Đình Lỗ Khê (Đông Anh, Hà Nội)

Đình Lỗ Khê (Đông Anh, Hà Nội)
Đình Lỗ Khê (Đông Anh, Hà Nội)
Thông tin
Địa chỉ: Thôn Lỗ Khê, xã Liên Hà
Đông Anh
Hà Nội
Giới thiệu

Lịch sử

      Đình Lỗ Khê có từ thời Hậu Lê, ban đầu tương truyền là ngôi đền thờ đệ nhất thành hoàng Điện Hưng, được dân làng dựng vào cuối thời kỳ Hùng Vương ở bãi Đình Chiền, ngay trong khu vực đồn trại của Ngài. Đến khoảng thế kỷ III, dân làng chuyển đền từ ngoài đồng về chỗ hiện nay. Về sau đền được mở rộng và nâng cấp thành đình. Giữa thế kỷ XV thờ thêm 2 vị tướng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn là Dương Trực và Tô Quang, cùng với Thủy thần Út Đầu Rền – một vị tướng từ thời Hùng Vương từng được phong “Phổ tế linh ứng đại vương”. Bốn vị thành hoàng này gọi chung là “Vạn cổ tứ linh”.

      Theo thần tích, Ngài Điện Hưng sinh năm 313 TCN. Mẹ là Vũ Thị Khang – người làng Mộ Trạch, nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, rời quê đến xã Vạn Kỳ, huyện Gia Định (nay là Gia Bình, tỉnh Bắc Giang), sau về làng Lỗ Khê, rồi sinh ra Ngài. Lớn lên, Điện Hưng giúp vua Hùng đánh lại nhà Thục. Sau khi mất, Ngài được dân làng Lỗ Khê thờ và các triều vua phong là “Hiển ứng linh phù đại vương, Thượng đẳng thần”.

      Thuỷ thần là con của Lạc Long Quân, cai quản sông Nguyệt Giang, chế ngự miếu Đầu Triền nên các sắc phong đều ghi là “ Út Đầu Triền phổ tế linh ứng, đại dương, Thượng đẳng thần.

      Tướng Dương Trực (1402—?) quê ở trang Thanh Liêm, huyện Thanh Liêm, phủ Lý Nhân, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ngài từng theo Lê Lợi đánh giặc Minh, đóng quân ở làng Lỗ Khê, tại đây Ngài đã sai quân lính cùng dân làng đào 72 cái chuôm và 11 mạch để trữ nước tưới cho đồng ruộng. Vì thế Ngài được dân làng tôn thờ và các triều vua phong là “Hầu Đại liêu đại vương, Thượng đẳng thần”.

      Tướng Tô Quang là con nuôi của cụ Dương Bang, thân sinh ra Dương Trực và anh trai của mẹ Tô Quang. Hai anh em con chú con bác này cùng theo Lê Lợi đánh giặc Minh và cùng mất ngày mồng bảy tháng chín âm lịch. Ngài cũng được các triều vua phong là “Hầu Đại liêu đại vương”, lúc đầu chỉ là Trung đẳng thần, đến thời Nguyễn nâng lên thành Thượng đẳng thần.

     Nghe nói năm Kỷ Tỵ đời vua Tự Đức (1869), quân triều đình về dẹp giặc cỏ, đình bị đốt cháy ngày 21-9 âm lịch. Sau dân làng quyên góp xây dựng lại đình, tổ chức rước các thần tạm ngụ ở gốc đề Cầu Bài, gốc đa Mạch, gốc đa Cổng Trại và gốc đa ven miếu sông Nguyệt Giang (huyện Yên Phong, Bắc Ninh). Năm Mậu Ngọ đời vua Khải Định (1918), đình được trùng tu, phục chế và mở rộng cửa võng, giữ các đường nét chạm khắc thời Lê. Năm Tân Tỵ đời vua Bảo Đại (1941) lại mở rộng lòng giếng đình.

Kiến trúc

      Đình trước đây được cấu trúc chữ “Nhị”, gồm nhà Tiền tế và Đại đình, mỗi tòa năm gian. Nối Tiền tế là hai tòa Tả mạc và Hữu mạc. Hai bên Hậu cung có Tả trù và Hữu trù. Trong tòa Đại đình không có sàn mà chỉ lát đá xanh, cao hơn thềm đình.  

      Hiện nay, Đình bố cục hình chữ “Tam”, gồm tiền tế, trung tế cùng 5 gian và hậu cung 3 gian, nền nhà trung tế cao hơn thềm đình. Tòa tả mạc lẫn tòa hữu mạc đều không còn. Hai bên hậu cung là tả trù và hữu trù. Những chạm khắc hoa văn ở cả hai phần nề và mộc đều mang đậm phong cách nghệ thuật kiến trúc thời Hậu Lê.   

      Theo quan niệm phong thủy, đình được dựng trên đầu con rồng nhìn hướng Tây Nam, hai mắt rồng là hai giếng nước ở cổng Đồng và cổng xóm Tây, là những nơi quang đãng, không bị tầm che khuất. Đây là mảnh đất tốt nhất về “ngũ hành”, phát cả về nhân đinh, thịnh vượng và tài lộc. Quanh làng lại có 10 gò đống “tiền tam thai, hậu thất diệu”, tượng trưng cho 10 ngọn đèn thần chiếu vào đình, vào mọi nhà trong làng. Mé sau đình là chùa Lỗ Khê và nhà Văn hóa thôn. Sân đình rất rộng, có đôi rồng đá trước thềm. 

      Đình được xây dựng hoàn chỉnh, cả phần nề và mộc đều mang đậm phong cách chạm khắc hoa văn kiến trúc thời Lê. Đình không làm sàn, từ đình trên đến đình dưới cho đến tam quan chiều rộng gian giữa thẳng hàng và bằng nhau, nền hạ thấp 15 phân so với gian phải trái. Thềm đình dưới và tam quan đều lát đá xanh, bậc tam cấp. Hai bên hậu có tả trù, hữu trù. Hai bên sân đình trong có tả mạc và hữu mạc. 

      Trước đình có mái tam quan, trên cửa gian giữa có bốn chữ lớn “Thánh cung vạn tuế”. Gian tam quan bên phải có dựng bia đá ghi lại sự tích đình làng (bia nay không còn). Phía trước và sau nam đình có hai cây đa cổ thụ ước tính ngàn tuổi, đứng ở đường sắt phủ Từ Sơn có thể nhìn thấy cây đa đình Lỗ Khê (nay không còn). Cạnh gốc đa trước đình có tượng chó đá to, cổ đeo nhạc ngẩng đầu nhìn về hướng tây nam. 

      Nghe nói, trong mình chó được yểm kim khí bùa làm cho tượng chó có hồn, có sức mạnh vô biên để “ trấn ” trừ khử mọi yêu ma quỷ quái, không thể xâm phạm vào đình làng, giữ cho làng xóm thịnh vượng bình yên. Sau đình có năm từ chỉ, trong đó có một thờ đức Khổng Tử. Phía ngoài thành sau đình có cánh cung (thường gọi là tay ngai). Bên tây đình có một nghiên, một bút là của báu thánh trao lại cho làng, nghiên mực nay vẫn còn. Bút nghiên của Đức Thánh cả để lại và truyền rằng: “ Để mất bút nghiên thì con cháu làng sẽ dốt nát ”.

Di vật

      Tương truyền Đinh Tiên Hoàng đến đình Lỗ Khê làm lễ tế, xin Thủy thần “Mỹ tự âm phù” về kinh đô cầu mưa. Được toại nguyện, vua phong tặng Điện Hưng và Út Đầu Rền 4 chữ vàng “Nhị vị đại vương” (năm 978). Tiếp đó vua Lê Đại Hành cũng đến tế tại đình và phong 2 vị là “Trung đẳng phúc thần” (981).

     Lê Thánh Tông khi lên ngôi vua (1460) đã gửi thơ tới Lỗ Khê, ca ngợi 2 thần hoàng mới (Dương Trực và Tô Quang) có công lớn phò Lê Lợi chống giặc Minh. Trong hậu cung còn giữ được 8 đạo sắc phong của các triều vua từ thời Hậu Lê đến thời Nguyễn. Đình còn được vinh dự đón Hồ chủ tịch về chúc tết vào ngày đầu năm Giáp Thìn (13-2-1964). Ngày 21-01-1989 đình Lỗ Khê cùng với ba ngôi đình Hà Vỹ, Hà Lỗ và Hà Hương thuộc xã Liên Hà đã cùng được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Sự kiện

    Đình làng Lỗ Khê đã được vinh dự đón chủ tịch Hồ Chí Minh về chúc tết vào ngày mồng một tết Nguyên đán năm Giáp Thìn (13/2/1964). Đây là một sự kiện chính trị đặc biệt, một hạnh phúc lớn lao nhất trong ngàn năm lịch sử của làng Lỗ Khê.

     Ngày 21-01-1989 đình Lỗ Khê cùng với ba ngôi đình Hà Vỹ, Hà Lỗ và Hà Hương thuộc xã Liên Hà đã cùng được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Tham khảo

  1. Đình Lỗ Khê, https://360.hncity.org/spip.php?article283
  2. Đình Lỗ Khê – nơi thờ phụng nhị danh tướng Hùng Vương và nhị tướng nhà Lê, http://www.didulich.net/V%C4%83n-h%C3%B3a/Ngh%E1%BB%87-thu%E1%BA%ADt-bi%E1%BB%83u-di%E1%BB%85n/dinh-lo-khe-noi-tho-phung-nhi-danh-tuong-hung-20727
  3. ĐÌNH LÀNG LỖ KHÊ, XÃ LIÊN HÀ, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI, http://hotovietnam.org/Tin-tuc-va-Su-kien/Khoa-hoc–Lich-su/348-DINH-LANG-LO-KHE-XA-LIEN-HA-HUYEN-DONG-ANH-HA-NOI
  4. Đình Lỗ Khê, https://vanhien.vn/news/Dinh-Lo-Khe-40041

 

 

0/5 (0 Reviews)
Hình ảnh
Video
Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội & Sự kiện
Nội dung đang được cập nhật.

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *