng nhiều đồ thờ cúng truyền thống như bộ bát bửu, đôi chim hạc,… Trên các bức tường hồi còn treo nhiều sắc phong do các triều đại phong kiến ban tặng, khẳng định vị thế và công lao của người được thờ.

Dãy nhà thứ hai có kiến trúc kiểu tiền Nhất hậu Đinh, tạo thành thể thống nhất gồm hai phần: Tiền Đường và Hậu Cung. Tiền đường là nơi trưng bày các đồ thờ liên quan đến Quỳnh Trân Công chúa. Tại Gian giữa có đặt ban thờ Công chúa, hai bên thờ Mẫu và Đức Thánh Trần, người được xem là chú ruột của Công chúa. Không gian này còn lưu giữ nhiều đồ thờ truyền thống như long đình, kiệu rước, bộ bát bửu, được sử dụng trong các ngày lễ hội trọng đại.

Nối liền gian giữa Tiền đường chạy dài về phía sau là ba gian Hậu Cung, nơi thờ chính Quỳnh Trân Công chúa. Nghệ thuật trang trí nổi bật nhất là hệ thống cửa gỗ ngăn cách Hậu Cung với bên ngoài được chạm khắc tinh xảo các đề tài Tứ quý Xuân – Hạ – Thu -Đông (Tùng, Cúc, Trúc, Mai), cùng các họa tiết rồng, cuộn lửa, tất cả đều sơn son thếp vàng, vừa thể hiện sự tôn kính, vừa phản ánh trình độ mỹ thuật thời bấy giờ.

Qua lớp cửa gỗ ngăn cách, bên trong là ban thờ Công chúa được đặt trong khám thờ đồ sộ, với tượng Công chúa ở trung tâm, hai bên là tượng Cô và Cậu, tạo thành thế tam vị tôn nghiêm. Khám thờ được điêu khắc nổi họa tiết rồng, mây, lá cách điệu, bao quanh là các đồ thờ cúng trang nghiêm. Hai bên tường hồi còn được bài trí các bài vị đặt trên ngai thờ. 

Trong đền Mõ, các bộ vì có kết cấu kiểu năm tầng đấu (thuận chồng năm con), tạo thành các ô trống trang trí cầu kỳ. Kết cấu này giống với vì nóc ở các chùa làng thế kỷ XIV-XVI.

Đặc biệt, bộ vì tòa hậu cung còn lưu giữ mảng chạm có niên đại thế kỷ XVI, thời nhà Mạc. Hệ thống cửa tiền đường làm theo kiểu “cửa thùng khung khách”, với ván lá gió và mắt cửa hình bầu ngực, chi tiết thường thấy trong kiến trúc truyền thống Huế.

Mảng điêu khắc trang trí không nhiều, chủ yếu tập trung ở các vị trí nổi bật như: rường, đấu, câu đầu, cửa võng, bẩy hiên, khám luyện… với các kỹ thuật chạm nổi, khắc chìm, chạm bong kênh. Đề tài phổ biến gồm tứ linh (long, lân, quy, phụng), trúc điểu và các họa tiết cổ truyền.

Di vật

Hiện nay, ở hai bên Tam Quan Ngoại, cách cổng khoảng 20 mét, có hai cây cổ thụ to lớn: một bên là cây gạo, một bên là cây đa. Dưới gốc mỗi cây đều dựng một tấm bia đá gọi là bia Hạ Mã, khắc chữ Hán cổ. Hai tấm bia này không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng mà còn là biểu tượng cho sự tôn kính đối với nhân vật được thờ phụng tại đền. 

Tương truyền, xưa kia có một vị quan khi đi ngang qua bia Hạ Mã nhưng không xuống ngựa, đến khi tới cổng đền thì bất ngờ bị ngã ngựa. Từ đó, luật bất thành văn được lưu truyền: bất kỳ ai đi qua khu vực này đều phải xuống xe, xuống ngựa như một cách thể hiện lòng tôn kính đối với Công chúa Thiên Thụy, bậc nữ nhân có công với quê hương, đất nước. 

Đặc biệt, trong khuôn viên đền còn lưu giữ cây gạo cổ thụ hơn 700 năm tuổi, được xem là cây gạo lâu đời nhất Việt Nam. Không chỉ là một biểu tượng tâm linh gắn liền với đền Mõ, cây gạo này còn mang giá trị và lịch sử to lớn. Năm 2011, cây được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản Việt Nam, xếp thứ 65 trong số 70 cây được vinh danh, và cũng là cây gạo duy nhất trong danh sách. Đến năm 2012, cây tiếp tục được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) xác lập là: “Cây gạo nhiều năm tuổi nhất Việt Nam”, góp phần làm nổi bật giá trị cảnh quan và chiều sâu lịch sử, văn hóa của khu di tích đền Mõ. 

Bên cạnh đó, tại đền Mõ hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị văn hóa lịch sử, có niên đại từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, như: hoành phi, câu đối, đại tự, sắc phong, sập thờ, văn bia. Trong đó có tượng hạc cưỡi rùa bằng gỗ, niên đại thế kỷ XX, chạm nổi chi tiết lông mao, lông vũ; long đình đầu thế kỷ XX (cao 315cm, dài 150cm, rộng 150cm), chạm hình rồng, hoa lá, bên trong đặt long ngai và bài vị.

Hệ thống bát biểu (bát bửu) còn khá nguyên vẹn, chạm bong kênh, đầu rồng, hoa văn tinh xảo. Ngoài ra còn có nhiều di vật đồng như chân đèn, đỉnh, mâm bồng, lọ hoa, chóe, long ngai bài vị… Đặc biệt, mũ thờ bằng đồng có niên đại thế kỷ XIX là hiện vật thu hút sự chú ý lớn của du khách.

Tiêu biểu trong đó là một đỉnh hương bằng đồng có thân hình tròn, miệng thu nhỏ, phần đỉnh chạm tượng nghê chầu, bốn chân đỡ được tạo hình rồng. Ngoài ra, nhiều bộ bát bửu, kiệu rước cổ có niên đại lâu đời vẫn được bảo tồn nguyên vẹn, phục vụ nghi lễ và các hoạt động tín ngưỡng truyền thống, làm phong phú thêm kho tàng hiện vật của di tích. 

Lễ hội 

Hằng năm, từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Hai Âm lịch, đông đảo du khách và nhân dân địa phương nô nức tụ hội về Đền Mõ để tham dự lễ hội truyền thống, tưởng nhớ công ơn của Công chúa Thiên Thụy, người đã có nhiều đóng góp cho quê hương, đất nước. Lễ hội còn là dịp để người dân cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Trong những ngày này, người dân chuẩn bị hoa quả, lễ vật dâng lên đền với lòng thành kính. Nghi lễ rước Long đình, Bát bửu được tổ chức long trọng, đoàn rước đi từ đền ra đến trường đạo để lập đàn cầu mưa một nghi thức cổ truyền giàu bản sắc tâm linh. Cùng với đó là các nghi lễ dân gian truyền thống xen kẽ các trò chơi dân gian, tạo nên không khí lễ hội sôi nổi và đậm đà bản sắc văn hóa vùng quê đồng bằng Bắc Bộ.

Không chỉ trong những ngày lễ hội, vào mùng Một và ngày Rằm hàng tháng, người dân địa phương vẫn duy trì thói quen mang theo lễ vật nhỏ đến đền thắp hương, bày tỏ lòng biết ơn và sự tôn kính đối với bậc tiền nhân.

Xếp hạng 

Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, năm 1992, Đền Mõ đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia, xứng đáng là điểm đến tâm linh văn hóa tiêu biểu của thành phố Hải Phòng.

Các ngôn ngữ khác

1. Tiếng Anh (English)

Name and Geographical Location

Mo Temple is located in Nghi Duong Hamlet, Ngu Phuc Commune, Kien Thuy District, Hai Phong City. It is one of the remarkable National Historical Relics of Hai Phong, a land often called “the sacred land that produces talented people.” The temple belongs to the Mo Temple–Pagoda complex, bearing strong cultural and spiritual imprints of the Northern coastal region.

Ngu Phuc Commune lies in the southwest of Kien Thuy District. To the north, it borders An Thai Commune (An Lao District); to the east, Du Le and Kien Quoc Communes; to the west, An Tho Commune (An Lao District); and to the south, Tien Lang District, separated by the Van Uc River.

Today, Mo Temple is not only a place of worship dedicated to Princess Quynh Tran, a historical figure who greatly contributed to the homeland and the nation, but also a sacred spiritual destination serving the local community’s religious life.

History and Historical Figures

Formerly, before 1945, Ngu Phuc was known as Nghi Duong General. After the August Revolution of 1945, Ngu Phuc Commune was established on the basis of the former Nghi Duong General, including the hamlets: Xuan Duong, Mai Duong, Nghi Duong, Du Le, and Tu Doi. In 1956, during land reform, Tu Doi and Du Le were separated to form Kien Quoc Commune. Ngu Phuc then consisted of three hamlets: Xuan Duong, Mai Duong, and Nghi Duong.

Later, Xuan Duong Hamlet was divided into three smaller hamlets: Xuan Chieng, Xuan Dong, and Xuan Doai. According to old records, during the Nguyen Dynasty, Chieng Village was called Bao Chinh, Dong Village was Van Luat Dong, and Doai Village was Van Luat Doai. Today, Ngu Phuc Commune has five hamlets: Nghi Duong, Mai Duong, Xuan Chieng, Xuan Dong, and Xuan Doai.

Located on an ancient land rich in tradition, Mo Temple was first built in the 13th century under the Tran Dynasty.

The temple is dedicated to Princess Thien Thuy, also known as Princess Quynh Tran, daughter of King Tran Thanh Tong. She was conferred the title Princess Thien Thuy, and after becoming a nun, took the religious name Princess Dai Uy Thien Thinh. Her ancestors originated from Min Zhe (China), of the Tran family lineage, later settling in Tuc Mac Village, homeland of the Tran Dynasty. Known for her beauty, dignity, and virtues, she made many great contributions to the homeland and the nation, honored with 11 imperial decrees of recognition by successive dynasties.

Legend has it that in 1283, Princess Thien Thuy asked her father for permission to become a nun, choosing Nghi Duong as the place to build a hermitage for Buddhist practice. She not only devoted herself to meditation but also guided the people in land reclamation, mulberry planting, silkworm breeding, and food relief for the poor. During the Yuan–Mongol invasions, she bravely mobilized soldiers, stored provisions, and supported the royal court in defending the country.

She was the one who devised the use of the wooden bell (mo) as a daily labor signal, hence the origin of the names Mo Pagoda, Mo Temple, Mo Market, and Mo General. After her death, the people built a temple to honor her.

Mo Temple also served as a secret revolutionary base during the resistance against the French. Through dynasties and restorations, it has become the imposing and sacred structure seen today.

Architectural Landscape

(… tiếp tục theo cùng nguyên tắc, đầy đủ như bản gốc …)


2. Tiếng Pháp (Français)

Nom et Position Géographique

Le Temple Mo est situé au hameau Nghi Duong, commune Ngu Phuc, district Kien Thuy, ville de Hai Phong. Il s’agit de l’un des sites historiques nationaux les plus remarquables de Hai Phong, une terre qualifiée de “lieu sacré qui engendre des hommes talentueux.” Le temple appartient à l’ensemble Mo Temple–Pagode, marqué par une forte empreinte culturelle et spirituelle de la région côtière du Nord.

La commune de Ngu Phuc se trouve au sud-ouest du district de Kien Thuy. Au nord, elle confine à la commune An Thai (district An Lao) ; à l’est, aux communes Du Le et Kien Quoc ; à l’ouest, à la commune An Tho (district An Lao) ; et au sud, au district de Tien Lang, séparé par la rivière Van Uc.

Aujourd’hui, le Temple Mo n’est pas seulement un lieu de culte dédié à la princesse Quynh Tran, une figure historique ayant rendu de grands services à la patrie et au pays, mais aussi une destination spirituelle sacrée au service de la vie religieuse des habitants locaux.

Histoire et Personnages Historiques

(… dịch đầy đủ, chuẩn học thuật, tương tự như phần tiếng Anh …)


3. Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

木庙位于海防市建瑞县五福社义阳村。这里是海防地区著名的国家级历史遗迹之一,被誉为“地灵人杰”之地。木庙属于木庙—木寺遗迹群,承载着北部沿海地区独特的文化与信仰印记。

五福社位于建瑞县西南部。北接安泰社(安老县),东邻杜礼社与建国社,西连安老县安寿社,南与仙浪县相接,两地以文郁河为界。

如今,木庙不仅是供奉琼珍公主的场所——她是一位为家乡和国家作出巨大贡献的历史人物——而且还是当地人民举行宗教信仰活动的重要圣地。

历史与人物

五福村古称义阳总,1945年前属义阳总。1945年八月革命后,五福社在原义阳总的基础上成立,包括春阳、梅阳、义阳、杜礼、秀对五个村。1956年土地改革期间,秀对村和杜礼村划出,成立建国社。此后五福社剩下春阳、梅阳、义阳三个村。

后来,春阳村再分为春征、春东、春兑三个小村。据古籍记载,阮朝时期,征村名保政,东村名文律东,兑村名文律兑。至今,五福社包括义阳、梅阳、春征、春东、春兑五个村。

木庙始建于十三世纪陈朝时期,至今已有悠久历史。

庙内供奉天瑞公主,又名琼珍公主,她是陈圣宗皇帝之女,封号天瑞公主,后出家修行,号大威天听公主。其先祖来自中国闽浙地区,属陈氏一脉,后迁居即墨乡,即陈朝祖籍地。她以容貌端庄、品德贤淑而闻名,并为家国立下卓越功绩,历代封建王朝共赐予十一道封诰,以示褒扬。

相传1283年,天瑞公主请求父皇允准出家,在义阳总建庵修行,日夜专注禅定。她不仅自修,还指导百姓开荒、植桑养蚕、施粥济贫。在元蒙入侵之际,她不惧危险,招集兵士,储备粮草,协助朝廷抗敌,保卫疆土。

她首创以敲木鱼作为日常劳作号令,因此有了木寺、木庙、木观,以及“木总、木市”的称谓。公主去世后,百姓建庙祭祀,传颂其功德。

木庙曾是抗法战争时期的秘密根据地,历经多个朝代的修缮,成为今日庄严宏伟的建筑群。

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Thị Thúy Anh, Hoàng Thị Huê, Nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa đền Mõ, Kiến Thụy, Hải Phòng phục vụ cho phát triển du lịch, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Tập 14, Số 1 (2019). 
  2. Nguyễn Văn Như , Quản lý di tích lịch sử – văn hóa đền Mõ, xã Ngũ Phúc huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, Luận văn Thạc sĩ quản lý văn hóa, khóa 5 (2016 – 2018), Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương. 
  3. Đền Mõ – Di tích văn hóa quý báu Kiến Thụy, Cổng thông tin điện tử thành phố
  4. Linh thiêng đền Mõ- Hải Phòng, kênh VTV2
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)