Hội Đền Dầm

Hội Đền Dầm

Thông tin cơ bản

Thời gian: Chính hội mùng 5 tháng Hai 
Địa điểm: Ninh Sở – Thường Tín
Nhân vật thờ tự: Đức Thánh Trần 
Đặc điểm: Lễ rước cỗ, cấp thủy, rước sắc 

Thời gian tổ chức lễ hội 

Trong năm, đền Dầm hầu như tháng nào cũng có các lễ lớn, tuy nhiên lễ hội chính và quan trọng nhất được tổ chức từ mồng 1 đến mồng 10 tháng Hai, đồng thời cũng là lễ hội chính của làng Sâm Dương. Trong thời gian này, nhiều nghi lễ được tiến hành theo trình tự. Ngày mồng 6 diễn ra lễ rước sắc, tức rước các sắc phong của Mẫu từ đền vào trình tại đình. Ngày mồng 7 là lễ rước cỗ chay dâng lên Mẫu. Hai cuộc rước này chủ yếu có sự tham gia của dân làng, ít có sự hiện diện của khách thập phương. Đến ngày mồng 10 tháng Hai, đền tổ chức lễ tạ, hay còn gọi là giã hội. Tuy nhiên, sau khi lễ tạ kết thúc, trong suốt thời gian còn lại của tháng Hai, khách thập phương vẫn tiếp tục đến đền dâng lễ, khiến không gian đền duy trì không khí đông vui, tấp nập. 

Công tác chuẩn bị 

Công tác chuẩn bị cho lễ hội được bắt đầu từ những tháng cuối năm trước, dưới sự tổ chức và điều hành của Ban Hội đồng, còn gọi là Ban Khánh tiết. Trước hết, Ban Hội đồng tiến hành họp và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm người trong cộng đồng. Các cụ cao tuổi tham gia đội tế; nam nữ thanh niên đảm nhiệm việc khiêng kiệu, cầm cờ và thực hiện các nhiệm vụ trong đám rước; thiếu nhi từ 10 đến 12 tuổi tham gia đội múa sênh tiền; các tiết mục múa rồng, múa lân, múa “con đĩ đánh bồng” do nam thiếu niên và thanh niên đảm nhiệm. Như vậy, công tác chuẩn bị và tổ chức lễ hội huy động sự tham gia của đông đảo các thành viên trong cộng đồng, từ người cao tuổi đến thanh niên và trẻ em.
Một trong những công việc quan trọng là lựa chọn một người, đồng thời cũng là một gia đình, thay mặt làng chuẩn bị đồ lễ. Lễ vật gồm oản đường, bánh dày, thủ lợn, xôi, chè… Người được lựa chọn phải có tư cách đạo đức tốt, được dân làng kính trọng, gia đình thuận hòa, yên ấm và không có tang. Song song với việc chuẩn bị đồ lễ là việc chuẩn bị đồ mã của làng và của từng gia đình. Đồ mã thường có màu trắng, được quan niệm là phù hợp với màu của nước. Bên cạnh các đồ mã có kích thước lớn như voi, ngựa, thuyền…, lễ hội còn bắt buộc phải có một cỗ mũ dành cho Quan lớn Bơ Phủ, hai cỗ mũ dành cho hai vị hầu cận và một đôi Lốt tam đầu cửa vĩ.
Do lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu, làng lựa chọn khoảng 35 trinh nữ khoảng 18 tuổi, có diện mạo đoan trang, gia đình không có tang, để tham gia rước hai kiệu gồm kiệu võng và kiệu vật cống. Các cô gái đồng thời đảm nhiệm việc cầm lỗ bộ, bát bửu để hộ giá trong đoàn rước. Người khiêng chóe nước gồm bốn trai làng chưa vợ, có sức khỏe tốt và gia đình không có “bụi”. Theo lời các cụ cao tuổi, chóe nước có trọng lượng lớn nên phải lựa chọn nam giới để khiêng. Theo cách lý giải bước đầu, nước thuộc yếu tố âm, nam giới thuộc yếu tố dương, vì vậy việc để nam giới khiêng chóe nước có thể được xem là phù hợp về mặt biểu tượng, góp phần làm tăng tính thiêng của nước và gửi gắm ước vọng về phúc lộc cho cộng đồng.
Các tiết mục múa rồng, múa sư tử và múa “con đĩ đánh bồng” do nam thanh niên trong làng đảm nhiệm. Những người tham gia phải trải qua quá trình luyện tập khá công phu. Do đây là những hoạt động đòi hỏi kỹ năng và tính nghệ thuật, người tham gia thường duy trì trong thời gian dài và chỉ thay đổi sau vài ba năm. Đội múa sênh tiền gồm 14 em thiếu nhi nữ, từ 10 đến 12 tuổi, cũng được luyện tập trước lễ hội một thời gian. Bên cạnh đó, làng phải chuẩn bị phương tiện phục vụ nghi lễ cấp thủy. Theo đó, cần có hai thuyền lớn, gồm một thuyền chở nước và một thuyền chở đồ lễ, cùng bốn thuyền nhỏ dành cho đội múa rồng.
Một nội dung đặc biệt trong lễ hội là nghi thức rước lễ cấp thủy. Những người phụ nữ tham gia nghi lễ mặc trang phục chỉnh tề, kính cẩn đưa đồ lễ ra đền. Cây tre, còn gọi là cây nêu, được đặt bên bàn thờ cũng được bà Hội chủ mang ra, dựng tựa vào kiệu bát hương. Theo lời kể của người dân địa phương, năm nào lễ hội cũng phải có cây tre um tùm này. Những cành và lá tre được quan niệm là biểu tượng cho sự quần tụ của tín đồ, cùng quy tụ về một dòng chảy, trong đó thân tre được liên hệ với Đạo Mẫu.
Trên các cành tre, có năm người ta treo lá phướn, cánh dấu, tiền xu và tiền giấy thật với ý nghĩa cầu an lạc. Năm nay, thay cho lá phướn là những dải lụa nhiều màu tượng trưng cho ngũ phương, được kết lại thành hình một bông cúc lớn với những dải lụa buông thướt tha xuống phía dưới. Theo lời giải thích của ông từ tại đền, bông hoa có màu đỏ có thể tượng trưng cho Mặt Trời hoặc thần linh. Được đặt gần đỉnh ngọn tre, bông hoa được quan niệm như truyền sinh lực qua các đốt tre xuống thế giới trần gian, để muôn loài cùng sinh sôi. Từ cách lý giải này, có thể tạm xem cây tre đã được thiêng hóa và mang tư cách như một trục vũ trụ.
Sau khi hoàn thành các nghi lễ tại đền, cây nêu được rước theo đoàn và đặt ở phía đầu thuyền của ông đồng, gần bàn thờ. Việc đưa cây nêu tham gia nghi lễ trên thuyền khiến nó được xem là gia tăng tính linh thiêng, sau đó cây lại được rước về để thờ trong cung. Đến ngày mồng 1 tháng Tư hằng năm, khi làng tiến hành lễ vào hè, cây nêu mới được hạ xuống và phát lộc cho dân làng.
Mỗi gia đình trong làng được nhận một phần lộc gồm một lá tre, một cánh dấu, một đồng tiền xu và một mảnh vải phướn nhỏ. Phần lộc này được người dân xem như một dạng bùa hộ mệnh, có tác dụng bảo vệ con người khỏi ốm đau, bệnh tật. Sau khi hạ cây nêu, phần thân và cành tre được đem hóa như hóa vàng mã.

Diễn trình lễ hội 

Ngày 15 tháng Giêng, sau khi hoàn thành lễ Thượng nguyên, ông đồng đền cùng cụ Nhất làng hoặc cụ Nhì làng thay mặt dân làng làm lễ xin Thánh Mẫu cho phép mở hội. Hai người cùng quỳ trong cung cấm, thành kính dâng lời khấn rồi xin âm dương. Đến ngày mồng 1 tháng Hai, làng làm lễ mở cửa đền, đồng thời Ban Khánh tiết tiến hành phân công và sắp đặt các công việc phục vụ lễ hội. Sau đó diễn ra một sinh hoạt tín ngưỡng đặc trưng của đạo lý thờ Mẫu. Ông đồng đền trực tiếp hầu một số giá đồng nhằm thay mặt dân làng bày tỏ niềm vui mừng khi được Mẫu cho phép mở hội, đồng thời báo tin cho các vị thần linh khác về việc lễ hội được khai mở.
Song song với nghi lễ tại đền, dân làng lựa chọn một người văn hay chữ tốt để soạn bản văn tế trình lên Thành hoàng làng. Nghi lễ này mang ý nghĩa như một hình thức xin vị thần cai quản địa phương cho phép dân làng được mở hội trên vùng đất thuộc quyền cai quản của Ngài. Sau khi hoàn thành, bản văn được lưu lại tại đình. Đến sáng mồng 4 tháng Hai, người dân mang kiệu cùng nhiều đồ vàng mã có kích thước lớn như voi, ngựa, thuyền… vào đình để rước văn từ đình ra đền.
Sáng mồng 5 tháng Hai, khi trời vừa bừng sáng, tiếng trống, tiếng chiêng đã vang lên thúc giục, tạo nên không khí náo nức trong toàn làng. Các hoạt động diễn ra đồng thời, nơi lễ bái, nơi múa rồng, khiến toàn bộ không gian lễ hội trở thành một sân khấu cộng đồng rộng lớn. Người tham dự hòa mình vào các nghi lễ và trò diễn một cách tự nhiên, dường như không có sự phân biệt giữa người thực hiện và người chứng kiến. Khi thời điểm chính hội đến, ranh giới giữa thế giới đời thường và thế giới linh thiêng dường như được thu hẹp, tạo nên một không gian cộng cảm giữa con người và thần linh.
Tại sân rộng trước cửa đền có hai cỗ kiệu, gồm một kiệu long đình phủ hoa lụa với những dải lụa màu buông từ nóc xuống và một cỗ kiệu võng. Cả hai đều quay vào phía cửa đền. Trên đường linh đạo, gần cỗ kiệu lớn, có hai người thực hiện điệu múa “con đĩ đánh bồng”. Người đảm nhiệm điệu múa này thường là những trai giải gái chưa vợ, nhưng khi bước vào nghi lễ, họ thể hiện những động tác mềm mại, uyển chuyển và thướt tha. Phía trong, sát bậc thềm của đền là đội múa sênh tiền, đứng thành hai hàng đối diện nhau.
Bao quanh đội múa sênh tiền và những người múa “con đĩ đánh bồng” là đội múa rồng. Trước đây, rồng thường di chuyển theo chiều ngược kim đồng hồ, được cho là gắn với ý thức thờ Mặt Trời. Hiện nay, nhận thức này đã phần nào phai nhạt nên rồng chủ yếu chạy đi rồi lộn lại trước sân. Tuy vậy, hình thức múa vẫn được nhìn nhận như sự phản ánh một tục cầu nước cổ truyền. Theo cách giải thích của một số nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam, rồng tượng trưng cho mây và bầu trời. Rồng chuyển động dưới sự điều khiển của người cầm quả cầu, được xem là quả lôi, tượng trưng cho sấm sét. Vì vậy, múa rồng tại đền Dầm có thể được hiểu như một biểu tượng về sự vận động của bầu trời, qua đó con người gửi gắm lời cầu mong thần linh thực hiện nhiệm vụ tạo nên nguồn nước dồi dào, đem lại sự no đủ.
Theo lời kể của các cụ cao niên, trước đây lễ hội còn có múa sư tử. Đây có thể được xem là một sinh hoạt văn hóa gắn với cầu mùa và cầu mưa. Trong huyền thoại của người Việt và một số cư dân Đông Nam Á, nguyệt thực không toàn phần được nhìn nhận theo quan niệm về việc Hổ phù phải nhả mặt trăng, từ đó gắn với dấu hiệu được mùa và được thể hiện trong nghệ thuật tạo hình. Đầu sư tử trong tạo hình Việt Nam được đồng nhất với đầu hổ phù nguyên thủy, trong đó môi dưới được coi là hình tượng mặt trăng. Sự vận động của sư tử trong điệu múa tạo nên sinh lực, được biểu trưng bằng phần đuôi đỏ. Trong múa sư tử còn có trống tượng trưng cho sấm, đèn ông sao tượng trưng cho bầu trời, đèn thềm thừ hình cóc tượng trưng cho cầu mưa và ông Địa với khuôn mặt tròn, tươi cười tượng trưng cho đất đai phì nhiêu đang đón nhận nước mưa để tạo nên sự sinh sôi.
Trên thềm phía dưới, trước cửa gian giữa của đền, người ta đặt một nhang án lớn để bày đồ lễ của làng. Tại chính tẩm đặt ba bộ mũ, hài của Ngài và hai vị hầu cận cùng vàng mã màu trắng. Trên bàn thờ còn có mâm ngũ quả và mâm xôi thủ lợn. Người ta xẻ miệng lợn rồi nhét phần đuôi vào trong, qua đó tượng trưng cho một con lợn đầy đủ cả đầu và đuôi.
Để mở đầu cuộc rước lễ cấp thủy, ông đồng đền, một cụ Nhất làng còn khỏe mạnh và một cụ bà cùng vào hậu cung khấn Mẫu, xin phép được rước bát hương. Sau đó, ông đồng dùng khăn đỏ phủ lên tay rồi kính cẩn đỡ bát hương chính đưa ra ngoài. Một cụ già cầm trống khẩu đi trước, vừa giữ nhịp vừa như một tín hiệu mở đường. Phường bát âm đã chờ sẵn và đi trước ông đồng. Đoàn tiến đến trước kiệu, đặt bát hương lên kiệu, sau đó ông đồng tiếp tục làm lễ xin phép Ngài cho bắt đầu cuộc rước. Cụ Nhất làng mặc quần áo đỏ, đội khăn đỏ, đại diện cho toàn thể dân làng vào lễ.
Trong thời điểm này, các hoạt động nghệ thuật trên sân đều tạm dừng để thần linh tiếp nhận lời cầu xin của ông đồng và cụ Nhất. Sau khi nghi lễ hoàn tất, đoàn rước bắt đầu di chuyển. Đoàn xuất phát từ cửa chính của đền, rẽ sang phải, đi vòng lên rồi rẽ xuống bến sông, thay vì đi thẳng ra bờ sông. Theo lời các cụ cao niên địa phương, từ xưa đến nay đám rước vẫn duy trì lộ trình này. Lộ trình ấy phần nào có hướng vận động ngược chiều kim đồng hồ.
Đi đầu đoàn rước là năm trai làng cầm năm lá cờ hội tượng trưng cho ngũ hành. Tiếp đến là phường bát âm, đội sênh tiền, đội trống và những người múa “con đĩ đánh bồng”. Âm thanh của thanh la, trống, sênh tiền, sáo, nhị, kèn… hòa quyện tạo thành một bản hòa tấu vừa trầm lắng, sâu xa, vừa vui tươi, náo nức, như lời mời thần linh và lời gọi cộng đồng cùng tham dự hội.
Tiếp theo là một người phụ nữ mặc áo trắng, đội khăn xếp màu trắng, cầm tấm biển sơn son thếp vàng ghi dòng chữ “Thủy cung Thánh Mẫu”. Sau đó là bà hội chủ cầm cây nêu cùng một hàng dài các bà trong đội tế, đảm nhiệm việc bưng đồ lễ. Đi sau là bốn thanh niên mặc áo nâu đỏ, viền xanh, nẹp vàng, thắt lưng bó que, khiêng chóe bằng đòn cổ truyền được sơn son. Chóe làm bằng sứ Bát Tràng, tạo dáng theo kiểu chóe cổ Trung Hoa, miệng chóe được phủ khăn đỏ trước khi đậy nắp. Hai bên chóe có hai thanh niên cầm lọng che.
Tiếp đó là các thiếu nữ mặc quần trắng, áo dài nhiều màu, mang đồ lỗ bộ và bát bửu bằng gỗ, hộ giá cho kiệu long đình, còn được gọi là kiệu vật cống, và kiệu Mẫu, người địa phương gọi là kiệu võng. Đoàn múa rồng dưới sự điều khiển của ông Địa cầm quả cầu lúc lượn lên để dẹp đường, lúc lộn xuống để hộ tống và tạo thêm không khí vui tươi cho đám rước.
Toàn thể dân làng và khách thập phương tham dự hội cùng hòa vào đoàn rước. Âm thanh và màu sắc dường như được nhân lên, niềm vui và sự phấn khích lan truyền từ người này sang người khác. Tuy đông người nhưng đoàn rước không trở nên hỗn độn, rời rạc. Những người tham gia dần trở thành một cộng đồng gắn bó trong cùng một niềm cộng cảm với nhau và với không gian đất trời rộng lớn.
Khi đoàn rước ra đến bến sông, dưới làn mưa bụi, mặt sông dường như rộng hơn. Những con thuyền đã được chuẩn bị sẵn sàng cho nghi lễ, vừa bảo đảm sự tươm tất vừa đáp ứng yêu cầu an toàn. Hai chiếc kiệu cùng đồ lỗ bộ và bát bửu được để lại trên bờ. Các đồ lễ của làng được đưa xuống một chiếc thuyền lớn. Tại mui thuyền, người ta dựng hương án và sắp xếp lễ vật. Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, một ban thờ với đầy đủ hương, đăng, trà, quả, thực và đồ mã cấp thủy được chuẩn bị hoàn chỉnh. Đây là chiếc thuyền dành riêng cho ông đồng hành lễ trên sông.
Đối diện ban thờ, gần đầu thuyền và phía sau ban lễ, cây nêu được dựng thẳng đứng. Chiếc thuyền lễ và thuyền rước nước được ghép hai mạn vào nhau. Trên thuyền rước nước có chóe nước và một mâm lễ nhỏ. Phường bát âm theo thuyền lễ, tấu nhạc phục vụ nghi lễ. Một ông thầy cúng, còn gọi là pháp sư, cũng có mặt để cùng ông đồng thực hiện nghi thức xin nước. Mặc dù ông đồng có thể đảm nhiệm việc hành lễ, đây là nghi lễ có ý nghĩa tinh thần rất lớn đối với dân làng nên họ mời thêm thầy cúng. Theo cách thực hành tại lễ hội, thầy cúng thay mặt dân làng “mời” Thánh về, còn ông đồng “hầu chuyện” Ngài.
Sau đó, đoàn thuyền từ từ rời bến. Mặt sông bắt đầu xao động trong màn mưa bụi hòa cùng làn khói hương. Con thuyền dường như vượt qua không gian trần thế để tiến vào một miền thiêng.
Thuyền múa rồng gồm bốn chiếc thuyền nhỏ ghép nối đuôi nhau để tạo thành chiều dài của con rồng. Đoàn thuyền xuất phát trước, lượn một vòng theo chiều ngược kim đồng hồ rồi mới tiến ra giữa dòng. Trong quá trình di chuyển, rồng vừa đi vừa múa lượn mềm mại, uyển chuyển. Giữa không gian trời, mây và nước vừa trải rộng vừa hòa quyện trong ngày đầu xuân, hình ảnh con rồng trở nên sống động như một linh vật hiện hữu trước mắt cộng đồng, như đang vờn mây và nhả gió.
Theo lời ông đồng, điệu múa rồng trên sông từ xưa đến nay vẫn được duy trì với ý nghĩa cầu mưa thuận gió hòa và cầu may mắn. Khi đến địa điểm đã định, thuyền rẽ vào phía gần bãi bồi. Người ta xác định vị trí lấy nước bằng cách cắm cây sào xuống sông. Nếu cây sào đứng được, không bị dòng nước xô nghiêng thì thuyền dừng lại để tiến hành lấy nước. Nước ở khu vực này được cho là trong và thanh sạch, vì vậy không lấy nước ở phía bờ lở do nước thường đục.
Khi nghi lễ bắt đầu, các thuyền của tín đồ áp sát thuyền chính. Nhiều thuyền nhỏ của các gia đình cũng chở lễ vật và nhập vào đoàn thuyền chung của làng. Tiếng trống, sênh, mõ và nhạc hòa quyện, tạo nên không khí náo động như nhịp điệu đồng hành cùng sự vận động của bầu trời và mặt nước. Lòng thành kính thể hiện trên từng khuôn mặt. Người già và trẻ nhỏ đều như hòa vào cảnh vật xung quanh, chìm trong thế giới tâm tưởng với những ước vọng gửi gắm qua lời cầu khẩn.
Trong lúc đó, thuyền múa rồng tiếp tục lượn quanh các thuyền lễ. Gần hết một tuần hương, người ta bắt đầu thả xuống sông những đồ vàng mã nhỏ như tiền âm phủ, vàng thỏi, với ý nghĩa ban phát cho chúng sinh chìm nổi hoặc các cô hồn để không “quấy phá cuộc lễ”. Có người còn thả cả tiền thật xuống sông. Sau đó, thầy cúng cùng ông đồng bắt đầu khấn xin nước của Hà Bá, vị thần được quan niệm là trực tiếp cai quản khúc sông này.
Sau lời khấn, vàng mã gồm tiền, vàng, mũ, hia của Ngài và phụ tá cùng một phần đồ lễ được thả xuống sông. Việc thả đồ lễ xuống sông tại đền Dầm không phải là một thực hành mới mà được xem là sự phục hồi một nghi lễ có từ xa xưa. Theo lời kể, trước đây lợn làm cống vật cho Hà Bá không cần luộc hoặc quay mà chọn một con lợn khoảng 30 kg, làm lông sạch sẽ, để sống rồi thả xuống sông. Đây được hiểu như một hình thức hiến tế thủy thần. Hiện nay, mỗi loại đồ lễ chỉ được thả một phần xuống sông, chẳng hạn lợn quay chỉ thả đầu và đuôi, phần còn lại được mang về để xin lộc.
Trong không khí thành kính đó, từ thuyền nước chuyển lên cho ông đồng một vòng tròn màu đỏ, rỗng ở giữa, đường kính khoảng 60 cm. Ông đồng cầm một bó hương lớn, khua nhiều vòng quanh vòng tròn để diệt tà khí. Đây là nghi lễ sái tịnh. Đồng thời, ông đồng hầu giá Quan lớn Bơ Phủ nên động tác trở nên dứt khoát, oai nghiêm và hùng dũng như một vị tướng. Do không có cung văn nên hình thức này còn được gọi là hầu vo.
Thời gian thần giáng không kéo dài nhưng đủ để những người có mặt trên thuyền cảm nhận sự hiện diện và oai linh của thần. Không khí trở nên càng linh thiêng qua những tiếng ra oai của thần được thể hiện qua lời nói của ông đồng. Sau đó, cụ già đi theo kiệu nước thả vòng tròn xuống mặt sông. Nước được múc bằng một chiếc gáo đồng từ bên trong vòng tròn, sau đó đổ qua một lớp vải đỏ vào chóe. Người dân địa phương quan niệm rằng nước trong vòng tròn luôn trong sạch dù dòng sông xung quanh có thể đang đục đỏ. Nước được lọc qua tấm vải đỏ càng được xem là tinh khiết và thiêng liêng bởi đã hội tụ khí âm và khí dương.
Khi chóe đã đầy nước, các thuyền tản ra và quay mũi trở về bến. Riêng thuyền nước và thuyền ông đồng đền rẽ mũi sang bên trái rồi mới quay về bến cũ. Ý nghĩa của hành động này có thể đã thất truyền, nhưng theo nhận xét của người khảo sát, việc quay mũi sang trái rồi mới lộn về vẫn có thể xem là dấu vết mờ nhạt của tục thờ Mặt Trời, thể hiện qua hướng vận động ngược chiều kim đồng hồ.
Trên bờ, đông đảo người dân đang nóng lòng chờ đợi. Niềm vui và sự phấn khởi thể hiện rõ trên khuôn mặt mọi người. Họ tin rằng dòng nước thiêng do thần linh ban xuống sẽ mang đến sự ấm no, thịnh vượng và may mắn, đồng thời giúp tẩy rửa những điều rủi ro, xui xẻo. Niềm tin ấy đem lại cho cộng đồng sự yên tâm và thanh thản khi bước vào một vòng quay thời gian mới, cũng là một chu kỳ sản xuất mới.
Chóe nước được đưa lên bờ một cách cẩn trọng. Đoàn rước lại tưng bừng trống giong, cờ mở, trở về đền. Khi về đến đền, chóe nước được đưa vào hậu cung. Những người khiêng nước sau khi đặt chóe đúng vị trí tiến hành lễ thần, còn các kiệu được đưa vào tiền bái. Ngoài sân, không khí lại trở nên náo nhiệt với các hoạt động múa rồng, múa “con đĩ đánh bồng” và múa sênh tiền. Những trò diễn này vừa tạo không khí vui tươi, vừa mang ý nghĩa chào mừng Thánh Mẫu hồi cung.
Bên cạnh đó còn có nhiều trò chơi như chọi gà, kéo co, kéo chữ, cờ người, tổ tôm điếm… Theo lời kể của các bô lão địa phương, chọi gà và kéo co là những trò đã có từ lâu đời. Qua lời kể, chọi gà có thể được liên hệ với tục thờ Mặt Trời, bởi quan niệm “Chim (hay gà trắng) đều là biểu tượng Mặt trời – núi”, còn việc chọi gà thể hiện sự vận động của Mặt Trời. Tuy nhiên, cách lý giải này vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu. Kéo co là trò chơi phổ biến ở nhiều địa phương trong vùng. Tại đền Dầm, người ta sử dụng dây chão để kéo, do đó trò kéo co cũng được liên hệ với nghi lễ cầu mưa. Một số nhà nghiên cứu cho rằng động tác kéo co biểu hiện sự vận động của con rắn, trong đó người tham gia ôm lấy con rắn để cầu phúc, với nguồn gốc gắn với nước.
Các trò như kéo chữ, cờ người, tổ tôm điếm, hát quan họ và một số hình thức vui chơi hiện đại khác mới được hội nhập từ những nơi khác trong thời gian gần đây. Đối với những trò chơi này, hiện chưa xác định được ý nghĩa khởi nguyên. Tối cùng ngày, làng tiến hành lễ dâng văn thờ. Ông đồng quỳ trước bàn thờ và kể lại sự tích của Mẫu bằng điệu hát văn, sau đó làm lễ tế. Đến đêm mới tiến hành lễ mộc dục.
Ngày mồng 6 tháng Hai diễn ra lễ rước sắc, tức rước các sắc phong của Mẫu từ đền vào trình tại đình. Ngày mồng 7 là lễ rước cỗ chay dâng lên Mẫu. Các lễ rước này chủ yếu có dân làng tham dự, không có đông khách thập phương. Đến ngày mồng 10 tháng Hai, đền làm lễ tạ hội, hay còn gọi là giã hội. Tuy nhiên, cho đến hết tháng Hai, khách thập phương vẫn tiếp tục đến lễ tại đền khá đông vui.

Nguồn ảnh: sưu tầm 

Tài liệu tham khảo 

  1. Lê Trung Vũ (2011), Hội làng Thăng Long – Hà Nội, tập 2, Nxb Thanh Niên.
  2. Vũ Cường (2026), “Cụm di tích đền Đại Lộ – đền Dầm: Dấu ấn thiêng của Đạo Mẫu”, đăng ngày 17/03/2026, https://hongvan.hanoi.gov.vn/van-hoa-xa-hoi-65012/cum-di-tich-den-dai-lo-den-dam-dau-an-thieng-cua-dao-mau-2709260318100120738.htm
Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Hội đền Dầm (3)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)