Trống đồng Ngọc Lũ

Trống đồng Ngọc Lũ

Thông tin cơ bản

Niên đại: Khoảng 2.500–2.000 năm cách ngày nay
Văn hóa: Đông Sơn
Chất liệu: Đồng
Kích thước: Đường kính mặt 79,3 cm; đường kính chân 80 cm; cao 63 cm
Trọng lượng: 86 kg
Loại hiện vật: Cổ vật
Đơn vị lưu giữ: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Giới thiệu hiện vật

Trống đồng Ngọc Lũ là một trong những hiện vật tiêu biểu và nổi tiếng nhất của văn hóa Đông Sơn, đồng thời được xem là một biểu tượng đặc sắc của nền văn minh Việt cổ. Trống thuộc loại H1 – Heger, theo hệ thống phân loại trống đồng của học giả người Áo Franz Heger công bố năm 1902. Hiện vật có lớp patin màu xanh ngả xám, kích thước lớn, hình dáng cân đối và hệ thống hoa văn đặc biệt phong phú. Cấu trúc trống gồm bốn bộ phận chính: mặt trống, tang trống, thân trống và chân trống. Mỗi bộ phận vừa đảm nhiệm chức năng riêng, vừa được kết hợp hài hòa trong một tổng thể tạo hình thống nhất.

Trống đồng Ngọc Lũ được phát hiện vào khoảng năm 1893–1894, khi các ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Văn Túc cùng một số người dân đang đắp đê tại xã Như Trác, huyện Nam Xang, nay thuộc khu vực Lý Nhân, Hà Nam, bên hữu ngạn sông Hồng. Trong lúc đào tại một bãi cát bồi, ở độ sâu khoảng 2 mét, họ phát hiện một vật bằng đồng lớn nằm dưới đất. Sau đó, trống được đưa về thờ tại đình làng Ngọc Lũ. Khoảng bảy, tám năm sau, một họa sĩ người Pháp đến vẽ tại đình và phát hiện chiếc trống, rồi báo cho Công sứ Hà Nam. Nhân cuộc đấu xảo tổ chức tại Hà Nội ngày 15 tháng 11 năm 1902, Trường Viễn Đông Bác Cổ đã mua lại trống với giá 550 đồng. Từ năm 1958, Trống đồng Ngọc Lũ được lưu giữ, bảo quản và giới thiệu trong hệ thống trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Cấu tạo

Mặt trống – thế giới Đông Sơn thu nhỏ

Chính giữa mặt trống là một ngôi sao nổi 14 cánh bao quanh một mặt tròn nổi, đồng thời là vị trí dùng để tác động khi đánh trống. Xen giữa các cánh sao là những họa tiết hình lông công. Từ trung tâm tỏa ra 16 vành hoa văn với nhiều mô típ khác nhau như chấm nhỏ, vòng tròn chấm giữa nối tiếp tuyến, các đường gãy khúc, văn răng cưa cùng nhiều hình người, động vật và cảnh sinh hoạt. Đáng chú ý là những hình người hóa trang bằng lông chim đang nhảy múa; cảnh người giã gạo bằng chày đôi; người đánh trống; những ngôi nhà sàn mái cong; đàn hươu đang di chuyển; chim mỏ ngắn đang bay và chim mỏ dài đứng thành hàng. Các hình ảnh được sắp xếp nối tiếp thành những vành chuyển động quanh tâm trống, tạo nên một bức tranh sinh động về đời sống của cư dân Đông Sơn.

Tang trống

Tang trống phình rộng, đóng vai trò như một hộp cộng hưởng, góp phần khuếch đại âm thanh của trống. Phần trên của tang có sáu vành hoa văn hình học gồm những đường chấm nhỏ thẳng hàng, văn răng cưa và các vòng tròn đồng tâm chấm giữa được nối với nhau bằng những tiếp tuyến song song. Phần dưới nổi bật với hình ảnh sáu chiếc thuyền chuyển động từ trái sang phải. Trên thuyền là những chiến binh cầm vũ khí cùng hình tượng tù binh. Xen giữa các thuyền là hình chim cò ngậm cá và chó săn được thể hiện theo lối cách điệu. Giữa tang và thân trống gắn hai đôi quai kép đối xứng, trên quai đúc nổi hoa văn bông lúa.

Thân và chân trống

Thân trống có dạng hình trụ đứng. Phần giữa được chia thành sáu ô hình chữ nhật bởi những dải hoa văn hình học chạy song song và cắt nhau. Bên trong mỗi ô là hình những võ sĩ đội mũ lông chim, tay cầm vũ khí, vừa đi vừa múa. Đây là một trong những hình tượng đặc trưng phản ánh đời sống nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng của cư dân Đông Sơn. Phần dưới thân trống có ba vành hoa văn hình học. Chính giữa là vành vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến; hai bên là các đường chấm nhỏ, phía ngoài cùng là những đường chỉ trơn. Chân trống nở choãi theo dạng hình nón cụt, không trang trí. Phần chân tạo thành cửa mở để âm thanh từ lòng trống thoát ra và lan tỏa ra không gian xung quanh.

Những hình ảnh về đời sống người Việt cổ

Giá trị đặc biệt của Trống đồng Ngọc Lũ không chỉ nằm ở kỹ thuật đúc mà còn ở hệ thống hình ảnh vô cùng phong phú trên bề mặt. Con người xuất hiện trong những hoạt động khác nhau: nhảy múa, đánh trống, giã gạo, đi thuyền, cầm vũ khí và tham gia các hoạt động cộng đồng. Bên cạnh đó là hình nhà sàn, thuyền, chim, hươu, chó săn cùng nhiều mô típ hình học. Những hình tượng ấy cung cấp nguồn tư liệu trực quan quý giá để tìm hiểu đời sống vật chất, đời sống tinh thần, nghi lễ, sinh hoạt cộng đồng và tổ chức xã hội của cư dân Đông Sơn trong thời đại dựng nước.

Giá trị tiêu biểu

Giá trị lịch sử: Trống đồng Ngọc Lũ là một di vật nguyên gốc tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn, cung cấp nguồn tư liệu đặc biệt quan trọng cho việc nghiên cứu xã hội người Việt cổ trong thời đại dựng nước.
Giá trị nghệ thuật: Hiện vật được đánh giá cao bởi kiểu dáng cân đối, cấu trúc hài hòa và hệ thống hoa văn phong phú. Các cảnh sinh hoạt, nghi lễ, con người, động vật và mô típ hình học được tổ chức thành một bố cục chặt chẽ, thể hiện trình độ nghệ thuật nổi bật của cư dân Đông Sơn.
Giá trị kỹ thuật: Trống phản ánh thành tựu phát triển cao của nghề luyện kim và đúc đồng. Việc tạo tác một chiếc trống lớn, thành mỏng, có cấu trúc phức tạp và hệ thống hoa văn tinh vi là minh chứng cho kỹ thuật chế tác đồng thau vượt trội của người xưa.
Giá trị văn hóa: Những hình ảnh trên trống phản ánh nhiều phương diện của đời sống cư dân Lạc Việt, từ nhà ở, trang phục, lao động, nghi lễ, âm nhạc đến hoạt động cộng đồng và chiến trận.

Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, nghệ thuật, kỹ thuật và văn hóa, Trống đồng Ngọc Lũ được xem là một trong những di vật tiêu biểu nhất của văn hóa Đông Sơn, đồng thời là biểu tượng nổi bật của nền văn minh Việt cổ và là Bảo vật Quốc gia của Việt Nam.

Nguồn ảnh: Sưu tầm

Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Trống đồng Ngọc Lũ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)