Niên đại: Thế kỷ VI–VII
Văn hóa: Óc Eo – hậu Óc Eo
Chất liệu: Đá sa thạch
Kích thước: Cao 59 cm; rộng 25 cm; dày 24 cm
Trọng lượng: Khoảng 80 kg
Loại hình: Tượng Phật giáo
Nguồn gốc: Sơn Thọ, Trà Vinh
Đơn vị lưu giữ: Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh
Xếp hạng: Bảo vật quốc gia, Quyết định số 1821/QĐ-TTg ngày 24/12/2018
Giới thiệu bảo vật
Tượng Phật Sơn Thọ (Trà Vinh) là một tác phẩm điêu khắc Phật giáo đặc sắc của vùng Nam Bộ, có niên đại khoảng thế kỷ VI–VII. Pho tượng được tạc từ đá sa thạch nguyên khối, cao 59 cm, thể hiện Đức Phật trong tư thế ngồi trên một bệ nhiều tầng, hai chân buông thẳng xuống phía trước, hai bàn chân đặt song song trên một bệ nhỏ hình bán khuyên.
Tư thế ngồi với hai chân buông thõng là đặc điểm nổi bật của pho tượng. Thay vì ngồi xếp bằng trên tòa sen như hình ảnh thường gặp trong nghệ thuật Phật giáo, Đức Phật được thể hiện ngồi ngay ngắn như trên một ngai hoặc ghế, cơ thể hướng thẳng về phía trước. Kiểu tạo hình này thường được gọi là tư thế ngồi kiểu Âu châu, hay pralambapadasana, từng xuất hiện trong nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ và một số trung tâm Phật giáo cổ ở Đông Nam Á.
Bệ tượng có dạng hình thang và được chia thành nhiều tầng. Trên mặt bệ là một lớp giống như tấm thảm mỏng, phủ xuống phía trước và được trang trí hoa văn. Hai bàn chân của Đức Phật đặt cân xứng trên một bệ thấp hình bán khuyên phía dưới. Cách bố trí từ thân người, bệ ngồi đến bệ đặt chân tạo thành một trục thẳng, làm cho toàn bộ tác phẩm có dáng vẻ cân đối và trang nghiêm.
Phần đầu được tạo hình khá lớn so với thân. Khuôn mặt tròn đầy, vầng trán rộng, gờ mày mảnh và hơi cong. Đôi mắt khép hờ, sống mũi cao, môi có đường viền rõ, môi dưới đầy và chia thành hai thùy. Miệng hơi cong nhẹ tạo nên một nét biểu cảm thanh thản. Hai tai dày, dái tai kéo dài xuống dưới – một đặc điểm quen thuộc trong nghệ thuật tạo tượng Phật.
Tóc được tạo thành những lọn xoắn ốc lớn, phủ đều trên đầu. Phía trên là nhục kế – ushnisha, được tạo liền với đầu thành một khối tròn lớn. Sự kết hợp giữa tóc xoắn, nhục kế, dái tai dài và trạng thái tĩnh lặng của khuôn mặt tạo nên những dấu hiệu nhận diện rõ ràng của hình tượng Đức Phật.
Trang phục được thể hiện theo lối ước lệ, ôm sát cơ thể, vì vậy hình khối phần ngực và thân người vẫn hiện lên khá rõ. Áo choàng để hở vai phải, được nhận biết qua một đường gờ chạy chéo trước ngực rồi vòng ra phía sau lưng. Phần dưới của áo tạo thành những nếp vải cân đối, buông xuống phía trước bệ ngồi. Cách thể hiện trang phục mỏng, gần như bám vào cơ thể vừa giữ được đặc điểm của y phục Phật giáo vừa tạo điều kiện để nghệ nhân thể hiện hình thể bên dưới.
Tư thế hai chân buông thõng cũng làm cho bảo vật khác biệt với nhiều pho tượng Phật Óc Eo thường gặp. Người xem không chỉ thấy một hình tượng tôn giáo mà còn có thể nhận ra cách người thợ cổ giải quyết khá phức tạp mối quan hệ giữa cơ thể người, bệ ngồi, lớp vải phủ và bệ đặt chân trên cùng một khối đá.
Bên cạnh giá trị tạo hình, pho tượng còn là một dấu tích quan trọng về mạng lưới giao lưu văn hóa của đồng bằng sông Cửu Long. Trong thiên niên kỷ I, vùng Nam Bộ nằm trên các tuyến giao thương kết nối Ấn Độ Dương với Đông Nam Á. Sự lưu chuyển của con người, hàng hóa và tư tưởng tôn giáo đã góp phần đưa Phật giáo đến vùng đất này và tạo điều kiện cho nghệ thuật Phật giáo phát triển trong môi trường văn hóa bản địa.
Hiện nay, Tượng Phật Sơn Thọ (Trà Vinh) được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2018, pho tượng được công nhận là Bảo vật quốc gia, trở thành một trong những hiện vật quan trọng phục vụ nghiên cứu về văn hóa Óc Eo và lịch sử Phật giáo cổ ở Nam Bộ.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử – khảo cổ: Tượng có niên đại thế kỷ VI–VII, là nguồn tư liệu trực tiếp giúp tìm hiểu đời sống văn hóa và tôn giáo của cư dân Nam Bộ trong giai đoạn văn hóa Óc Eo và thời kỳ tiếp nối sau đó.
Giá trị Phật giáo: Những đặc điểm như nhục kế, tóc xoắn, dái tai dài, áo choàng và tư thế ngồi cho thấy một hệ thống tạo hình Phật giáo đã phát triển khá hoàn chỉnh tại Nam Bộ vào giữa thiên niên kỷ I.
Giá trị tạo hình: Tư thế ngồi hai chân buông thõng là điểm đặc biệt của bảo vật. Bệ ngồi nhiều tầng, tấm thảm phủ phía trước và bệ đặt hai chân được kết hợp thành một bố cục thống nhất, khác với dạng tượng Phật ngồi kiết già thường gặp.
Giá trị nghệ thuật: Khuôn mặt tròn đầy, đôi mắt khép hờ, môi hơi cong, tóc xoắn, nhục kế lớn và những nếp áo cân đối tạo nên trạng thái tĩnh lặng, trang nghiêm. Khối cơ thể và trang phục được xử lý mềm mại trên chất liệu sa thạch.
Giá trị kỹ thuật: Pho tượng được tạo từ một khối đá sa thạch nặng khoảng 80 kg. Việc xử lý đồng thời cơ thể người, ghế ngồi, các lớp bệ, bàn chân và những nếp áo cho thấy khả năng kiểm soát khối đá và kỹ thuật tạc tượng phát triển của người thợ cổ.
Giá trị nghiên cứu giao lưu văn hóa: Tác phẩm lưu giữ những yếu tố nghệ thuật bắt nguồn từ truyền thống Phật giáo Ấn Độ nhưng đã được biến đổi trong môi trường Đông Nam Á và Nam Bộ. Đây là tư liệu quan trọng để tìm hiểu quá trình tiếp nhận và bản địa hóa Phật giáo tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Giá trị độc bản: Với tư thế ngồi chân buông thõng, cấu trúc bệ đặc biệt và phong cách tạo hình riêng, Tượng Phật Sơn Thọ – Trà Vinh là một tác phẩm quý hiếm trong hệ thống tượng Phật cổ được phát hiện tại Nam Bộ. Năm 2018, hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia và hiện được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.
Được tạc từ đá sa thạch cách ngày nay khoảng 1.400–1.500 năm, Tượng Phật Sơn Thọ vẫn lưu giữ rõ hình ảnh Đức Phật với tóc xoắn, nhục kế lớn, đôi mắt khép hờ và hai chân buông xuống từ bệ ngồi. Hình thức tạo tượng khác biệt cùng kỹ thuật điêu khắc tinh tế khiến bảo vật trở thành một dấu tích đặc sắc về sự hiện diện của Phật giáo, nghệ thuật tạo tượng và quá trình giao lưu văn hóa tại Nam Bộ trong thế kỷ VI–VII.
Nguồn ảnh: Sưu tầm