Thời gian
- Mồng 8 -10 tháng Hai
Địa điểm
- xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội
Thanh Liệt trước thời Lê Trung hưng là xã Quang Liệt, tổng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng. Cuối đời vua Tự Đức, Quang Liệt đổi thành Thanh Liệt, phủ Thường Tín, Hà Đông. Từ hòa bình lập lại thuộc ngoại thành Hà Nội. Mảnh đất ven đô Thăng Long này được biết đến vì có giống vải ngọt. Trong cuốn “Dư địa chí” Nguyễn Trãi đã ghi: “Quang Liệt có vải ngon nhất nước, các triều đều có tiên…”. Thanh Liệt còn nổi tiếng vì là quê hương của vị tướng Phạm Tu, đứng đầu ban võ giúp vua Lý Nam Đế (541 – 547) dựng nước Vạn Xuân; đồng thời cũng là nơi sinh ra nhà nho uyên thâm, nhà giáo đức độ, cương trực đã từng dạy vua học – tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An. Đình ngoại nơi thờ tướng Phạm Tu, xây năm Canh Ngọ (1690) hướng đông nam, giữa cánh đồng thôn Trung, nhìn ra hồ Ngọc Thanh Đàm.
Nhân vật thờ tự
Phạm Tu ở đình Ngoại
Thần phả cho chúng ta biết về danh tướng Phạm Tu: Ông sinh ngày 12 tháng Ba năm Bính Thìn (476). Lúc nhỏ chăm đọc sách, hay đàn sáo, giỏi binh thư, thạo cung nỏ. Theo học ở lò vật Quỳnh Đôi trở thành đô vật nổi tiếng: đô Tu. Tháng Giêng năm Nhâm Tuất (542) Lý Bí kêu gọi dân chúng chống quân xâm lược nhà Lương. Hào kiệt các nơi đã đứng lên hưởng ứng: Triệu Túc ở Chu Diên (Đan Phượng – Hà Tây), Lý Phục Man ở Sấu Giá (Hoài Đức Hà Tây), mạn phía bắc sông Cầu có anh em Trương Hống, Trương Hát. Đô Tu lúc này đã ngoài sáu mươi tuổi, vẫn còn quắc thước, cùng lớp trẻ lo toan việc nước việc dân. Ông lập đội nghĩa binh hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lý Bí, lập công lớn chiếm lĩnh Long Biên, phá tan hai cuộc tấn công của nhà Lương. Phía bắc tạm yên thì phía nam dậy sóng, vua Lâm Ấp thân dẫn quân vượt dải Hoành Sơn. Lý Bí cử ông đi dẹp loạn. Mùa hè năm Quý Hợi (tháng Tư năm 543) người lính già đầu bạc lại cùng ba quân vượt suối trèo non, gội mưa tắm nắng, Nam tiến đánh tan quân Lâm Ấp (sự kiện này đã được Đại Việt sử ký toàn thư ghi ở ngoại kỷ (Q.4 – trang 179). Ngày Nguyên đán năm Giáp Tý (tháng Hai năm 544) Lý Bí dựng nước Vạn Xuân xưng là Nam Đế. Lập hai ban văn võ, Phạm Tu được cử đứng đầu ban võ. Tháng Sáu năm 545 nhà Lương lại đem quân chinh phạt nước ta. Tướng Phạm Tu cùng tướng lĩnh lập phòng tuyến sông Tô. Ông cùng tướng sĩ chiến đấu dũng cảm, nhưng thế giặc mạnh, thành vỡ, ông ngã xuống ngày 20 tháng Bảy năm Ất Sửu (545) thọ 69 tuổi. Vua Lý Nam Đế phong ông là Long Biên hầu, làm bản cảnh thành hoàng, cho bản hương làm thang mộc ấp, miễn phu phen tạp dịch, cho tiền bạc xây miếu thờ.
Đã gần 1500 năm trôi qua, công lao đánh giặc giữ nước của tướng Phạm Tu mãi lưu truyền. Dân chúng đã làm nhiều câu thơ để ca ngợi, trong đó có câu:
Tướng sử lục triều Lương địch quốc
Thần bị nhất Phạm liệt danh hương.
Tạm dịch:
Tướng triều đại năm thứ năm đánh giặc Lương
Bia thân chốn làng quê sáng danh họ Phạm.
Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An ở đình Nội
Chu Văn An tên thật là Chu An, được nhà Trần ban tên thụy là Văn Trinh nên quen gọi là Chu Văn An. Ông được suy tôn là người thầy của muôn đời, được thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám cùng 72 người hiền. Ngoài ra, ông còn được lập đền thờ ở quê hương, thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ông được phong Thành hoàng làng ở quê hương và nơi ông cáo quan về ở ẩn là núi Phượng Sơn, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, Hải Dương.
Chu Văn An sinh ngày 25 tháng tám năm Nhâm Thìn (1292), mất năm Canh Tuất (1370), thọ 78 tuổi.
Sau khi thi đỗ thái học sinh, ông không ra làm quan, trở về quê mở trường dạy học. Trong số học trò, có nhiều người thành đạt, làm quan to trong triều như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát v.v…
Vua Trần Minh Tông (1314 – 1329) đã mời ông làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám để dạy thái tử. Đến đời Trần Dụ Tông, việc triều chính bị bỏ bễ, vua quan ăn chơi xa xỉ, nhiều lần can ngăn không được, ông đã dâng “Thất trảm sớ” đòi chém 7 tên nịnh thần. Trần Dụ Tông không nghe, ông bèn “treo mũ ở cửa Huyền Vữ”, ông cáo quan về ở núi Phượng Sơn, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, Hải Dương, lấy hiệu là Tiều Ẩn và mất ở đó. Được tin ông mất, vua Trần Nghệ Tông đã sai quan đến viếng, ban tặng tên thụy là Khang Tiết, tức Văn Trinh và dành một vinh dự lớn cho người thầy dạy là được thờ ở Văn Miếu. Ông được coi là ông tổ của các nhà nho Việt Nam, một người thầy tiêu biểu, có nhiều đóng góp cho nền giáo dục của nước nhà.
Tại quê hương Chu Văn An có đình thờ ông gọi là đình Nội. Ban đầu, đình vốn là ngôi đền cổ, đến thời Lê Trung Hưng trở thành văn chỉ làng Thanh Liệt, thờ các vị khoa bảng của làng.
Lễ hội
Lệ ở Thanh Liệt mở cửa đình từ ngày 7 tháng Hai. Ngày 8 tháng Hai đón khách. Ngày 9 tháng Hai rước từ đình Nội đến đình Ngoại vào dâng lễ rồi rước về. Ngày 10 tháng Hai lễ tạ ở hai đình. Ở đây, các trò diễn tuồng, chọi gà, đánh cờ bổi… Cách phục sức của quan viên, nữ quan, cách đánh trống chiêng đều được đặt thành thơ lục bát để nhớ: ngày sau con cháu cứ thế mà theo – các cụ bảo thế. Chúng ta cùng tham khảo bài: “Đám rước hội làng”.
Đi đầu đôi ngựa bạch cao
Mười hai cờ sắc vẫy chào gió xuân
Tiếp theo là trống tiền quản
Lọng vàng tám tía, bước chân dập dồn
Đến biến Nam quốc nho tôn
Đôi tàn đi cạnh, đô dồn tùng dinh
Kê tiếp là kiệu long đinh
Hương trầm nghi ngút anh linh văn bài
Trống trung quân bảy tiếng dài
Đến năm cỗ ngọc đủ loài bánh hoa
Nữ quan khiêng kiệu đức bà
Hội nhạc đi trước tàu hòa bát âm
Tư văn các chức tay cầm
Túc tĩnh, bát bảo có phần trang nghiêm
Đến chiếu trung tịch quan viên
Gươm vàng, kiếm bạc bút nghiên hai hàng
Bức trướng nguyên soái dát vàng
Uy nghi trước kiệu thành hoàng đức ông
Bát hương bài vị bên trong
Bước ra đến khỏi cổng đình kiệu quay
Trống hậu quân báo kiệu bay
Trung tâm đám rước tránh ngay ven đường
Ngài mừng ngài hóa bát hương
Kiệu bay đến tận cổng trường Chu công
Lại bay trở lại công đồng
Nhập vào đám rước để cùng rước đi
Kiệu bà đến miếu Vực thi
Ghé vào dâng lễ rước đi đình ngoài
Rước ngày mồng chín tháng Hai
Mồng mười lễ tạ đình ngoài đình trong
Hội làng tôi kể đã xong
Nôm na ghi lại vài dòng xem chung.
Thanh Liệt nối với mạch đất Thăng Long, quanh co theo dải sông Tô Lịch. Mảnh đất địa linh nhân kiệt đã sinh ra hai danh nhân lớn của lịch sử dân tộc Việt Nam đều đứng ở vị trí hàng đầu. Võ tướng Phạm Tu đã giúp vua Lý Nam Đế đánh quân xâm lược nhà Lương, lập nên nước Vạn Xuân, ngã xuống phòng tuyến sông Tô từ thế kỷ thứ VI. Quốc Tử Giám tư nghiệp Chu Văn An đã góp phần đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Một người tài cao đức lớn yêu nước thương dân. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là tấm gương sáng để hậu thê noi theo
Tham khảo
Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
