Điện Kiến Trung (Phú Xuân, Huế)

Điện Kiến Trung (Phú Xuân, Huế)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Điện Kiến Trung (còn gọi là lầu Kiến Trung) được xây dựng dưới triều Khải Định. Theo Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tên gọi “Kiến Trung” được ghép từ: chữ “Kiến” là dựng lập, xây dựng; chữ “Trung” thể hiện sự ngay thẳng, chính trực, không thiên lệch.

Công trình tọa lạc ở vị trí tận cùng phía sau của Tử Cấm Thành Huế, ngay phía sau khu vực Cung Khôn Thái. Hiện nay, di tích thuộc địa phận phường Phú Xuân, thành phố Huế, nằm trong quần thể Quần thể di tích Cố đô Huế.

Lịch sử và nhân vật

Điện Kiến Trung tọa lạc ở vị trí tận cùng phía sau của Tử Cấm Thành Huế, trên nền một khu đất vốn trước đây đã kiến tạo nhiều công trình.

Dưới triều vua Minh Mạng, tại đây từng lầu Minh Viễn, được xây dựng từ năm 1827 và tồn tại cho đến năm 1876. Đây là tòa nhà làm bằng gỗ khá to lớn, gồm có 3 tầng, cao 15,80m, là nơi dành cho nhà vua lên ngắm cảnh và hóng mát.

Thời Thiệu Trị, vua đã cho trùng tu lầu Minh Viễn và cho đặt trên nóc lầu một viên dạ minh châu đêm đêm tỏa sáng. Lầu Minh Viễn đã được vua Thiệu Trị ca ngợi là đệ nhất cảnh trong “Thần Kinh nhị thập cảnh” (20 thắng cảnh của đất Thần Kinh). Tuy nhiên, công trình này đã được triệt giải vào năm 1876 dưới thời vua Tự Đức vì xuống cấp trầm trọng.

Đến đầu thế kỷ XX, sau hơn 30 năm hoang phế, dưới thời vua Duy Tân, lớp nền cao 4m của khu vực này được vua cho xây dựng một tòa lầu khác theo kiểu mới và đặt tên là lầu Du Cửu (1913 – 1916), tòa lầu mới này có 2 tầng với kiến trúc tương đối đơn giản.

Năm 1916, sau khi đăng quang, Khải Định đã đổi tên công trình thành Lầu Kiến Trung, đồng thời hoạch định việc kiến thiết lại với một diện mạo hoàn toàn mới. Đến năm 1921, ông cho triệt giải lầu Du Cửu và xây dựng Điện Kiến Trung trên nền cũ, nhưng về thực chất đây là một công trình được dựng mới toàn diện, từ quy mô kiến trúc, phong cách nghệ thuật, vật liệu sử dụng cho đến hệ thống trang trí và bố cục cảnh quan. So với công trình tiền nhiệm, Điện Kiến Trung mang dáng dấp của một tòa lầu hai tầng đồ sộ, nền điện cao gần 3m, tạo thế uy nghi và tôn nghiêm. Nội ngoại thất được trang trí hết sức phong phú, thể hiện sự kết hợp tinh vi giữa mỹ thuật truyền thống và ảnh hưởng phương Tây. Phía trước điện là một khoảng sân rộng, được tổ chức như một không gian vườn cảnh với bồn hoa, thảm cỏ và cây cảnh cắt tỉa công phu, xen kẽ các lối đi dạo phục vụ thưởng ngoạn. Chính giữa sân bố trí một đài phun nước, tạo điểm nhấn trung tâm. Gần cuối sân đặt một vạc đồng đúc năm 1659 dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Tần. Hệ thống chiếu sáng cũng được chú trọng với các đèn điện hình cầu lớn bố trí tại các góc thảm cỏ, hai bên sân dựng nhà Bát giác thanh nhã, vừa làm nơi nghỉ chân, vừa là điểm quan sát cảnh quan. Từ nền điện xuống sân là ba hệ thống bậc thềm lớn, với nhiều cấp bậc, hai bên thành bậc được chạm nổi hình rồng uốn lượn mềm mại. Ở hai phía bậc thềm trung tâm đặt hai khẩu đại bác bằng đồng đúc năm 1816 dưới triều Gia Long, trong khi phía ngoài các bậc còn lại bố trí chòi canh dành cho lính túc trực. Ngày 6 tháng 11 năm 1925, vua Khải Định đã băng hà chính tại Điện Kiến Trung này.

Sang triều Bảo Đại, Điện Kiến Trung tiếp tục được tu sửa và cải tạo theo hướng hiện đại hóa, chịu ảnh hưởng của kiến trúc phương Tây, với sự cố vấn của một số kiến trúc sư, kỹ sư người Pháp và Bộ Công. Tòa điện đến 1923 thì hoàn thành. Điện trở thành nơi sinh sống chính của vua và Nam Phương Hoàng hậu. Cũng tại đây, vào ngày 4 tháng 1 năm 1936, Nam Phương hoàng hậu sinh hạ Thái tử Bảo Long – vị Thái tử cuối cùng của triều Nguyễn.

Đến ngày 11 tháng 3 năm 1945, trong cuộc Đảo chính Nhật – Pháp, vua Bảo Đại đã triệu đại diện chính quyền Nhật Bản vào Điện Kiến Trung để tuyên bố Đế quốc Việt Nam độc lập với sự cộng tác với Đế quốc Nhật Bản.

Tuy nhiên, đến tháng 2 năm 1947, trong chính sách Tiêu thổ kháng chiến, công trình đã bị phá hủy gần như hoàn toàn, chỉ còn lại nền móng và một phần lan can.

Bước sang thời hiện đại, công tác phục hồi di tích được đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng. Từ năm 2013, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã khởi động dự án nghiên cứu phục dựng Điện Kiến Trung với sự tham gia của nhiều chuyên gia về lịch sử, kiến trúc và mỹ thuật. Sau quá trình chuẩn bị, dự án chính thức được khởi công ngày 16 tháng 2 năm 2019, với tổng kinh phí hơn 123 tỷ đồng, và hoàn thành vào tháng 8 năm 2023.

Sau gần 5 năm tu bổ, điện Kiến Trung gần như giữ được nguyên vẹn kiến trúc cũ, được tô điểm bởi các họa tiết, hoa văn mang dấu ấn cung đình. Quá trình phục dựng góp phần khôi phục một không gian lịch sử – chính trị quan trọng, công cuộc chuyển giao đầy biến động của Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX.

Kiến trúc cảnh quan

Nguyên bản, Điện Kiến Trung sau khi bị phá hủy chỉ còn lại phần nền móng như một phế tích. Trên cơ sở các tư liệu lịch sử còn lưu giữ, bao gồm hình ảnh tư liệu và bản vẽ thiết kế, công trình đã được nghiên cứu và phục dựng lại một cách có hệ thống.

Việc phục dựng được triển khai trên diện tích hơn 3.800m², với quan điểm bảo tồn chú trọng tối đa đến việc giữ gìn và kế thừa các yếu tố gốc. Tòa chính điện được tái thiết theo quy mô hai tầng, cao khoảng 14m, diện tích xây dựng gần 975m², qua đó tái hiện tương đối rõ diện mạo kiến trúc cung đình đầu thế kỷ XX, đồng thời phản ánh sự tiếp nối các đặc trưng về kết cấu và trang trí dựa trên tư liệu lịch sử còn lại.

Điện Kiến Trung được phục dựng trên diện tích hơn 3.800m², với định hướng bảo tồn nhấn mạnh việc gìn giữ tối đa các yếu tố gốc còn lại. Công trình chính được tái thiết theo quy mô hai tầng, cao khoảng 14m, diện tích xây dựng gần 975m², phản ánh rõ phong cách kiến trúc cung đình giai đoạn đầu thế kỷ XX, đồng thời kế thừa các dữ liệu lịch sử về kết cấu và trang trí.

Phía trước điện là vườn cảnh kết hợp với hệ thống ba lối thang đắp rồng dẫn lên thềm, tạo trục tiếp cận mang tính nghi lễ rõ rệt. Mặt đứng công trình nổi bật với kỹ thuật trang trí khảm sành sứ đa sắc, góp phần tạo nên diện mạo giàu tính biểu tượng và mỹ thuật.

Tầng chính có 13 cửa hiên, trong đó gian trung tâm gồm 5 cửa, hai gian kế bên mỗi gian 3 cửa, và hai góc mỗi bên 2 cửa; toàn bộ hệ cửa được thiết kế nhô ra phía trước, tạo chiều sâu cho mặt đứng và tăng tính nhịp điệu kiến trúc. Tầng trên là hệ gác có bố cục tương tự tầng dưới, phía trên cùng là mái ngói kết hợp lan can trang trí theo phong cách truyền thống Việt Nam. Hệ thống cầu thang lên tầng hai đã hoàn thiện về kết cấu, tuy nhiên hiện nay không gian trưng bày chủ yếu tập trung ở tầng một, trong khi tầng trên vẫn đang tiếp tục được hoàn chỉnh.

Bao quanh chính điện là hệ thống cảnh quan được tu bổ đồng bộ gồm tường bao, lan can, sân trước – sân sau và các bậc cấp. Các không gian phụ trợ trong khuôn viên như đôn gạch, đài phun nước, súng thần công, nhà canh, cùng hệ thống cây xanh cũng  được phục hồi nhằm tái tạo tổng thể cảnh quan cung đình vừa mang giá trị lịch sử, vừa đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ.

Đặc biệt, các nền móng di tích như Đông Cung Lâu, Ngự Thư Phòng, Võ Hộ Giá Phòng và Ngự Phê Phòng vẫn được bảo tồn nguyên trạng.

Việc phục dựng Điện Kiến Trung góp phần tái hiện một công trình kiến trúc cung đình hoàn chỉnh, nơi kiến trúc, cảnh quan và dấu tích lịch sử được tích hợp thành một hệ thống thống nhất, phản ánh sâu sắc giá trị văn hóa – lịch sử của hoàng cung Huế.

Hiện vật

Trước không gian Điện Kiến Trung, hiện còn bảo tồn một chiếc vạc đồng có niên đại từ thời chúa Nguyễn, được đúc vào năm 1659 (niên hiệu Thịnh Đức thứ 7).

Vạc đứng thẳng, miệng loe rộng và cong ngửa, có bốn quai vặn thừng gắn trên miệng vạc, bố cục theo băng ngang vòng quanh vạc, từ trên xuống có chín băng cách nhau bởi những đường gờ nổi vuốt tròn mặt ngoài, trong đó các băng (tính từ trên xuống) 3-4-6-7 hẹp để trơn, các băng 1-9 rộng vừa phải có hoa dây uốn sóng chạy liên tục thành vòng kín, các băng 2-5-8 rộng hơn và là phần trang trí chính được các nhóm vạch thẳng đứng chia thành các ô chữ nhật bằng nhau xếp lệch nhau nửa ô, mỗi ô là một đồ án hoa văn riêng. Riêng băng 5 của chiếc vạc trước điện Kiến Trung không bị cắt ngang, hoa văn chạy thành vòng kín. Thể hiện kỹ thuật luyện kim phát triển cao của Đàng Trong thế kỷ XVII.

Trên miệng vạc có khắc rõ niên đại chế tác cùng trọng lượng là 2.154 cân (tương đương khoảng 1.378 kg). Đáng chú ý, dòng chữ Hán “nhất song” (一雙 – một đôi) được khắc trên miệng vạc cho thấy nguyên thủy đây là một cặp, tuy nhiên đến nay chỉ còn lại một chiếc tồn tại.

Văn tự khắc trên vạc ghi:

“Thịnh Đức thất niên tạo đỉnh
Đồng nhị thiên nhất bách ngũ thập tứ cân”

Hiện vật này không chỉ mang giá trị về mặt mỹ thuật và kỹ thuật đúc đồng, mà còn là một chứng tích quan trọng phản ánh truyền thống chế tác kim loại cũng như biểu tượng quyền lực của chính quyền chúa Nguyễn trong lịch sử.

Xếp hạng

Điện Kiến Trung nằm trong Quần thể di tích Cố đô Huế được công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11/12/1993.

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Thuận An (2005), Quần thể di tích Huế, Nxb Trẻ.
  2. Lê Huy Hoàng Hải, “Chiêm ngưỡng điện Kiến Trung sau trùng tu, tôn tạo”, VTV.vn.
  3. Nét uy nghi, tráng lệ của điện Kiến Trung (Hoàng thành Huế) – Báo Điện tử Chính phủ.
  4. Những chiếc vạc trong Đại Nội – Cổng thông tin điện tử Thành phố Huế.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Name and Geographic Location

Kien Trung Palace (also known as Kien Trung Pavilion) was constructed during the reign of Khai Dinh. According to the Hue Monuments Conservation Centre, the name “Kien Trung” is composed of: “Kien” meaning to build or establish; and “Trung” signifying uprightness, integrity, and impartiality.

The structure is located at the rearmost end of the Forbidden Purple City of Hue, directly behind the Khon Thai Palace area. Today, the site belongs to Phu Xuan Ward, Hue City, within the Complex of Hue Monuments.

History and Associated Figures

Kien Trung Palace stands on land that previously hosted several constructions.

During the reign of Minh Mang, the site housed Minh Vien Pavilion, built in 1827 and existing until 1876. This was a large wooden structure with three stories, standing 15.80 meters high, used by the emperor for sightseeing and relaxation.

Under Thieu Tri, the pavilion was renovated, and a luminous pearl was placed atop the roof, said to glow at night. Minh Vien Pavilion was praised by the emperor as the finest of the “Twenty Scenic Views of the Imperial Capital.” However, it was dismantled in 1876 during Tu Duc’s reign due to severe deterioration.

In the early 20th century, after more than 30 years of abandonment, under Emperor Duy Tan, a new structure was erected on a 4-meter-high platform and named Du Cuu Pavilion (1913–1916). This was a relatively simple two-story building.

In 1916, after ascending the throne, Khai Dinh renamed the structure Kien Trung Pavilion and planned its complete reconstruction. In 1921, Du Cuu Pavilion was dismantled and Kien Trung Palace was built on the same site. In reality, this was an entirely new construction in terms of scale, architectural style, materials, decorative system, and landscape layout. Compared to its predecessor, Kien Trung Palace took the form of a grand two-story building with a platform nearly 3 meters high, creating a dignified and imposing presence.

Both interior and exterior were richly decorated, reflecting a sophisticated combination of traditional Vietnamese art and Western influences. In front of the palace was a spacious courtyard designed as a landscaped garden with flowerbeds, lawns, and carefully pruned ornamental trees, interwoven with walking paths. At the center stood a fountain as a focal point. Near the end of the courtyard was a bronze cauldron cast in 1659 during the reign of Nguyen Lord Nguyen Phuc Tan. Lighting was also emphasized, with large spherical electric lamps placed at the corners of the lawns. On both sides of the courtyard stood elegant octagonal pavilions serving as resting and viewing points.

From the palace platform to the courtyard extended three grand stair systems with multiple steps, their sides carved with softly winding dragons. Flanking the central staircase were two bronze cannons cast in 1816 under Gia Long, while guardhouses for soldiers were arranged near the outer stairways.

On November 6, 1925, Emperor Khai Dinh passed away at Kien Trung Palace.

During the reign of Bao Dai, the palace continued to be renovated and modernized under Western architectural influence, with consultation from French architects and engineers alongside the Ministry of Works. Completed in 1923, it became the primary residence of the emperor and Empress Nam Phuong. Notably, on January 4, 1936, Crown Prince Bao Long—the last crown prince of the Nguyen dynasty—was born here.

On March 11, 1945, during the Japanese coup against the French, Emperor Bao Dai summoned representatives of the Japanese government to Kien Trung Palace to declare the independence of the Empire of Vietnam in cooperation with Japan.

However, in February 1947, under the scorched-earth resistance policy, the palace was almost completely destroyed, leaving only the foundation and part of the balustrade.

In the modern era, restoration has become a significant task. Since 2013, the Hue Monuments Conservation Centre has initiated research for the reconstruction of Kien Trung Palace with the participation of experts in history, architecture, and fine arts. The project officially commenced on February 16, 2019, with a total budget exceeding 123 billion VND, and was completed in August 2023.

After nearly five years of restoration, the palace has largely retained its original architectural form, enhanced with court-style decorative motifs. The reconstruction contributes to restoring an important historical–political space, reflecting Vietnam’s turbulent transition in the first half of the 20th century.

Architectural Landscape

Originally, after its destruction, Kien Trung Palace remained only as a foundation ruin. Based on preserved historical documents, including photographs and design drawings, the structure has been systematically studied and reconstructed.

The restoration was carried out over an area of more than 3,800 m², with a conservation approach emphasizing the preservation of original elements. The main building was reconstructed as a two-story structure approximately 14 meters high, with a floor area of nearly 975 m², recreating the architectural appearance of the early 20th-century royal court while reflecting continuity in structural and decorative features based on historical data.

In front of the palace is a landscaped garden combined with three dragon-adorned stairways leading up to the platform, forming a clearly ceremonial access axis. The façade is distinguished by multicolored ceramic mosaic decoration, contributing to a richly symbolic and artistic appearance.

The main floor features 13 doors: the central bay has 5 doors, the adjacent bays have 3 doors each, and the corner sections have 2 doors each. All doors project outward, creating depth and enhancing architectural rhythm. The upper floor follows a similar layout, topped by a tiled roof combined with traditional Vietnamese-style balustrades. While the staircase system to the second floor has been structurally completed, exhibition spaces are currently concentrated on the first floor, with the upper level still being finalized.

Surrounding the main building is a fully restored landscape system including enclosing walls, balustrades, front and rear courtyards, and staircases. Auxiliary elements such as brick pedestals, fountains, cannons, guardhouses, and greenery have also been restored to recreate a comprehensive royal landscape that balances historical value and aesthetic requirements.

Notably, the foundations of related structures such as Dong Cung Pavilion, the Royal Study, Vo Ho Gia Office, and the Royal Edict Office have been preserved in their original state.

The reconstruction of Kien Trung Palace contributes to the revival of a complete royal architectural complex where architecture, landscape, and historical traces are integrated into a unified system, reflecting the cultural and historical values of the Hue imperial court.

Artifacts

In front of Kien Trung Palace, a bronze cauldron dating from the Nguyen Lords period is still preserved, cast in 1659 (7th year of Thinh Duc).

The cauldron stands upright with a flared, upward-curving rim and four twisted-rope handles attached to the mouth. Its decorative composition is arranged in horizontal bands encircling the body. From top to bottom, there are nine bands separated by raised ridges: bands 3, 4, 6, and 7 are narrow and plain; bands 1 and 9 are moderately wide with continuous scrolling floral patterns; bands 2, 5, and 8 are wider and serve as the main decorative zones, divided into rectangular panels containing distinct motifs. Notably, band 5 runs continuously without interruption.

The craftsmanship reflects the high level of metallurgical techniques in 17th-century Dang Trong.

An inscription on the rim records the casting date and weight of 2,154 can (approximately 1,378 kg). The Chinese characters “nhat song” (一雙 – “a pair”) indicate that it was originally one of a pair, though only one remains today.

The inscription reads:

“Cast in the 7th year of Thinh Duc
Bronze: 2,154 can”

This artifact holds not only artistic and technical value but also serves as important evidence of metalworking traditions and symbols of authority under the Nguyen Lords.

Classification

Kien Trung Palace is part of the Complex of Hue Monuments, recognized as a UNESCO World Cultural Heritage Site on December 11, 1993.

References

  1. Phan Thuận An (2005), Quần thể di tích Huế, Nxb Trẻ.
  2. Lê Huy Hoàng Hải, “Chiêm ngưỡng điện Kiến Trung sau trùng tu, tôn tạo”, VTV.vn.
  3. Nét uy nghi, tráng lệ của điện Kiến Trung (Hoàng thành Huế) – Báo Điện tử Chính phủ.
  4. Những chiếc vạc trong Đại Nội – Cổng thông tin điện tử Thành phố Huế.

Tiếng Pháp (Français)

Nom et situation géographique

Le palais Kiến Trung (également appelé pavillon Kiến Trung) a été construit sous le règne de Khải Định. Selon le Centre de conservation des monuments de l’ancienne capitale de Huế, le nom « Kiến Trung » est formé de : « Kiến », signifiant édifier, construire ; et « Trung », exprimant la droiture, l’intégrité et l’impartialité.

L’édifice est situé à l’extrémité arrière de la Cité Pourpre Interdite de Huế, juste derrière la zone du palais Khôn Thái. Aujourd’hui, le site appartient au quartier Phú Xuân, ville de Huế, au sein de l’ensemble des monuments de l’ancienne capitale de Huế.

Histoire et personnages

Le palais Kiến Trung occupe la partie la plus reculée de la Cité Pourpre Interdite, sur un terrain ayant auparavant accueilli plusieurs constructions.

Sous le règne de Minh Mạng, s’y trouvait le pavillon Minh Viễn, construit en 1827 et existant jusqu’en 1876. Il s’agissait d’un grand bâtiment en bois de trois étages, haut de 15,80 m, destiné à l’observation du paysage et au repos du souverain.

Sous Thiệu Trị, le pavillon fut restauré et orné au sommet d’une perle lumineuse (dạ minh châu) brillant chaque nuit. Le pavillon Minh Viễn fut loué par l’empereur comme le plus beau site parmi les « vingt paysages de la capitale impériale » (Thần Kinh nhị thập cảnh). Cependant, il fut démoli en 1876 sous Tự Đức en raison de son état de dégradation avancé.

Au début du XXᵉ siècle, après plus de trente ans d’abandon, sous le règne de Duy Tân, une nouvelle construction fut élevée sur une plateforme de 4 m de hauteur, appelée pavillon Du Cửu (1913–1916), à deux étages et d’architecture relativement simple.

En 1916, après son avènement, Khải Định rebaptisa l’édifice pavillon Kiến Trung et projeta sa reconstruction complète. En 1921, il fit démolir le pavillon Du Cửu et édifia le palais Kiến Trung sur le même emplacement. En réalité, il s’agissait d’une construction entièrement nouvelle, tant par son échelle, son style artistique, ses matériaux que par son système décoratif et son aménagement paysager.

Comparé à ses prédécesseurs, le palais Kiến Trung prend la forme d’un imposant bâtiment à deux étages, élevé sur une base de près de 3 m, affirmant un caractère majestueux. Les décors intérieurs et extérieurs sont particulièrement riches, illustrant une fusion raffinée entre l’esthétique traditionnelle et les influences occidentales.

Devant le palais s’étend une vaste cour aménagée en jardin paysager avec parterres de fleurs, pelouses et arbres taillés, entrecoupés d’allées de promenade. Au centre se trouve une fontaine, créant un point focal. Vers le fond de la cour est placé un chaudron en bronze fondu en 1659 sous le seigneur Nguyễn Phúc Tần. Le système d’éclairage comprend de grands globes lumineux disposés aux angles des pelouses. De part et d’autre se trouvent des pavillons octogonaux servant de lieux de repos et d’observation.

Trois escaliers monumentaux mènent du palais à la cour, ornés de dragons sculptés. Au centre, deux canons en bronze coulés en 1816 sous Gia Long sont disposés, tandis que des postes de garde se trouvent à l’extérieur des escaliers. Le 6 novembre 1925, l’empereur Khải Định mourut dans ce palais.

Sous le règne de Bảo Đại, le palais fut modernisé avec l’influence d’architectes et ingénieurs français. Il devint la résidence principale de l’empereur et de l’impératrice Nam Phương. Le 4 janvier 1936, l’impératrice y donna naissance au prince héritier Bảo Long, dernier héritier de la dynastie Nguyễn.

Le 11 mars 1945, lors du coup de force japonais contre les Français, Bảo Đại convoqua les représentants japonais au palais Kiến Trung pour proclamer l’indépendance de l’Empire du Việt Nam.

Cependant, en février 1947, dans le cadre de la politique de destruction stratégique, le palais fut presque entièrement détruit, ne laissant que les fondations et une partie des balustrades.

À l’époque contemporaine, la restauration du site est devenue une priorité. Depuis 2013, un projet de reconstruction a été lancé avec la participation de nombreux experts. Les travaux ont commencé le 16 février 2019, avec un budget de plus de 123 milliards de đồng, et se sont achevés en août 2023.

Après près de cinq ans de restauration, le palais Kiến Trung a retrouvé presque intégralement son architecture d’origine, enrichie de motifs décoratifs de style impérial, contribuant à restituer un espace historique et politique majeur du début du XXᵉ siècle.

Architecture et paysage

À l’origine, après sa destruction, le palais ne subsistait que sous forme de fondations. Sur la base de documents historiques (photographies et plans), il a été reconstruit de manière systématique.

La restauration couvre une superficie de plus de 3 800 m², en privilégiant la conservation maximale des éléments d’origine. Le bâtiment principal, reconstruit sur deux niveaux, atteint environ 14 m de hauteur pour une surface de près de 975 m², reflétant clairement le style architectural impérial du début du XXᵉ siècle.

Le palais est précédé d’un jardin paysager avec trois escaliers monumentaux ornés de dragons, formant un axe cérémoniel. La façade se distingue par des décorations en mosaïque de céramique multicolore.

Le rez-de-chaussée comporte 13 portes : 5 au centre, 3 de chaque côté et 2 aux extrémités. L’étage supérieur suit une disposition similaire, surmonté d’un toit traditionnel avec balustrades décoratives.

Autour du palais, les éléments paysagers (murs, balustrades, cours, escaliers) ont été restaurés. Les structures annexes (socles en briques, fontaine, canons, postes de garde, végétation) ont également été reconstituées afin de recréer un ensemble cohérent mêlant valeur historique et esthétique.

Les fondations d’édifices voisins tels que Đông Cung Lâu, Ngự Thư Phòng, Võ Hộ Giá Phòng et Ngự Phê Phòng ont été conservées dans leur état d’origine.

La reconstruction du palais Kiến Trung permet ainsi de restituer un ensemble architectural complet, intégrant architecture, paysage et traces historiques, reflétant profondément les valeurs culturelles et historiques de la cour impériale de Huế.

Objets patrimoniaux

Devant le palais se trouve un chaudron en bronze datant de 1659 (7ᵉ année de Thịnh Đức), sous les seigneurs Nguyễn.

Le chaudron présente une ouverture évasée, quatre anses torsadées et une décoration organisée en neuf registres horizontaux séparés par des reliefs. Certains registres sont lisses, d’autres ornés de motifs floraux ou géométriques. Le registre central est décoré en panneaux rectangulaires contenant chacun un motif distinct.

L’inscription indique un poids de 2 154 cân (environ 1 378 kg). L’expression chinoise « nhất song » (一雙, « une paire ») indique qu’il s’agissait à l’origine d’un ensemble de deux pièces, dont une seule subsiste aujourd’hui.

Inscription :

« Thịnh Đức thất niên tạo đỉnh
Đồng nhị thiên nhất bách ngũ thập tứ cân »

Cet objet possède une grande valeur artistique et technique, tout en constituant un témoignage important du savoir-faire métallurgique et du pouvoir des seigneurs Nguyễn.

Classement

Le palais Kiến Trung fait partie de l’ensemble des monuments de l’ancienne capitale de Huế, inscrit au patrimoine mondial de l’UNESCO le 11 décembre 1993.

Références

  1. Phan Thuận An (2005), Quần thể di tích Huế, Nxb Trẻ.
  2. Lê Huy Hoàng Hải, “Chiêm ngưỡng điện Kiến Trung sau trùng tu, tôn tạo”, VTV.vn.
  3. Nét uy nghi, tráng lệ của điện Kiến Trung (Hoàng thành Huế) – Báo Điện tử Chính phủ.
  4. Những chiếc vạc trong Đại Nội – Cổng thông tin điện tử Thành phố Huế.

Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

建中殿(又称建中楼)建于启定朝。据顺化古都遗迹保护中心解释,“建中”一名由两字组成:“建”意为建立、建造;“中”体现正直、公正、不偏不倚之意。

该建筑位于顺化紫禁城最末端,即坤泰宫区域之后。现今遗址隶属于顺化市富春坊,位于顺化古都遗迹群范围内。

历史与人物

建中殿位于顺化紫禁城最末端,其所在区域早在此前已建有多项建筑。

明命朝时期,此处曾建有明远楼,始建于1827年,存在至1876年。该楼为大型木结构建筑,共三层,高15.80米,是皇帝登高观景、纳凉之所。

绍治年间,明远楼曾被修缮,并在楼顶安置夜明珠,夜间发光。该楼被绍治皇帝誉为“神京二十景”之首。然而,由于严重损毁,该建筑于1876年嗣德朝被拆除。

20世纪初,在荒废三十余年后,维新朝时期,皇帝在此4米高台基上新建一座西式风格楼阁,命名为游九楼(1913—1916),该楼为两层结构,建筑风格较为简洁。

1916年启定即位后,将其改名为建中楼,并规划全面重建。1921年拆除游九楼,在原址上兴建建中殿。该工程实际上为一座全新建筑,无论规模、艺术风格、材料、装饰还是景观布局均全面革新。新殿为两层宏大建筑,台基高近3米,气势庄严。内外装饰极为丰富,融合传统艺术与西方影响。

殿前为宽阔庭院,布置为园林空间,设花坛、草坪及修剪精致的观赏树木,并配有游览步道。庭院中央设有喷泉作为视觉焦点。庭院后部安置一口1659年(阮福濒时期)铸造的铜鼎。照明系统亦较完善,草坪四角设大型球形电灯,两侧建有雅致八角亭,兼具休憩与观景功能。

从殿基至庭院设有三组大型阶梯,两侧雕刻盘龙纹饰。中央台阶两侧陈列两门1816年(嘉隆朝)铸造的铜炮,其余台阶外侧设有守卫岗亭。

1925年11月6日,启定皇帝正是在建中殿驾崩。

保大朝时期,建中殿继续修缮并趋向现代化,在法国建筑师与工部协助下融入西方建筑元素。至1923年工程完成,建中殿成为皇帝及南芳皇后的主要居所。1936年1月4日,南芳皇后在此诞下皇太子保龙——阮朝最后一位太子。

1945年3月11日,在日法政变背景下,保大皇帝于建中殿召见日本代表,宣布越南帝国在与日本合作下独立。

1947年2月,在“焦土抗战”政策下,该建筑几乎被完全毁坏,仅存基址与部分栏杆。

进入现代后,遗址修复成为重要任务。自2013年起,顺化古都遗迹保护中心启动建中殿复原研究项目,汇集历史、建筑与美术专家参与。项目于2019年2月16日正式开工,总投资超过1230亿越南盾,并于2023年8月竣工。

经过近五年修复,建中殿基本恢复原貌,装饰以宫廷风格纹样。该复原工程重现了越南20世纪上半叶重要历史政治空间。

建筑与景观

原建中殿被毁后仅存基址。依据现存历史资料(包括影像与设计图),建筑已系统性复原。

复原工程占地超过3800平方米,强调最大程度保留原有要素。主殿为两层结构,高约14米,建筑面积近975平方米,较完整再现20世纪初宫廷建筑风貌,并延续历史结构与装饰特征。

殿前设园林景观,并通过三组龙形台阶形成具有仪式性的中轴通道。建筑立面采用多彩瓷片镶嵌装饰,富有艺术性与象征意义。

主层设13扇门:中央五门,两侧各三门,两端各两门。门廊向前突出,增强立面层次与节奏感。上层布局与下层相似,顶部为传统瓦顶并设装饰栏杆。通往二层的楼梯已完成,但目前展览空间主要集中在一层,上层仍在完善中。

主殿周边景观系统包括围墙、栏杆、前后庭院及台阶均已同步修复。院内附属设施如砖墩、喷泉、铜炮、岗亭及绿化系统亦得到恢复,重建整体宫廷景观。

此外,东宫楼、御书房、武护驾房及御批房等遗址基址仍被原状保存。

建中殿的复原使建筑、景观与历史遗迹形成统一整体,深刻体现顺化皇宫的文化与历史价值。

现物

在建中殿前,目前仍保存一口阮主时期铜鼎,铸于1659年(盛德七年)。

铜鼎直立,口沿外张上翘,设四个绳纹耳。器身分为九道横带,由凸起弦纹分隔:第3、4、6、7带较窄且素面;第1与第9带饰连续卷草纹;第2、5、8带较宽,为主要装饰区,由纵向线条分割成错列矩形格,每格饰不同纹样。其中第5带纹饰连续不断,形成完整环带。

该铜鼎体现17世纪阮主政权高度发达的冶金技术。

鼎口刻有铭文,记载铸造年代及重量为2154斤(约1378公斤)。同时刻有汉字“一双”,表明原为成对器物,现仅存一件。

铭文如下:

“盛德七年造鼎
铜二千一百五十四斤”

该文物不仅具有艺术与工艺价值,也是反映阮主时期金属制造传统及权力象征的重要实证。

评级

建中殿隶属于顺化古都遗迹群,该遗产于1993年12月11日被列入世界文化遗产名录。

参考资料

  1. Phan Thuận An (2005), Quần thể di tích Huế, Nxb Trẻ.
  2. Lê Huy Hoàng Hải, “Chiêm ngưỡng điện Kiến Trung sau trùng tu, tôn tạo”, VTV.vn.
  3. Nét uy nghi, tráng lệ của điện Kiến Trung (Hoàng thành Huế) – Báo Điện tử Chính phủ.
  4. Những chiếc vạc trong Đại Nội – Cổng thông tin điện tử Thành phố Huế.
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)