Tên gọi và vị trí địa lý
Đền Xám hay còn gọi là đình Xám, đình Hát ở thôn Lạc Đạo, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình). Đền thờ Phu dực quốc chính Thượng tướng quân Trần Minh Công.
Lịch sử và nhân vật
Trần Minh Công tên thật là Trần Lãm, sinh ngày 18 tháng 8 (không rõ năm), cha là Trần Đức, mẹ là Lâm Thị Hoa. Quê gốc của ông vốn ở Quảng Đông (Trung Quốc), dời về phương nam vào thời Ngô Vương Quyền (939-944) cùng gia đình làm nghề đánh cá tại cửa biển Bố Hải (Thái Bình).
Theo cuốn Bách Thần Lục chép rằng:
Trần Lãm (陳覧) (?-967) là một nhân vật lịch sử vốn là hào trưởng, gốc Hán chiếm đóng ở vùng Bố Hải Khẩu (Kỳ Bố Hải Khẩu) nay là khu vực thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Ông là người lãnh đạo một trong mười hai sứ quân cát cứ ở Việt Nam giữa thế kỷ X. Theo các tài liệu ghi lại, ông là sứ quân trấn giữ vùng cửa biển, có tiềm lực mạnh về kinh tế dựa vào lợi thế của nghề đánh cá biển. Trần Lãm là người gốc Quảng Đông (Trung Quốc), cha là Trần Công Đức sang Việt Nam chiếm giữ, lập nghiệp ở vùng ven biển Bố Hải Khẩu (vùng Thái Bình – Nam Định ngày nay đều có đền thờ). Không có tài liệu để xác định rõ địa phận kiểm soát quản lý của sứ quân Trần Lãm. Nhiều ý kiến cho rằng vào thế kỷ X, Bố Hải Khẩu là trung tâm của vùng đất phía nam sông Luộc, gồm cả vùng đất 2 tỉnh ven biển là Thái Bình và Nam Định ngày nay. Trần Lãm được nhân dân lập đền thờ nhiều nơi ở vùng ven biển Nam Định – Thái Bình. Tại Thái Bình, Trần Lãm được thờ làm thành hoàng làng tại đình Bo (phường Kỳ Bá – trước là Kỳ Bồ) và đình Lạc Đạo (phường Trần Lâm), thành phố Thái Bình. Hàng năm vào dịp tháng 8 và tháng 10 âm lịch (ngày sinh và ngày mất của tướng quân Trần Lãm) là phường Kỳ Bá tổ chức lễ hội truyền thống đình Bo. ở Thái Bình, tên tuổi của ông được đặt cho phường Trần Lãm, các trường tiểu học và THCS Trần Lâm, đường Trần Lâm và khu đô thị Trần Lãm,…”1
Giai đoạn này tình hình đất nước đang có biến loạn. Từ năm 944 khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, các nơi không chịu thần phục. Nhân đó các thế lực địa phương nổi dậy cát cứ, đánh chiếm lẫn nhau làm triều đình ngày càng suy yếu. Khi ấy ở Bố Hải Khẩu (Kỳ Bố -Thái Bình) Trần Lãm chiêu binh mãi mã, đào hào đắp thành xây dựng căn cứ tại vùng đất Thái Bình, Nam Định ngày nay, hình thành nên một trong 12 sứ quân.
Tại động Hoa Lư (Ninh Bình) có Đinh Bộ Lĩnh là con của Thứ sử châu Hoan Đinh Công Trứ. Với trí thông minh, có khí phách và tài thao lược quân sự lại thấy cảnh nhân dân khổ cực vì loạn 12 sứ quân ông đã dựng cờ khởi nghĩa mong lập nghiệp lớn. Song buổi đầu lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh còn nhiều thiếu thốn, hành động tự phát, thường phải ẩn náu trong rừng sâu. Một hôm Đinh Bộ Lĩnh nghe nói ở Bố Hải Khẩu có ông Trần Lãm là người nhân đức khoan hoà bèn đem con trai là Đinh Liễn đến nương tựa. Minh Công thấy Bộ Lĩnh dáng mạo khôi ngô lạ thường, lại có khí lượng, mới nhận làm con nuôi, sau đó trao lại toàn bộ binh quyền.
Năm Mậu Thìn (968) Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong 12 sứ quân, lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư. Sau khi lên ngôi Đinh Tiên Hoàng đã phong cho sứ quân Trần Lãm chức Phụ dực quốc chính Thượng tướng quân. Trần Minh Công tuổi đã già, cùng tuỳ tùng đi chơi vãng cảnh, đến Lạc Đạo Giao Thuỷ – Thiên Trường thấy cảnh đẹp, làm nhà, sửa chùa, bắc cầu cống, cùng vợ con, dân làng cày cấy. Đinh Tiên Hoàng sai lập sinh từ ở Hoa Lâm – Lạc Đạo, cho dân miễn thuế. Ngài mất năm 977 thọ 71 tuổi, Đinh Tiên Hoàng cùng các con Minh Công lo việc an táng ở phía đông sinh từ.
Cuốn ngọc phả: “Sứ quân ở Bố Hải Khẩu Trần Minh Công” do Tiến sĩ Lê Tung viết ngày 2 tháng 10 niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) hiện còn lưu giữ tại đền có ghi lại sự kiện lúc sinh thời Trần Minh Công có qua xứ Lạc Đạo, thấy nơi đây phong cảnh hữu tình, dân cư thuần phác bèn lập sinh từ, giúp địa phương khơi ngòi, đắp đập, tạo dựng làng xã. Ông mất vào ngày 10 tháng 10 tại thôn Lạc Đạo. Đinh Bộ Lĩnh sai dân sở tại phụng thờ, hàng năm mở hội tế lễ và phong mỹ tự: “Quốc đô Thành hoàng”.
Kiến trúc cảnh quan
Ngôi đền tọa lạc bên trục đường giao thông chính của địa phương, khu di tích có quy mô kiến trúc rộng lớn, được quy hoạch hài hòa và bề thế, gồm các hạng mục chính như: Cổng, Nghi môn, Gác chuông, Đình Hát, Đền chính, Giải vũ cùng hệ thống công trình phụ trợ khác. Phía trước đền là hồ nước rộng, giữa hồ là tượng đài Chủ Tịch Hồ Chí Minh, không chỉ tạo thế phong thủy đẹp mà còn là không gian diễn ra lễ hội bơi chải truyền thống nổi tiếng của làng, mang đậm bản sắc văn hóa địa phương.
Cổng
Cổng đền là một dãy tường lửng, bề mặt ốp gạch đá, chính giữa mở một lối cổng sắt làm cửa ra vào. Dãy tường bao được xây dựng nối liền chạy bao quanh khuôn viên di tích, tách biệt không gian thờ tự bên trong.
Nghi Môn
Từ cổng dẫn vào cách một khoảng vườn là đến Nghi Môn, ở khoảng vườn được trồng cây cảnh trang trí. Nghi Môn kiểu tứ trụ kết hợp dạng cổng mái, hai gác chuông xây kiểu 3 tầng mái.
Lối vào chính của đền được tạo bởi hai trụ biểu lớn, cao khoảng 6,2m, đặt trên chân đế cao 0,8m, trang trí hình cổ bồng. Thân trụ có dạng vuông, các đường gờ chỉ rõ nét, ở giữa nổi bật câu đối chữ Hán ca ngợi công lao của Thành hoàng Trần Minh Công. Trên đỉnh mỗi trụ làm hình lồng đèn, phía trên trang trí bốn chim phượng quay ra bốn hướng. Khoảng cách giữa hai trụ rộng 3,46m, tạo lối đi dẫn vào bên trong.
Hai bên cổng chính là các cổng phụ, đặt cách trụ biểu khoảng 0,5m và nối liền bằng bức tường cao 2,46m, phía trên lợp giả ngói ống. Trên tường trang trí hình ngựa ở mặt trong và hình voi ở mặt ngoài. Mỗi cổng phụ rộng 0,74m, cao 3,07m, được xây theo kiểu cổ đẳng với hai tầng, tám mái, lợp giả ngói ống. Phần nối giữa mái trên và mái dưới có đắp chữ Hán: “Công ư quốc” (Có công với nước) và “Đức ư dân” (Để đức cho dân).
Phía ngoài cùng là hai trụ góc, có hình thức tương tự cột đồng trụ nhưng kích thước nhỏ hơn. Các trụ này được nối với cổng phụ bằng tường hoa cao 1,5m, dài 2,7m, đồng thời liên kết với hệ thống tường gạch bao quanh, tạo thành không gian khép kín, bảo vệ toàn bộ khu di tích.
Gác chuông
Bước qua Nghi Môn là một khoảng sân rộng lát gạch đỏ, tạo không gian thoáng đãng trước khu thờ tự, tại khu sân này, phía trước và hai bên bố trí hai gác chuông. Hai gác chuông được xây sát tường hồi của tòa Giải Vũ, mỗi gác gồm 3 tầng. Tầng một có mái cuốn vòm, phía dưới chia thành nhiều khoang cửa, để thoáng. Tầng hai có kết cấu tương tự nhưng quy mô nhỏ hơn. Tầng 3 là phần nhỏ nhất cao nhất, Phần tường được đắp chữ Hán, bên phải đắp nổi dòng chữ “Dương tại thượng” (Mênh mang ở trên), bên trái đắp nổi ba chữ “Ngưỡng di cao” (Ngửa trông lên thấy càng cao). Mái vữa giả ngói ống, các góc đao trang trí họa tiết vân cuộn. Chiều cao gác chuông tính từ nền lên đỉnh mái giữa là 7,11m, còn hai mái bên cao 5,79m. Mỗi gác chuông treo một quả chuông đồng, trong đó, quả chuông bên trái đền có khắc dòng chữ “Lạc Đạo từ chung” (Chuông chùa Lạc Đạo), được đúc vào năm Thành Thái thứ 11 (1899).
Đình Hát
Công trình được xây dựng phía trước đền là Đình Hát, vốn là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi diễn ra các buổi hát chèo và hội thi hát truyền thống của làng. Đình được xây dựng theo kiểu cột trụ kết hợp cuốn vòm, với hai tầng mái và hệ vì kèo bố trí bên trong.
Mặt bằng Đình Hát có hình vuông, kích thước khoảng 10,20m x 10m. Gian giữa rộng 5,30m, hai gian hồi mỗi gian rộng 2m. Phần mái vòm phía trên được thiết kế theo kiểu kèo đặt trên cột trụ, gác trực tiếp lên trụ tường. Mái dưới được xây theo dạng cuốn vòm, kết hợp với hệ xà nối giữa các cột trụ bên trong và tường bao. Điểm cao nhất của công trình là đấu trụ mái trên, đạt chiều cao 9,68m.
Hệ thống cột trụ ở bốn mặt ngoài của Đình Hát được liên kết bằng tường gạch, tạo thành 12 khoang cửa ra vào và 8 ô cửa sổ. Các khoang cửa đều để mở, không lắp cánh cửa, giúp không gian bên trong luôn thông thoáng. Ở trung tâm đình đặt một bàn thờ, phía trên treo hoành phi đề bốn chữ Hán “Thánh cung vạn tuế”. Hai bên là hai bàn sắp lễ, cùng các giá đặt đồ tế khí, chiêng và trống, phục vụ cho các nghi lễ và hoạt động sinh hoạt văn hóa của cộng đồng.
Đền chính
Đền được xây dựng theo lối kiến trúc chữ Công (工) truyền thống, gồm ba hạng mục chính là Tiền Đường, Trung Đường và Hậu Cung. Phía trước là hệ thống cửa ra vào, cửa giữa được đặt một ban thờ, cửa hai gian bên làm lối ra vào chính. Hai gian chái bưng một bức vách kín, giữa bức vách tạo một khoang cửa sổ giả, trang trí chia thành 9 ô hình vuông và hình chữ nhật xen kẽ nhau, ô chữ nhật tại vị trí trung tâm cửa sổ lắp chấn song con tiện, còn 9 ô xung quanh gắn những mảng phù điêu chạm khắc nhiều đề tài tứ linh, tứ quý,…
Tòa Tiền Đường có quy mô ba gian 2 chái, được nâng đỡ bởi 12 cột quân, trong đó 6 cột cái đặt trên các chân tảng đá chắc chắn, tạo cảm giác bề thế và trang nghiêm. Phần mái sử dụng 6 bộ vì với kết cấu truyền thống kiểu “thượng chồng rường giá chiêng, hạ kẻ bẩy”. Mỗi bộ vì liên kết chặt chẽ giữa cột, vì nóc, vì nách và vì hiên, giúp bộ khung mái vững chắc.
Nét đặc sắc nhất trong nghệ thuật trang trí của di tích tập trung ở các ô cửa Tiền Đường, nơi thể hiện phong phú các hình tượng dân gian như rồng chầu, phượng, nghê, kết hợp hài hòa với họa tiết đao mác, lá hỏa, vân áng và nhiều loài muông thú như khỉ, nai, chim, rắn… Tất cả tạo thành những mảng phù điêu hoàn chỉnh, giàu giá trị thẩm mỹ và phản ánh trình độ điêu khắc tinh tế của nghệ nhân xưa.
Trong kết cấu kiến trúc, Tiền Đường sử dụng bẩy ở gian hồi, kẻ ở gian giữa và hai gian bên. Bẩy hiên được ăn mộng từ cột quân, khoét mộng để đỡ dạ tàu mái và gánh hai hoành mái. Trên lưng kẻ đặt ván dong, khoét mộng để đỡ hoành mái. Ở một số vị trí hiên, đặc biệt là chỗ giáp với kẻ hiên gian giữa, còn sử dụng then tàu để tăng độ liên kết.
Tại phần hiên đầu hồi đặt hai tượng ngựa thờ quay vào trong. Không gian nội thất bên trong được bố trí liên thông với Trung Đường, tạo thành hai lớp thờ tự. Lớp thứ nhất nằm trong khoảng giữa các cột cái, lớp thứ hai tính từ hàng cột quân phía sau. Theo trục ngang, gian giữa đặt ban thờ chính, hai gian bên thấp hơn, đặt ban thờ nhỏ và tượng Quan hầu.
Trung Đường sử dụng kiểu liên kết cốn mê, tương tự kết cấu ở vì nóc. Hai bên xây tường bao, phía trước mở thoáng để nối với Tiền Đường, phía sau ngăn với Hậu Cung bằng hệ thống cửa gỗ. Không gian thờ tự ở Trung Đường bố trí theo chiều dọc, chia làm hai lớp thờ, mỗi lớp đặt một ban thờ trong khoảng giữa hai cột cái. Gian thờ thứ nhất đặt một hương án gỗ, trên bày bát hương, đỉnh thờ và các đồ thờ tự. Gian thờ thứ hai có bệ thờ, trên đặt hai ngai thờ lớn, chiều cao gần chạm tới dạ câu đầu. Trên hai cột cái của gian ngoài cùng treo câu đối, tường được vẽ trang trí hình tứ linh: long, ly, quy, phượng.
Hậu Cung gồm ba gian bố trí theo chiều ngang, được ngăn cách bằng hệ thống cửa bức bàn, hai bên có hai cửa ngách dẫn vào bên trong. Không gian Hậu Cung giống như một khám thờ kín. Gian giữa có một bệ thờ, trên đặt khám thờ bằng gỗ cao gần sát dạ câu đầu, bên trong thờ tượng Thành hoàng Trần Minh Công; hai bên khám thờ là nơi đặt đồ tế khí. Trên các mảng chạm thủng của y môn cửa Hậu Cung, đề tài rồng và lân được thể hiện rõ nét, mang phong cách nghệ thuật kiến trúc gỗ cuối thế kỷ XVI (thời Mạc).
Phần mái Hậu Cung được làm quay ngang, nối vuông góc với mái Trung Đường, kết cấu một tầng, bốn góc hồi, có đao, lợp ngói di. Điểm cao nhất của mái là đỉnh hai kìm nóc, cao 6,50m.
Nghệ thuật trang trí tại đền Xám thể hiện rõ ở cả trang trí bên ngoài và bên trong. Trang trí ngoài chủ yếu bằng kỹ thuật đắp vữa, thực hiện vào giai đoạn khá muộn, khoảng nửa đầu thế kỷ XX. Trang trí bên trong sử dụng kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng, kênh bong trên các cấu kiện gỗ và một số đồ thờ tự, mang phong cách nghệ thuật kéo dài từ cuối thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XX, với nhiều đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc vùng Nam Định và đồng bằng Bắc Bộ.
Bên cạnh đó, di tích còn lưu giữ nhiều dấu vết rõ nét của nghệ thuật kiến trúc giữa thế kỷ XVII, thể hiện ở cả Tiền Đường và Hậu Cung. Các mảng chạm rồng, thú trên cửa, hình rồng và họa tiết đao mác chạm trên cột gian giữa và hai gian bên của Tiền Đường là những ví dụ tiêu biểu cho phong cách chạm khắc giai đoạn này.
Hệ mái của công trình sử dụng kết cấu một tầng ba mái, hai mặt mái trước và sau cân xứng. Mái trước đỡ 8 khoảng hoành, mái sau ngắn hơn với 7 khoảng hoành. Trên đường bờ nóc đắp trang trí hình rồng chầu mặt trời, nghê chầu; kìm nóc cũng được đắp hình rồng ngậm bờ mái. Các góc đao hiện đã được hạ thấp, phần cong ngắn lại và trang trí hình rồng.
Giải Vũ
Ở hai bên Đình Hát, là hai dãy nhà Giải vũ được xây dựng theo phong cách “quá giang kèo cầu”. Công trình này được dựng vào đầu thế kỷ XX, dùng làm nơi tiếp khách và sắp đặt lễ vật trong những dịp tế lễ. Đặc biệt, tại tường hồi bên trái của mỗi dãy Giải vũ, phần tường được xây thụt vào bên trong để tạo thành một khám thờ nhỏ. Đây là nơi thờ công đồng và các vị chức sắc có công với đền.
Hai dãy Giải vũ có kiến trúc đối xứng, mỗi bên gồm 5 gian, kích thước khoảng 12m dài và 4,14m rộng, xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Bộ khung kết cấu của hai dãy giống nhau, gồm hệ vì kèo, cột trống và tay đòn ngang, được dựng trên hai hàng cột. Toàn bộ công trình có 12 cột, mỗi cột cao 2,67m, đường kính 0,20m, được tạo dáng thượng thu hạ thách và đặt trên chân tảng đá vuông, có chạm nổi gờ tròn.
Giải vũ có kiểu tường hồi bít đốc giật cấp tay ngai, phía trước để thoáng. Riêng dãy bên trái, do một phần không gian dùng để cất giữ và bảo quản đồ thờ tự, nên hai gian bên và tường hồi trái được làm vách kín. Phần mái của hai dãy Giải vũ đều là mái hai chiều (mái trước và mái sau), lợp ngói nam, phía trên xây bờ nóc và bờ bảng mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Theo cuốn Nam Định đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc có viết:
Tại đền Xám (xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định), chúng ta cũng bắt gặp một phong cách chạm khắc độc đáo khác. Đó là bộ cánh cửa với những hình tượng Rồng – Khỉ quấn quýt với nhau. Nghệ nhân thế kỷ XVII đã thể hiện những con Rồng, con Khỉ với lôi chạm khắc nổi (chạm bong) rất sinh động. Về ý nghĩa biểu tượng của loại hình này còn đang được nghiên cứu.2
Di vật
Đền Xám là công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị độc đáo, tiêu biểu của nghệ thuật đúc, chạm gỗ điêu luyện với nhiều đề tài sống động như rồng chầu, phượng múa đan xen họa tiết đao mác, lá hỏa… có niên đại trải dài từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ XX. Ngoài ra, ngôi đền còn bảo lưu được nhiều hiện vật cổ có giá trị như: ngai thờ, nhang án, tượng thờ Trần Minh Công, ngọc phả, chuông đồng.
Đặc biệt một chiếc giường thờ nguyên vẹn có niên đại thời Mạc, được truyền lại là giường của Thượng tướng quân Trần Minh Công. Đây là hiện vật quý hiếm góp phần khẳng định giá trị lịch sử đặc biệt của di tích.
Sự kiện và lễ hội
Nhằm bày tỏ lòng tưởng niệm và tri ân công lao của Tướng quân Trần Lãm, hằng năm, từ ngày 17 đến 19 tháng 8 Âm lịch, chính quyền cùng nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ hội Đền Xám. Lễ hội diễn ra với đầy đủ các nghi thức truyền thống như rước kiệu, dâng hương, tế cáo, tế giao hiếu của các thôn Lạc Đạo, Giang Tả, Vân Cù, thể hiện sự gắn kết cộng đồng và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Song song với phần lễ là phần hội phong phú, đậm đà bản sắc dân gian, gồm nhiều hoạt động văn hóa, trò chơi truyền thống như trống hội, múa lân – sư – rồng, múa rối nước, chọi gà, đấu vật, bắt vịt, bơi chải… Không khí lễ hội trở nên sôi động nhất vào các đêm biểu diễn văn nghệ và các cuộc thi bơi chải, hát múa dân gian.
Trải qua nhiều thế hệ, người dân xã Hồng Quang vẫn gìn giữ được 10 khúc hát cổ và 10 bài ca trù truyền thống, với các làn điệu tiêu biểu như cung, thương, dốc, trăng, vũ, cùng nhiều điệu múa dân gian đặc sắc như tứ tiên, tứ linh vũ, bồ đề tam túc vũ. Theo lời kể của người dân địa phương, các hoạt động múa hát tại sân đền đã xuất hiện từ hàng trăm năm trước, phản ánh sinh động đời sống văn hóa nông thôn xưa. Chính vì vậy, Đền Xám còn được gọi bằng cái tên thân quen là Đình Hát.
Xếp hạng
Đền Xám đã được Nhà nước ghi nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1964. Đến ngày 17/01/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 152/QĐ-TTg chính thức xếp hạng đền Xám là di tích quốc gia đặc biệt, khẳng định vị thế và tầm quan trọng của di tích trong hệ thống di sản văn hóa Việt Nam.
Chú thích:
- Bùi Quang Hùng (chủ biên), Bách Thần lục, Nxb Hồng Đức, 2015, tr.110
- Nguyễn Xuân Năm, Nam Định đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, Sở thông tin văn hóa tỉnh Nam Định, 2007, tr. 425.
Tài liệu tham khảo
-
- Di tích quốc gia đặc biệt Đền Xám (Nam Định) – Nơi hội tụ nghệ thuật kiến trúc, văn hóa truyền thống, Báo điện tử nhân dân.
- Di tích lịch sử văn hóa tỉnh nam định, Nxb Văn hóa dân tộc (2008).
- Đền Xám – Di tích quốc gia đặc biệt, Báo và Phát thanh truyền hình Ninh Bình.
- Đền Xám, tỉnh Nam Định, Cục di sản văn hóa.
- Đền Xám chứng tích một thời kỳ lịch sử, Kênh VTV online, ngày 18 tháng 7 năm 2024.
- Bùi Quang Hùng (chủ biên), 2015, Bách Thần lục, Nxb Hồng Đức tr.110/
- Nguyễn Xuân Năm (2007), Nam Định đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, Sở thông tin văn hóa tỉnh Nam Định, Tr 425.
- Lễ hội đền Xám- Nét đẹp tín ngưỡng và bản sắc quê hương, Kênh truyền hình Ninh Bình, ngày 16 tháng 10 năm 2025.
- Trần Quốc Vượng, Một số di tích lịch sử – văn hóa qua thơ văn Lê Tung (XV- XVI), Tạp chí di sản văn hóa số 1 (10) năm 2005.
- Hồ Đức Thọ (2003), Lễ hội cổ truyền ở Nam Định, Nxb Khoa học xã hội.

