Niên đại: Năm 948, thế kỷ X
Niên hiệu ghi trên chuông: Càn Hòa thứ 6, năm Mậu Thân
Chất liệu: Đồng
Kích thước: Cao thân 32 cm; đường kính miệng 19 cm; quai cao khoảng 7 cm
Trọng lượng: Khoảng 5,4 kg
Minh văn: 27 cột, 211 chữ Hán
Nơi phát hiện: Văn chỉ thôn Nhật Tảo, năm 1987
Nơi lưu giữ: Đình Nhật Tảo, phường Đông Ngạc, thành phố Hà Nội
Xếp hạng: Bảo vật quốc gia, Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 15/01/2020
Giới thiệu bảo vật
Chuông Nhật Tảo là một trong những quả chuông đồng có niên đại sớm nhất hiện biết ở Việt Nam, được đúc vào năm 948, thuộc thời kỳ đầu độc lập tự chủ. Chuông được phát hiện năm 1987 tại Văn chỉ thôn Nhật Tảo và hiện được lưu giữ tại đình Nhật Tảo. Minh văn ghi rõ địa danh thôn Hạ Từ Liêm, huyện Giao Chỉ cùng ngày tháng tạo chuông, cung cấp nguồn tư liệu đặc biệt về lịch sử thế kỷ X.
Chuông có dáng thượng thu hạ thách, phần trên thon, phía dưới nở dần. Đỉnh chuông tương đối bằng, vai xuôi, thân gần hình trụ, miệng loe và có gờ; thành chuông khá dày. Quai chuông cao khoảng 7 cm, tạo hình đôi linh thú có sừng đấu lưng vào nhau, thân uốn cong thành quai treo. Hai con thú có đầu lớn, mắt lồi, sừng thẳng, bờm ôm sát đầu, thân phủ vảy; chân và miệng tỳ xuống đỉnh chuông. Chính giữa đỉnh quai có một núm tròn dẹt nhô lên. Kiểu quai này tạo nên hình thức khác biệt so với nhiều loại chuông Phật giáo ở các thời kỳ sau. Thân chuông được chia bằng các đường gân đúc nổi chạy ngang và dọc, tạo thành tám ô: bốn ô hình thang ở phần trên và bốn ô hình chữ nhật phía dưới. Tại các vị trí giao giữa những đường gân là bốn núm gõ hình hoa, chính giữa nổi tròn, xung quanh bố trí 12 cánh. Phần trên thân chuông khắc chìm bài minh bằng chữ Hán theo lối chân thư, gồm 27 cột với 211 chữ, phủ trên bốn ô phía trên và các khoảng giữa đường gân dọc. Chữ khắc còn tương đối rõ, là bộ phận có giá trị đặc biệt nhất của hiện vật.
Minh văn cho biết chuông được tạo vào ngày 29 tháng 4 năm Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ 6, tương ứng năm 948. Đây là thời kỳ sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, khi đất nước đã bước vào kỷ nguyên độc lập nhưng hệ thống niên hiệu riêng chưa hoàn chỉnh; vì vậy trên chuông vẫn sử dụng niên hiệu Càn Hòa của Nam Hán. Bài minh còn ghi địa danh “thôn Hạ Từ Liêm, huyện Giao Chỉ”, giúp xác định sự tồn tại sớm của địa danh Từ Liêm. Nội dung minh văn đề cập đến việc cộng đồng góp tiền thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, tạo tranh Thái Thượng Tam Tôn, làm phướn và cùng mua chuông để cúng dàng lâu dài. Những thông tin này phản ánh đời sống tín ngưỡng khá phong phú của cộng đồng cư dân vùng Từ Liêm vào thế kỷ X, trong đó các yếu tố Đạo giáo và Phật giáo đã cùng hiện diện và có sự giao thoa.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Chuông được xác định niên đại năm 948, là hiện vật trực tiếp thuộc giai đoạn đầu của thời kỳ độc lập tự chủ sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc.
Giá trị văn tự: Bài minh 211 chữ là một trong những nguồn sử liệu chữ viết rất sớm của thế kỷ X, cung cấp thông tin về niên đại, địa danh, cộng đồng cư dân và sinh hoạt tín ngưỡng đương thời.
Giá trị nghệ thuật: Dáng chuông nhỏ gọn, quai tạo hình đôi linh thú, bốn núm gõ hình hoa 12 cánh và hệ thống gân nổi tạo nên phong cách riêng của nghệ thuật đúc đồng thời kỳ đầu tự chủ.
Giá trị kỹ thuật: Việc đúc liền thân chuông, quai linh thú, các đường gân và núm hoa, kết hợp với khắc minh văn trên bề mặt cho thấy trình độ đúc và gia công đồng phát triển vào thế kỷ X.
Giá trị độc đáo: Chuông Nhật Tảo là một trong số rất ít chuông đồng có niên đại trước thời Lý còn được biết đến ở Việt Nam, bên cạnh Chuông Thanh Mai đúc năm 798.
Chuông Nhật Tảo là nguồn tư liệu quý về lịch sử, chữ viết, kỹ thuật đúc đồng và đời sống tín ngưỡng của người Việt thế kỷ X. Đặc biệt, bài minh ghi năm 948 giúp bảo vật trở thành một chứng tích quan trọng của giai đoạn đầu độc lập tự chủ trong lịch sử Việt Nam.
Nguồn ảnh: Sưu tầm