Đình Nội (Đình thờ Chu Văn An – Thanh Trì, Hà Nội)

Đình Nội (Đình thờ Chu Văn An – Thanh Trì, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Nội thờ Chu Văn An thuộc phố Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Lịch sử và nhân vật

Chu Văn An tên thật là Chu An, được nhà Trần ban tên thụy là Văn Trinh nên quen gọi là Chu Văn An. Ông được suy tôn là người thầy của muôn đời, được thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám cùng 72 người hiền. Ngoài ra, ông còn được lập đền thờ ở quê hương, thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là Thanh Trì, Hà Nội). Ông được phong Thành hoàng làng ở quê hương và nơi ông cáo quan về ở ẩn là núi Phượng Sơn, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, Hải Dương.

Chu Văn An sinh ngày 25 tháng tám năm Nhâm Thìn (1292), mất năm Canh Tuất (1370), thọ 78 tuổi.

Sau khi thi đỗ thái học sinh, ông không ra làm quan, trở về quê mở trường dạy học. Trong số học trò, có nhiều người thành đạt, làm quan to trong triều như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát v.v…

Vua Trần Minh Tông (1314 – 1329) đã mời ông làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám để dạy thái tử. Đến đời Trần Dụ Tông, việc triều chính bị bỏ bễ, vua quan ăn chơi xa xỉ, nhiều lần can ngăn không được, ông đã dâng “Thất trảm sớ” đòi chém 7 tên nịnh thần. Trần Dụ Tông không nghe, ông bèn “treo mũ ở cửa Huyền Vữ”, ông cáo quan về ở núi Phượng Sơn, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, Hải Dương, lấy hiệu là Tiều Ẩn và mất ở đó. Được tin ông mất, vua Trần Nghệ Tông đã sai quan đến viếng, ban tặng tên thụy là Khang Tiết, tức Văn Trinh và dành một vinh dự lớn cho người thầy dạy là được thờ ở Văn Miếu. Ông được coi là ông tổ của các nhà nho Việt Nam, một người thầy tiêu biểu, có nhiều đóng góp cho nền giáo dục của nước nhà.

Sau khi Chu Văn An mất, học trò cũ đã lập đền thờ ông trên địa điểm trường học cũ ở Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp. Năm Giáp Ngọ (1774), đền được trùng tu lần thứ hai, làm thêm Bái đường rộng 5 gian.

Tại quê hương Chu Văn An có đình thờ ông gọi là đình Nội. Ban đầu, đình vốn là ngôi đền cổ, đến thời Lê Trung Hưng trở thành văn chỉ làng Thanh Liệt, thờ các vị khoa bảng của làng. Theo bia “Tiên hiền bi ký” dựng năm Ất Dậu (1765) thì đình Nội ban đầu thờ Chu Văn An và tằng tôn của ông là tiến sĩ Chu Đình Bảo.

Kiến trúc cảnh quan

Đình Nội được dựng ngay sau khi ông mất vào thời Trần. Do đình nằm sâu trong khu đất chật hẹp nên vị tú tài người làng là Vũ Huy Diệu đã cùng dân làng Thanh Liệt chọn nơi thoáng rộng (địa điểm hiện nay) để xây lại vào năm Giáp Tý, niên hiệu Tự Đức. Đình lúc ấy gồm một toà nhà ở chính giữa, ba gian, lợp ngói, tả hữu hai dãy dải vũ. Mùa xuân năm Nhâm Dần (1892) đình được mở rộng. Còn được trùng tu vào năm 1921. Đến năm Nhâm Ngọ (1942) xây thêm nhà thủy tọa. Năm 2009 – 2010 được trùng tu tôn tạo lại khang trang, bề thế.

Đình Nội được xây trên khu đất cao, thoáng rộng ở giữa làng, hướng đông bắc nhìn ra sông Tô Lịch. Kiến trúc kiểu chữ công với ba nếp nhà cao thấp khác nhau. Trước đây di tích là một khối liên hoàn chặt chẽ gắn kết với nhau. Khi mở rộng con đường cái quan, di tích bị chia đôi với thủy đình. Con đường lấn hết sân đình phá vỡ cảnh quan xung quanh.

Thủy đình là một công trình kiến trúc đẹp xây bằng gạch trên khối trụ móng hình tròn, nằm giữa hồ bán nguyệt, soi bóng xuống dòng sông Tô Lịch. Phần trên làm kiểu hai tầng tám mái, các đầu đao uốn cong, phía dưới mở nhiều cửa trông ra tám hướng. Tiền đình là ngôi nhà rộng năm gian, một kiến trúc nhỏ nối hai nếp nhà sau trước. Lớp nhà giữa nối nhà sau tiền đình với hậu cung làm đơn giản gần như hình vuông trong đê kiệu, bia đá. Hậu cung là ba gian hẹp lòng, hai gian bên xây bệ thấp đê tượng các vị khoa bảng trong làng, tượng tạc nhỏ gồm: con trai cả của Chu công là Chu Tam Tỉnh, trúng tuyển khoa ngự thí năm Tân Hợi; Chu Đình Bảo cháu bốn đời của Chu công đỗ tiến sĩ khoa Giáp Thìn và Lý Trần Thảo người xã Lê Xá, huyện Duy Tiên, nhập tịch ở xã, tiến sĩ khoa Ất Sửu. Tượng Chu công tạc với tỷ lệ gần như người thật, để trong khám lớn trên vị trí cao nhất ở giàn giữa hậu cung. Khác với tượng thần ở các nơi thường tạc “tai to mặt lớn”, mặc triều phục, đội mũ cánh chuồn, tượng Chu công đầu đội khăn xếp, mặc áo lương xanh của nho sinh, khuôn mặt hao gầy, u buồn, đầy tâm trạng. Có lẽ nghệ nhân tạc tượng đã nắm bắt được cái hồn của Chu công khi từ quan ở ẩn: tiếc rằng tôi sáng chẳng gặp được vua hiền nặng lòng yêu nước thương dân mà đành bất lực. Thơ văn ông viết trong giai đoạn này giãi bày:

Tấc lòng chưa thể như tro nguội
Nghe nói vua xưa gạt lệ thầm”

 Tuy có ba vị khoa bảng được phối thờ, nhưng đình Nội thờ Chu công là chính, cách bài trí tượng thần trong hậu cung đã nói lên điều đó. Ngoài thần phả còn có nhiều hoành phi, câu đối ghi công đức của Chu công trong đó có câu:

Thất trảm sớ còn thơm, gương sử thẹn cho tuồng mãi quốc
Lục kinh tro chưa nguội, biển vàng treo mãi chốn danh hương

Hiện vật

Đình Nội còn lưu giữ được nhiều di vật quý gồm: sáu tấm bia đá, trong đó bốn tấm dựng thời Lê Trung hưng, năm sắc phong thần, một cỗ kiệu, y môn, hoành phi, câu đối và thần phả.

Sự kiện và lễ hội

Hàng năm đến ngày, hàng năm từ ngày mồng 8 đến mồng 10 tháng Hai âm lịch người dân Thanh Liệt lại nô nức tề tựu tại Đình Nội và Đình Ngoại để tổ chức lễ hội làng Thanh Liệt. Nhằm tưởng nhớ Võ tướng Phạm tu đã giúp vua Lý Nam Đế đánh quân xâm lược nhà Lương, và Quốc Tử Giám tư nghiệp Chu Văn An đã góp phần đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước.

Xếp hạng

Đình Nội thờ Chu Văn An được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1989./.

Tham khảo

  1. Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
  2. Lưu Minh Trị, (2011), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 2), Nxb Hà Nội.
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin
Avatar chon thieng 200x133

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)