Niên đại: Gia Long thứ 2 (1803)
Chất liệu: Kim loại quý (hợp kim bạc pha đồng / đồng bạch)
Kích thước: Dài 125 mm; rộng 29,5 mm; dày 15 mm; trọng lượng: 350 gram (tương đương 10 lạng cổ)
Loại hình: Tiền tệ / Thoi bạc nén quy chuẩn (Ngân đĩnh 10 lạng)
Nơi phát hiện: Hoàng cung triều Nguyễn, Huế
Đơn vị lưu giữ: Bảo tàng Lịch sử quốc gia, số 1 Tràng Tiền, Hà Nội
Giới thiệu hiện vật
Thoi bạc 10 lạng đúc năm Quý Hợi (1803) là một trong những hiện vật tiền tệ kim loại quý quy chuẩn có niên đại sớm nhất của triều Nguyễn, ra đời gắn liền với chính sách cải cách và chấn chỉnh thị trường bạc nén ngay sau khi vua Gia Long lên ngôi. Theo chính sử triều Nguyễn, vào tháng 5 năm Gia Long thứ 2 (1803), Hộ bộ Bắc Thành Nguyễn Văn Khiêm dâng sớ tâu về thực trạng bạc thoi lưu hành từ thời Tây Sơn bị pha tạp nhiều thiếc kẽm, thiếu hụt phân lượng, kiến nghị triều đình từ nay đúc bạc phải có khắc chữ làm tin. Nhà vua chuẩn thuận, phong cho Quản Đồ gia Bắc Thành là Trần Bình Ngũ làm Trung bình hầu, giao trách nhiệm kiểm định: phàm thỏi vàng, thỏi bạc công hay tư đều phải đóng dấu “Trung bình” mới được lưu thông hợp pháp.
Hiện vật có dạng hình khối hộp chữ nhật bề thế, đầm chắc với chiều dài 125 mm, chiều rộng 29,5 mm, độ dày đạt 15 mm cùng trọng lượng 350 gram (chuẩn định tương đương 10 lạng bạc cổ truyền). Dù danh nghĩa gọi là thoi bạc, song thực chất là hợp kim bạc pha đồng (đồng bạch) để tăng độ cứng cáp và bền vững khi lưu trữ, vận chuyển. Hai mặt phẳng lớn phía trước và phía sau của thoi bạc được để trơn, trên thân đóng tới 10 dấu khắc kiểm duyệt quy chuẩn của cơ quan chức năng nhà nước. Hai đầu hồi của thoi bạc được đúc nổi các minh văn kiểm định nghiêm ngặt: một đầu mang hai chữ “Trung bình” (中平) – dấu chuẩn định phẩm vị của Trung bình hầu; đầu đối diện mang hai chữ “Công giáp” (公甲) – thể hiện cấp độ giám sát, phân hạng chính thức của quan xưởng triều đình. Theo quy chế lưu thông đương thời, thỏi bạc 10 lạng này có giá trị quy đổi pháp định tương đương 28 quan tiền đồng.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Hiện vật mang niên đại khởi đầu triều Nguyễn (năm 1803), đối sánh chuẩn xác với các ghi chép trong chính sử (Đại Nam thực lục); là bằng chứng vật chất sống động phản ánh biện pháp cấp bách của vua Gia Long nhằm xóa bỏ tệ gian lận tiền tệ thời hậu chiến, lập lại kỷ cương tài chính và thống nhất thị trường tiền tệ quốc gia.
Giá trị văn hóa: Phản ánh rõ nét thể chế quản lý kinh tế, kim loại quý nghiêm ngặt của nhà nước phong kiến đầu thế kỷ XIX; các dấu khắc kiểm duyệt cùng minh văn “Trung bình”, “Công giáp” minh chứng cho sự hình thành chức danh kiểm định viên chuyên trách (Trung bình hầu) và mức giá trị quy đổi chuẩn xác (1 thỏi 10 lạng tương đương 28 quan tiền đồng).
Giá trị nghệ thuật: Mang phong cách tạo hình đanh thép, chắc khỏe và mực thước của kim ngân đĩnh cổ điển: hình khối chữ nhật vuông vức, bề mặt để trơn tạo độ tương phản mạnh mẽ với 10 dấu triện kiểm duyệt cùng nét chữ đúc nổi sắc nét ở hai đầu thoi bạc.
Giá trị độc đáo: Là thoi bạc nén khổ lớn 10 lạng (nặng 350 gram) cực kỳ quý hiếm của triều Gia Long còn lưu giữ nguyên vẹn; hiện vật bảo lưu trọn vẹn cả 10 vết triện kiểm duyệt gốc cùng hệ thống minh văn “Trung bình” – “Công giáp” lịch sử tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
Nguồn ảnh: Sưu tầm