Đền Voi Phục (Đền Thuỵ Khuê – Tây Hồ, Hà Nội)

Đền Voi Phục (Đền Thuỵ Khuê – Tây Hồ, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đền Thụy Khuê, xưa vốn có tên là “đền Thụy Chương”, là một ngôi đền cổ có lịch sử lâu đời, hiện tọa lạc tại số 251 đường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Thời trước, cổng chính của đền quay về phía tây, hướng vào thành Thăng Long. Theo sử liệu, vào các năm 1608 và 1618, triều Lê đã hai lần tổ chức lễ cầu đảo tại đền, cầu cho “mưa thuận gió hòa”, và đều được ứng nghiệm. Nhân sự kiện này, triều đình ban cho đền tấm biển “Hạ mã”.

Tuy nhiên, do hướng đền quay thẳng ra đường thành gây nhiều bất tiện trong giao thông, đến năm 1621, dân làng đã cho xoay cổng đền sang hướng chính bắc. Cũng trong giai đoạn này, dân địa phương đào một giếng Ngọc trước cửa đền. Khi đào, họ phát hiện được đôi voi đá nguyên khối, liền đưa lên đặt trên bệ trước cổng để thờ. Từ đó, ngôi đền được gọi là “đền Voi phục Thụy Chương”, nhằm phân biệt với “đền Voi phục Thủ Lệ” (theo ghi chép trên văn bia tại đền).

Tên gọi “Thụy Chương” tiếp tục tồn tại cho đến khi vua Thiệu Trị lên ngôi (1840). Do phải kiêng tên húy của nhà vua, đền cùng con đường trước cửa đã được đổi tên thành “Thụy Khuê”, và từ đó ngôi đền mang tên Đền Thụy Khuê cho đến nay.

Lịch sử và nhân vật

Sự tích về Linh Lang được ghi chép trong nhiều thư tịch và cũng lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Truyền thuyết kể rằng, vào thời vua Lý Thái Tông, một hôm nhà vua cùng quần thần dạo chơi hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) và Bồng Lai, gặp một thiếu nữ tên là Cảo Nương, xinh đẹp như đóa hoa mười phần xuân sắc. Nhà vua đem lòng yêu mến, đưa nàng về cung, phong làm thứ phi, đồng thời cho dựng cung điện tại ven hồ Dâm Đàm thuộc phường Thụy Chương để nàng ở.

Trong một lần tắm ở Hồ Tây, phi bị giao long quấn lấy rồi mang thai. Đến ngày 13 tháng Chạp năm Kỷ Tỵ (1029), bà sinh được một hoàng tử khôi ngô, được nhà vua đặt tên là Hoàng Lang.

Năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ nhất (1044), Hoàng Lang đã tinh thông võ nghệ. Khi giặc Chiêm Thành xâm lược, ông theo vua cha thân chinh, tiến quân đến tận kinh đô Đồ Bàn, giết vua Chiêm, khiến quân giặc tan vỡ. Năm 1069, ông lại theo vua Lý Thánh Tông đánh dẹp giặc Trình Vĩnh ở phương Nam. Đến năm Đinh Tỵ (1077), quân Tống xâm lược, Hoàng Lang được giao chỉ huy thủy binh, phối hợp cùng đạo quân của Thái úy Lý Thường Kiệt phản công, đánh bại các cánh quân của Quách Quỳ và Triệu Tiết. Sau chiến thắng, Hoàng tử được ban thưởng nhiều nhưng đều đem phân phát cho dân, chỉ xin vua cho tung cờ lên, cờ bay đến đâu thì làm nhà ở đó. Lá cờ bay đến trại Thủ Lệ, vua cho dựng cung điện cho ông ở. Ít lâu sau, Hoàng tử không bệnh mà hóa (ngày 12 tháng 2 âm lịch). Nhà vua đã phong tước hiệu Linh Lang Đại Vương, sắc cho hai làng Thụy Khuê và Thủ Lệ lập đền thờ làm thành hoàng.

Hiện nay, di tích vẫn bảo lưu lễ hội gắn với sự tích Linh Lang. Lễ hội được tổ chức hai lần mỗi năm: ngày sinh thần (13 tháng Chạp âm lịch) với lễ vật “tam sinh: trâu, lợn, dê cùng các thứ hoa quả”, và ngày hóa (12 tháng 2 âm lịch), hội diễn ra trong ba ngày, lễ vật cũng là lễ tam sinh. Trong dịp này còn có nghi thức rước long ngai, bài vị từ Thủ Lệ sang Thụy Khuê (nơi được coi là tổng Cả và là quê sinh của thần).

Kiến trúc cảnh quan

Đền Thụy Khuê là một trong những di tích lâu đời, có quá trình tồn tại gắn liền với nhiều lần tu bổ, trùng tu. Theo tấm bia cổ nhất còn lưu giữ trong đền, được dựng vào năm Vĩnh Tộ thứ ba (1621), có ghi rằng: “Đền trước đó nguy nga có tiếng là thiêng, vua nhân cầu đảo thấy ứng nghiệm, cho quan đến tu sửa và cấp cho 20 mẫu ruộng…”. Tư liệu từ hệ thống bia ký còn cho biết, dưới triều Lê, ngôi đền ban đầu được xây dựng theo hướng quay lưng ra hồ, với mục đích ngăn con đường tắt dẫn ra Hồ Tây.

Đến tháng 7 năm Canh Thân (1860), Án Sát Sứ Hà Nội lúc bấy giờ là Tiến sĩ Nguyễn Hầu, tự Như Cát, khi dạo chơi Hồ Tây đã đến thăm ngôi đền và cảm thán: “Đền như thế này thì làm sao có thể thu về cái đẹp của non nước bao la, Đền như thế này làm sao bao quát được mây trời vạn dặm vào tầm mắt được…”. Sau đó, ông đã tham khảo ý kiến các bậc kỳ lão, bốc cư, rồi chọn ngày lành tháng tốt tiến hành đổi hướng mặt tiền ngôi đền quay về Đông Bắc thay vì Tây Nam như trước. Từ đó, đền tọa lạc trên vùng đất cổ Hồ Tây, với “Nền La Thành làm hậu chẩm, Sông Tô làm khâm đái, mặt nhìn ra nước Hồ Tây trong xanh, từng lớp sóng bạc dâng trào”. Hoàn thành việc đổi hướng, ông lại viết: “Hồ Sông thực khá lớn vậy. Thần dân phải làm chủ hết thẩy. Nay thuận theo lòng người, chọn được phương, định được vị để xin thân ban phúc… Bởi vậy mới nói ‘Trước tiên là làm tốt đẹp cho dân, sau mới chí kính với Thần vậy’”. Bia đá ghi lại sự kiện này được dựng ngày Trùng Dương 9 tháng 9 năm Canh Thân, niên hiệu Tự Đức thứ 13 (1860), do Phó Tổng Nguyễn Viết Hướng soạn văn.

Sang thời Nguyễn, đền Thụy Khuê tiếp tục được trùng tu nhiều lần, mang đậm phong cách kiến trúc thời kỳ này. Tổng thể mặt bằng kiến trúc của đền bố cục theo dạng chữ đinh, gồm tam quan, tiền tế và hậu cung. Tam quan là nếp nhà ba gian, xây gạch, phía trước có cửa bức bàn, dưới là bốn hàng cột chắc khỏe theo kiểu “chồng rường”, hai hồi đắp tượng hộ pháp và bên ngoài đặt hai voi đá án ngữ. Qua một khoảng sân nhỏ là bậc tam cấp bằng đá xanh dẫn vào tòa tiền tế năm gian, kết cấu “chồng rường giá chiêng”, chạm khắc nhiều đề tài rồng, mây, hoa lá tinh tế. Gian giữa treo đôi câu đối ca ngợi công đức thần linh, hai gian sát hồi gắn nhiều bia đá ghi dấu các đợt tu sửa.

Phía sau, hậu cung gồm ba gian, kết cấu tương tự tiền tế, trang trí hổ phù, tứ linh, tứ quý. Tại trung tâm đặt long ngai, bài vị đề “Linh Lang Đại vương thượng đẳng thần”. Bên cạnh là bát hương đá vuông, mặt chính diện chạm hổ phù, hai mặt bên chạm lưỡng long chầu nguyệt – hiện vật quý phản ánh nghệ thuật thời Lê. Trong đền còn lưu giữ một tấm bia kích thước 92 x 61 x 10 cm đặt trên lưng rùa, bốn mặt khắc chữ Hán. Đây là nguồn tư liệu có giá trị quan trọng, cung cấp thông tin về nguồn gốc ngôi đền và các lần trùng tu qua nhiều thế kỷ.

Hiện vật

Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, đền vẫn may mắn bảo tồn được một số di vật mang giá trị đặc biệt. Hiện tại, ngoài sáu bia đá, di tích còn lưu giữ long ngai, bài vị, cửa võng, bát bửu, kiệu, cùng hệ thống hoành phi, câu đối được sơn son thiếp vàng lộng lẫy với nội dung ca ngợi công tích của thần. Những hiện vật này không chỉ phản ánh giá trị nghệ thuật mà còn thể hiện truyền thống tôn vinh, tưởng niệm thần linh của cộng đồng.

Đáng chú ý, bậc tam cấp dẫn vào chính điện vẫn còn bốn phiến đá tạc hình rồng. Các đường nét chạm khắc ở đây thể hiện phong cách nghệ thuật thanh thoát, phóng khoáng, với vây rồng được “chạm cách điệu hình hoa lá uyển chuyển sống động”. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc đá thời Lê, vừa mang tính trang trí, vừa chứa đựng ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng, góp phần khẳng định giá trị thẩm mỹ và lịch sử của ngôi đền.

Lễ Hội

Ngày hội đền Voi Phục vốn được xem là ngày hội chung của cả làng và cả tổng, vì vậy không khí lễ hội luôn nhộn nhịp, thu hút đông đảo nhân dân tham dự. Do quy mô lớn và chi phí tốn kém, lễ hội chính chỉ được tổ chức trọng thể 5 năm một lần, còn hằng năm duy trì hội lệ. Chính hội diễn ra vào ngày mồng 10 tháng Hai, khi làng Thụy Khuê tổ chức một đoàn rước xuống đền Thủ Lệ làm lễ. Thành phần đoàn rước bao gồm: cờ hội do một cụ cao niên dẫn đầu, tiếp theo là cờ tứ linh, cờ ngũ hành, bộ chấp kích, dàn nhạc bát âm, trống cái, chiêng lớn, bốn cô gái múa “đánh bồng”, cùng hương án. Đặc biệt, kiệu bát cống do mười hai trai tráng cởi trần, đóng khố khiêng, tái hiện tích “Thủ Lệ vượt sông Tô Lịch vào đền chép trộm bài vị”. Đi sau là các quan viên, bô lão.

Đoàn rước trải qua nhiều đoạn đường khó khăn: khi lên núi Bò phải vừa bò vừa đỡ kiệu; xuống núi được dân làng Hào Nam đỡ vai; đến Ngọc Khánh thì Hào Nam bàn giao để Ngọc Khánh tiếp tục đưa về đền Thủ Lệ. Tại đây tiến hành lễ cáo yết, rồi các cụ Thụy Khuê trở về đền Thụy, làm lễ bao sái đồ thờ và chuẩn bị “dọn trưởng” để đón đoàn Thủ Lệ rước sang. Đến ngày 12 tháng Hai, đoàn rước lại khởi hành từ đền Thủ Lệ sang Thụy Chương, với nghi thức tương tự. Khi đến Thụy Khuê, đoàn tập kết ở đình Trên (nay đã mất), chỉnh trang rồi mới vào đền làm lễ. Khi kết thúc, mỗi đoàn trở về, cai hàng đô đánh ba hồi trống khẩu, các giai kiệu đồng thanh hú vang “hí… hà…” biểu thị sự hoan hỉ.

Theo truyền thuyết: “Khi Linh Lang đại vương hóa, biến thành giao long bò từ trong trướng ra Hồ Tây nên có nhiều nơi thờ vào các ngày khác nhau: Vạn Phúc thờ ngày mồng 9 tháng Hai; Thủ Lệ làm lễ ngày mồng 10 tháng Hai; Trường Lâm làm lễ ngày 11 tháng Hai; Thụy Chương làm lễ ngày 12 tháng Hai; Hào Nam làm lễ ngày 13 tháng Hai…”. Ngoài phần tế lễ ở đền Thụy Chương, ngày trước tại bãi đất chợ Thụy Khuê (khu vực giữa đình Trên và đình Dưới, nay là cửa hàng lương thực) còn diễn ra các trò chơi như đu bay, hát chèo (luân phiên tổ chức ở đình Trên hoặc đình Dưới). Đặc biệt, vào ngày 16 tháng Hai, làng Thụy tổ chức thi cỗ gọi là “ăn nhắm”. Lễ hội đền Thụy Chương chỉ chính thức khép lại sau nghi thức này.

Xếp hạng

Đình đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1986.

Tham khảo

  1. Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên (chủ biên), Địa chí Thăng Long – Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm – phần Thăng Long cổ tích khảo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nhà xuất bản Thế Giới.
  2. Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
  3. Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.
  4. Trần Thanh Đạm (1962). Tây Hồ chí, Nxb Bộ Giáo dục.
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin
Avatar chon thieng 200x133

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)