Đền Mưng (Thắng Lợi, Thanh Hóa)

Đền Mưng (Thắng Lợi, Thanh Hóa)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đền Mưng tọa lạc tại làng Côn Sơn, trước đây gọi là làng Mưng, thuộc xã Trung Thành, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Thắng Lợi, Thanh Hóa) theo địa danh hành chính trong tư liệu. Di tích nằm gần núi Côn Minh và dòng sông Lãng, những địa danh gắn với truyền thuyết về Thánh Lưỡng Tham Xung Tá Quốc. Sông Lãng còn là nơi tổ chức tục bơi thờ trong lễ hội truyền thống của địa phương.

Tên gọi đền Mưng bắt nguồn từ tên làng Mưng, nơi nhân dân lập đền thờ Lê Hữu vào thời Hậu Lê. Không gian di tích gồm khu đền thờ và khu vực ven sông Lãng lân cận. Theo truyền thuyết, vùng đất này còn có mối liên hệ với ngã ba hợp lưu giữa sông Lãng, sông Hoàng và sông Yên thuộc địa phận xã Tế Nông trước đây.

Nhân vật và lịch sử

Nhân vật thờ phụng

Đền Mưng thờ Thánh Lưỡng Tham Xung Tá Quốc, húy danh Lê Hữu, con trai út của Lê Ngọc, vị quan giữ chức Thái thú quận Cửu Chân dưới thời Tùy Đại Nghiệp. Theo truyền thuyết địa phương, năm 618, khi nhà Đường thay thế nhà Tùy, Lê Ngọc không chấp nhận sự cai trị của triều đại mới nên đã tập hợp lực lượng, được nhân dân trong vùng ủng hộ và phát động khởi nghĩa. Trong cuộc chiến, Lê Ngọc và hai người con trai hy sinh, Lê Hữu tiếp tục chỉ huy lực lượng chống quân Đường.

Tương truyền, trong một trận giao chiến, Lê Hữu bị quân Đường bao vây và chém rơi đầu. Ông nhặt đầu, tiếp tục cưỡi ngựa chạy về núi Côn Minh bên dòng Lãng Giang, hét lớn rồi ném đầu xuống sông và hiển thánh. Sự kiện được lưu truyền xảy ra vào ngày mùng 5 tháng Ba âm lịch, trở thành ngày tưởng niệm vị thần được thờ tại đền Mưng.

Truyền thuyết còn kể rằng, người chị gái của Lê Hữu từ Nghệ An đem quân ra cứu viện. Khi biết tin em trai hy sinh, bà gieo mình xuống dòng sông Lãng để giữ trọn khí tiết. Thi hài bà trôi đến ngã ba hợp lưu giữa sông Lãng, sông Hoàng và sông Yên, thuộc địa phận xã Tế Nông theo tư liệu, rồi nổi lên và được nhân dân vớt lên an táng. Để tưởng nhớ công lao và sự hy sinh của gia đình Lê Ngọc, nhân dân trong vùng đã lập nơi thờ phụng, hương khói qua nhiều thế hệ.

Lịch sử xây dựng và trùng tu

Theo tư liệu địa phương, ban đầu nhân dân lập bàn thờ để tưởng nhớ Lê Hữu và những người thân đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa chống nhà Đường. Đến thời Hậu Lê, khoảng thế kỷ XV, nơi thờ tự được xây dựng thành đền tại làng Mưng, tức làng Côn Sơn ngày nay. Ngôi đền được gọi là đền Mưng, trở thành nơi thờ Thánh Lưỡng Tham Xung Tá Quốc và tổ chức các nghi lễ tưởng niệm hằng năm.

Đền Mưng trước đây có quy mô lớn, gồm hậu cung chính tẩm, tòa tiền tế năm gian, sân chầu, hai dãy giải vũ, nghi môn, tam quan và hệ thống tường bao. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhiều hạng mục kiến trúc của đền bị bom đạn phá hủy. Sau chiến tranh, nhân dân địa phương đóng góp công sức xây dựng lại đền trên nền cũ, khôi phục hoạt động thờ tự và tổ chức lễ hội truyền thống.

Năm 1994, đền Mưng được trùng tu và công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh. Theo ghi nhận trong tư liệu năm 2022, sau đợt trùng tu này, một số hạng mục công trình tiếp tục xuống cấp. Những hiện vật và cấu kiện kiến trúc còn lại của đền cũ được bảo quản, trưng bày trong khuôn viên di tích.

Kiến trúc cảnh quan

Tổng thể kiến trúc

Theo tư liệu, đền Mưng trước đây là công trình thờ tự có quy mô lớn trong vùng, gồm hậu cung chính tẩm, tòa tiền tế năm gian, sân chầu, hai dãy giải vũ, nghi môn, tam quan và tường bao. Khu vực thờ chính gồm hậu cung và tiền tế; phía ngoài là sân chầu cùng các công trình phụ trợ. Hệ thống kiến trúc này phục vụ việc thờ phụng, tổ chức tế lễ và các nghi thức truyền thống của lễ hội đền Mưng.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều hạng mục của đền bị phá hủy. Sau chiến tranh, nhân dân xây dựng lại công trình trên nền cũ để tiếp tục thờ Thánh Lưỡng Tham Xung Tá Quốc. Hiện nay, trong khuôn viên còn lưu giữ các tượng đá, đồ thờ và hai cột cổ thuộc kiến trúc trước đây.

Hậu cung chính tẩm

Hậu cung chính tẩm là hạng mục thờ tự chính của đền Mưng trước khi bị chiến tranh tàn phá. Công trình là nơi phụng thờ Thánh Lưỡng Tham Xung Tá Quốc, nằm trong khu vực trung tâm của tổng thể kiến trúc. Theo tư liệu, hậu cung được xây dựng cùng hệ thống tiền tế, sân chầu và các công trình phụ trợ, tạo thành một khu đền có quy mô lớn.

Nguồn tư liệu hiện có chưa cung cấp số gian, kích thước, kết cấu mái và đặc điểm trang trí của hậu cung nguyên gốc cũng như công trình được xây dựng lại.

Tòa tiền tế

Tòa tiền tế của đền Mưng trước đây có quy mô năm gian, là nơi thực hiện các nghi thức dâng hương, tế lễ và những hoạt động thờ phụng tập thể. Công trình nằm trong khu kiến trúc chính, kết hợp với hậu cung, sân chầu và hai dãy giải vũ. Đây cũng là không gian phục vụ các kỳ tế lễ truyền thống, trong đó có những nghi thức từng được tổ chức với sự tham gia của đại diện triều đình.

Tòa tiền tế bị ảnh hưởng bởi chiến tranh cùng với các hạng mục khác của đền. Tư liệu chưa ghi nhận cụ thể kích thước, vật liệu, kết cấu bộ vì và số gian của công trình hiện nay.

Sân chầu và hai dãy giải vũ

Sân chầu nằm trong khu vực kiến trúc chính của đền Mưng, được sử dụng trong các hoạt động tế lễ và nghi thức truyền thống. Hai bên sân có các dãy giải vũ, thuộc hệ thống công trình phụ trợ của ngôi đền. Theo tư liệu, các hạng mục này được xây dựng đồng bộ với khu hậu cung và tiền tế, đáp ứng yêu cầu tổ chức các nghi lễ có sự tham gia của đông đảo nhân dân.

Sân chầu và hai dãy giải vũ gắn với hoạt động tế tự của đền Mưng trong thời kỳ phong kiến. Tư liệu hiện có chưa xác định cụ thể quy mô và mức độ bảo tồn của từng hạng mục sau khi đền được xây dựng lại.

Nghi môn, tam quan và tường bao

Đền Mưng trước đây có hệ thống nghi môn, tam quan và tường bao quanh khuôn viên. Đây là những hạng mục kiến trúc thuộc khu vực lối vào và ranh giới của khu thờ tự. Theo mô tả về kiến trúc cũ, các công trình này cùng với sân chầu, tiền tế và hậu cung tạo thành một quần thể đền thờ có nhiều hạng mục.

Trong chiến tranh, hệ thống công trình của đền bị tàn phá, sau đó được nhân dân xây dựng lại trên nền cũ. Tư liệu hiện có chưa cung cấp hình thức kiến trúc, kích thước, số tầng mái hoặc những chi tiết trang trí của nghi môn và tam quan.

Cấu kiện kiến trúc cổ

Trong khuôn viên đền Mưng hiện còn hai cột cổ được lưu giữ từ kiến trúc trước đây. Theo thông tin giới thiệu di tích, các cột đã bị hư hỏng nặng nên không tiếp tục được sử dụng khi công trình được tu sửa mà được đưa ra trưng bày. Đây là những cấu kiện kiến trúc còn lại sau quá trình đền bị phá hủy và xây dựng lại.

Nguồn tư liệu chưa cung cấp chất liệu, kích thước, hình thức tạo tác và niên đại xác định của hai cột. Do đó, chưa đủ cơ sở để xác nhận thời điểm chế tác hoặc vị trí nguyên gốc của chúng trong hệ thống kiến trúc đền Mưng.

Cảnh quan khu di tích

Đền Mưng nằm gần núi Côn Minh và dòng sông Lãng, hai địa danh xuất hiện trong truyền thuyết về Lê Hữu. Theo câu chuyện dân gian, sau khi bị quân Đường chém rơi đầu, ông đã cưỡi ngựa về núi Côn Minh, ném đầu xuống sông Lãng và hiển thánh. Khu vực này trở thành một phần trong không gian tín ngưỡng gắn với việc thờ phụng Thánh Lưỡng Tham Xung Tá Quốc.

Đoạn sông Lãng gần đền là địa điểm tổ chức tục bơi thờ trong lễ hội truyền thống. Bên ngoài đền có một cây cổ thụ, dưới gốc đặt bát hương phục vụ hoạt động thờ cúng. Khu vực đền, cây cổ thụ và đoạn sông Lãng lân cận là những địa điểm gắn với các nghi lễ và hoạt động trong lễ hội.

Hiện vật

Đền Mưng hiện còn lưu giữ một số hiện vật và cấu kiện kiến trúc cổ, gồm hệ thống tượng đá, bát hương và hai cột thuộc kiến trúc cũ. Theo tư liệu năm 2022, tại đền còn 10 pho tượng đá, được phân thành ba nhóm: tượng quan văn, quan võ; tượng lồi và tượng thú.

Nhóm tượng quan văn, quan võ được tạo tác trong tư thế đứng, tay cầm gươm hoặc hốt. Nhóm tượng lồi, được tư liệu gọi là tượng lực sĩ Chiêm Thành, có tư thế quỳ, hai tay vòng trước người theo hình thức chầu. Nhóm tượng thú gồm các hình tượng voi, ngựa, chó và những con vật khác. Nguồn tư liệu chưa ghi nhận cụ thể số lượng tượng thuộc từng nhóm, kích thước và niên đại chế tác.

Ngoài hệ thống tượng đá, đền còn lưu giữ một bát hương cổ được giới thiệu là hiện vật có niên đại sớm nhất trong số đồ thờ còn lại. Tại khu vực ngoài đền, dưới gốc cây cổ thụ gần nơi tổ chức bơi thờ, cũng có một bát hương phục vụ hoạt động tín ngưỡng. Tư liệu chưa cung cấp niên đại, chất liệu và đặc điểm trang trí cụ thể của các bát hương.

Hai cột cổ được lưu giữ trong khuôn viên là những cấu kiện thuộc kiến trúc đền trước đây. Do bị hư hỏng nặng, các cột được đưa ra khỏi công trình và trưng bày riêng sau quá trình tu sửa.

Lễ hội

Lễ hội đền Mưng là lễ hội truyền thống của nhân dân làng Côn Sơn và các cộng đồng dân cư trong vùng, tổ chức nhằm tưởng nhớ công lao của Thánh Lưỡng Tham Xung Tá Quốc. Theo truyền thuyết, ngày mùng 5 tháng Ba âm lịch là ngày Lê Hữu hy sinh và hiển thánh tại núi Côn Minh bên dòng sông Lãng. Hoạt động lễ hội gắn với các nghi thức tế lễ, rước văn, hát chèo thờ, bơi thờ và những trò diễn dân gian.

Theo tư liệu địa phương, trước đây lễ hội đền Mưng được xếp vào hàng quốc lễ. Vào dịp lễ hội, triều đình ban sắc chỉ, Bộ Lễ cử người về làm chủ tế và tổ chức những nghi thức theo quy định. Từ đó hình thành tục rước văn, một nghi lễ truyền thống được duy trì trong hoạt động thờ phụng tại đền.

Bên cạnh các nghi thức tế lễ và rước văn, lễ hội còn có các hoạt động rước voi, rước cỗ, chèo thuyền và những trò chơi dân gian. Hát chèo thờ là hình thức diễn xướng gắn với việc tưởng niệm vị thần được phụng thờ, được thực hành trong không gian lễ hội. Những hoạt động này được cộng đồng lưu truyền cùng với hệ thống nghi lễ tại đền.

Tục bơi thờ là một hoạt động tiêu biểu của lễ hội, được tổ chức trên sông Lãng, đoạn gần đền Mưng. Đây là hình thức đua thuyền truyền thống gắn với địa danh nơi tương truyền Lê Hữu đã hiển thánh. Khu vực ven sông, gần cây cổ thụ có đặt bát hương, là một trong những địa điểm thực hành tín ngưỡng liên quan đến hoạt động bơi thờ.

Sau khi đền bị chiến tranh tàn phá, nhân dân địa phương xây dựng lại công trình và tiếp tục duy trì các hoạt động tế tự, lễ hội. Trong đó, tục rước văn, hát chèo thờ và bơi thờ là những hình thức thực hành văn hóa truyền thống gắn với di tích. Năm 2019, lễ hội đền Mưng được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Xếp hạng

Năm 1994, đền Mưng được công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh.

Năm 2019, Lễ hội đền Mưng được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình lễ hội truyền thống. Hai danh hiệu được ghi nhận riêng đối với di tích lịch sử – văn hóa và lễ hội truyền thống của cộng đồng.

Nguồn ảnh: sưu tầm

Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin
Đền Mưng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)