Tên di sản: Lễ hội đền Lăng Sương
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Đền Lăng Sương, xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ (địa danh theo tư liệu); khu Lăng, giếng Thiên Thanh và bến sông Đà.
Thời gian tổ chức: Hai kỳ lễ hằng năm, vào ngày 15 tháng Giêng và ngày 25 tháng Mười âm lịch; kỳ lễ tháng Giêng diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16.
Đối tượng thờ phụng: Tản Viên Sơn Thánh (Nguyễn Tuấn), thân phụ Nguyễn Cao Hành, thân mẫu Đinh Thị Đen, dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn, Ngọc Hoa công chúa và hai vị Cao Sơn, Quý Minh.
Cộng đồng thực hành: Nhân dân địa phương, các giáp, dòng họ và những làng kết nước có tục thờ Tản Viên Sơn Thánh.
Nghi lễ đặc trưng: Cáo tế, rước kiệu đón Thánh, chạy cờ, rước nước sông Đà, ngự dội, tế Thánh Mẫu, lễ đón Thánh Tản về báo hiếu và lễ yên vị.
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3325/QĐ-BVHTTDL ngày 04/9/2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Đền Lăng Sương, còn gọi là đền Mẫu, được xem là một địa điểm quan trọng trong hệ thống di tích thờ Tản Viên Sơn Thánh. Theo Ngọc phả và truyền thuyết địa phương, đền có nguồn gốc từ thời Thục An Dương Vương và được chính thức khởi dựng dưới thời Tiền Lê (981–1009). Không chỉ thờ Đức Thánh Tản Viên, nơi đây còn thờ các thành viên trong gia đình Ngài, gắn với những truyền tích về sự ra đời, trưởng thành và công đức của vị thần đứng đầu trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Hai kỳ lễ hội hằng năm là dịp cộng đồng tưởng nhớ Thánh Tản, Thánh Mẫu và duy trì những nghi thức gắn với vùng đất Lăng Sương bên dòng sông Đà.
Đền Lăng Sương và tín ngưỡng thờ Tản Viên Sơn Thánh
Tản Viên Sơn Thánh, còn gọi là Sơn Tinh, là nhân vật nổi tiếng trong truyền thuyết thời Hùng Vương, được nhân dân tôn kính vì những công lao trị thủy, khai phá đất đai, hướng dẫn sản xuất và bảo vệ cuộc sống cộng đồng. Trong truyền thuyết, Ngài là con rể vua Hùng thứ mười tám, kết duyên với Ngọc Hoa công chúa và cùng Cao Sơn, Quý Minh lập nhiều công tích. Hình tượng Tản Viên vừa mang dáng dấp của một vị anh hùng văn hóa, vừa thể hiện sức mạnh chế ngự thiên nhiên của cư dân nông nghiệp. Ngài được tôn là vị thần đứng đầu trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Khác với nhiều nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh, đền Lăng Sương được cộng đồng coi là nơi thờ gốc, gắn với quê hương và gia đình của Đức Thánh. Bên cạnh Tản Viên, đền còn thờ cha là Nguyễn Cao Hành, mẹ là Đinh Thị Đen, dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn, Ngọc Hoa công chúa và hai vị Cao Sơn, Quý Minh. Sự hiện diện của các nhân vật này tạo nên một không gian thờ phụng mang tính gia đình, trong đó những nghi lễ tưởng nhớ ngày sinh và ngày hóa của Thánh Mẫu giữ vị trí đặc biệt.
Truyền thuyết về sự ra đời của Đức Thánh Tản Viên
Theo truyền thuyết tại Lăng Sương, ông Nguyễn Cao Hành và bà Đinh Thị Đen kết duyên khi tuổi đã cao nhưng chưa có con. Một hôm, bà Đinh Thị Đen nhìn thấy rồng vàng sà xuống giếng, hút nước, nhả ngọc và phun châu. Sau khi lấy nước về tắm gội, bà cảm thấy thân thể nhẹ nhõm, thơm tho rồi mang thai. Trải qua mười bốn tháng thai nghén, bà sinh người con trai đặt tên là Nguyễn Tuấn, về sau được tôn là Tản Viên Sơn Thánh.
Quần thể đền Lăng Sương còn lưu giữ những địa điểm và hiện vật gắn với truyền tích này. Đá Quỳ bên giếng Thiên Thanh được cho là nơi Thánh Mẫu quỳ khi sinh Thánh Tản, trên đá có những dấu vết được dân gian giải thích là dấu bàn tay, bàn chân và đầu gối của bà. Nhà Võng gắn với câu chuyện Thánh Mẫu trở dạ trên võng điều, còn đá chẹn bụng và đôi sọt gợi lại những tình tiết trong truyền thuyết sinh nở. Những dấu tích ấy tạo thành một hệ thống địa điểm thiêng, giúp cộng đồng hình dung và kể lại câu chuyện về sự ra đời của Đức Thánh.
Theo một truyền thuyết khác, Nguyễn Tuấn được dưỡng mẫu Ma Thị đưa sang núi Tản Viên học đạo. Khi trưởng thành, Ngài cùng Cao Sơn và Quý Minh giúp vua Hùng đánh giặc, sau đó kết duyên với Ngọc Hoa công chúa. Những câu chuyện về việc Tản Viên chống lũ lụt, đắp đê, khai phá đất đai và bảo vệ nhân dân đã trở thành nền tảng cho tín ngưỡng thờ Ngài ở nhiều địa phương.
Hai kỳ lễ trong năm
Lễ hội đền Lăng Sương được tổ chức vào hai thời điểm chính trong năm. Ngày 15 tháng Giêng âm lịch được coi là ngày sinh Đức Thánh Tản Viên, còn ngày 25 tháng Mười âm lịch là ngày hóa của Thánh Mẫu Đinh Thị Đen. Mỗi kỳ lễ có những nghi thức riêng nhưng đều gắn với việc đón Đức Thánh từ núi Tản trở về Lăng Sương.
Kỳ lễ tháng Giêng diễn ra trong ba ngày, từ ngày 14 đến ngày 16, với các nghi thức cáo tế, rước kiệu, đón Thánh, tế chính và yên vị. Kỳ lễ tháng Mười tập trung vào việc tưởng nhớ Thánh Mẫu, nổi bật với lễ rước nước sông Đà, ngự dội và cuộc rước đón Đức Thánh về báo hiếu mẹ. Cả hai kỳ lễ đều thu hút nhân dân địa phương, các làng có quan hệ tín ngưỡng với đền và du khách thập phương về dâng hương.
Lễ cáo tế và chuẩn bị hội tháng Giêng
Từ những ngày đầu năm, các gia đình, dòng họ và các giáp trong làng đã chuẩn bị lễ vật, cỗ bàn, trang phục, mũ mão cùng những vật dụng cần thiết cho lễ hội. Công việc được phân chia để bảo đảm các nghi thức diễn ra trang trọng và đúng lệ truyền thống. Không khí chuẩn bị hội vì thế hiện diện trong đời sống cộng đồng từ trước ngày chính lễ.
Sáng ngày 14 tháng Giêng, cụ từ mở cửa đền và tiến hành lễ cáo tế, trình với các vị thần về việc tổ chức lễ hội, xin phép mở hội. Đây là nghi thức mở đầu cho chuỗi hoạt động tế lễ và rước kiệu trong những ngày tiếp theo.
Rước kiệu ra sông Đà đón Đức Thánh
Sáng ngày 15 tháng Giêng, sau các nghi thức tại đền, nhân dân tổ chức đoàn rước từ đền Lăng Sương ra bờ sông Đà để đón Đức Thánh Tản Viên và dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn từ phía núi Tản về dự hội. Theo tư liệu, đoàn rước có ba kiệu bát cống, lần lượt rước lư hương, nải quả và nước lấy từ sông Đà. Đoàn đi qua khu Lăng, nơi tương truyền Đức Thánh thường dừng nghỉ mỗi khi từ núi Ngọc Tản trở về, rồi tiến đến khu vực bến đò Trung Nghĩa.
Một chi tiết nổi bật trên đường rước là nghi thức chạy cờ. Cứ khoảng 50m, đoàn rước lại dừng để thực hiện động tác chạy cờ, diễn lại tích Tản Viên luyện quân đánh trận. Tiếng trống, tiếng chiêng và đội hình cờ hội tạo nên không khí sôi nổi nhưng vẫn giữ sự trang nghiêm của cuộc rước Thánh.
Khi đến gần bờ sông, chủ tế đứng trước hương án làm lễ bái vọng và đọc bài cúng mời Đức Thánh Tản Viên cùng dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn về dự hội. Sau nghi thức nghinh đón, đoàn rước trở lại đền để thực hiện lễ tế chính. Tục rước nước sông Đà trong kỳ hội cũng phản ánh vị trí quan trọng của nước trong đời sống tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp.
Lễ tế chính và yên vị
Sau khi đoàn rước trở về, dân làng tổ chức lễ tế tại đền Lăng Sương để tưởng nhớ ngày sinh và công đức của Tản Viên Sơn Thánh. Các lễ vật do cộng đồng chuẩn bị được dâng lên với mong ước Đức Thánh phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, gia đình bình an và cuộc sống no đủ. Đây là nghi lễ trung tâm của kỳ hội tháng Giêng, tiếp nối cuộc rước đón Thánh từ sông Đà về đền.
Chiều ngày 16 tháng Giêng, lễ yên vị được tiến hành, khép lại kỳ hội chính. Trình tự từ cáo tế, rước đón đến tế chính và yên vị tạo thành một chuỗi nghi lễ hoàn chỉnh, gắn với quan niệm Đức Thánh trở về quê hương dự hội cùng dân làng.
Rước nước sông Đà và lễ ngự dội tháng Mười
Kỳ lễ ngày 25 tháng Mười âm lịch được tổ chức để tưởng nhớ ngày hóa của Thánh Mẫu Đinh Thị Đen. Từ sáng ngày 24, dân làng tiến hành lễ rước nước từ sông Đà về đền. Đoàn rước đi đến bờ sông, các quan viên, ông từ và chủ tế xuống thuyền ra giữa dòng lấy nước, sau đó đưa nước về đền phục vụ nghi lễ.
Khi đoàn rước trở về, trai làng sử dụng nước giếng Thiên Thanh để thực hiện lễ ngự dội. Giếng Thiên Thanh vốn gắn với truyền thuyết về sự ra đời của Đức Thánh, vì vậy nước giếng mang ý nghĩa đặc biệt trong không gian tín ngưỡng Lăng Sương. Sự hiện diện của nước sông Đà và nước giếng Thiên Thanh trong cùng một kỳ lễ cho thấy mối liên hệ giữa cảnh quan sông nước, truyền thuyết Thánh Mẫu và thực hành nghi lễ của cộng đồng.
Lễ tế Thánh Mẫu và tục dâng bò
Đêm ngày 24 tháng Mười, dân làng tổ chức lễ tế Thánh Mẫu. Lễ vật theo truyền thống gồm thủ lợn phủ mỡ chài, đu đủ xanh, chuối, gà rừng và xôi nếp nương. Những sản vật này được chuẩn bị để dâng lên Thánh Mẫu, thể hiện lòng thành kính của cộng đồng đối với người mẹ sinh ra Đức Thánh Tản Viên.
Ngày giỗ Thánh Mẫu còn gắn với truyền tích về gò Đống Bò, cách đền chính hơn 500m, nằm giữa cánh đồng Đầm Đành. Tương truyền, cứ đến ngày 24 tháng Mười âm lịch, có một con bò lớn không rõ từ đâu xuất hiện để dân làng làm thịt, chia cho hai giáp Đông và Tây mang về chuẩn bị cỗ dâng cúng Thánh Mẫu vào ngày hôm sau. Tục dâng bò trong kỳ lễ được cộng đồng giải thích bằng câu chuyện này và tiếp tục gắn với nghi thức đón Đức Thánh về báo hiếu mẹ.
Rước Đức Thánh Tản Viên về báo hiếu Mẫu thân
Sáng ngày 25 tháng Mười, dân làng tổ chức rước kiệu từ đền Lăng Sương ra khu Lăng bên bờ sông Đà để đón Đức Thánh Tản Viên từ núi Ba Vì trở về báo hiếu mẹ. Đến khu Lăng, đoàn dừng kiệu và làm lễ tế với lễ vật đặc biệt là một con bò thui nguyên con.
Tại đây, chủ tế đọc bài tế mời Đức Thánh trở về dự lễ giỗ Thánh Mẫu. Theo quan niệm dân gian, khi gió nổi lên làm cờ hội tung bay, dân làng tin rằng Đức Thánh đã từ núi Tản trở về. Đoàn rước sau đó quay lại đền Lăng Sương, tiếp tục các nghi thức tưởng nhớ Thánh Mẫu.
Điểm đặc biệt của cuộc rước này là ý nghĩa báo hiếu. Nếu kỳ hội tháng Giêng đón Đức Thánh về quê hương nhân ngày sinh, thì kỳ hội tháng Mười lại đón Ngài về dự ngày giỗ mẹ. Hai cuộc rước cùng hướng ra sông Đà nhưng mang hai nội dung tưởng niệm khác nhau, tạo nên nét riêng trong tín ngưỡng thờ Tản Viên tại Lăng Sương.
Phần hội và sinh hoạt cộng đồng
Sau các nghi thức tế lễ, phần hội diễn ra với nhiều trò chơi dân gian truyền thống như đấu vật, chọi gà, tổ tôm, ném còn, kéo co, đu tiên, cờ người và hát đúm. Các hoạt động được tổ chức trong không khí vui tươi, thu hút nhân dân địa phương cùng khách thập phương tham gia. Tiếng trống, tiếng chiêng và những cuộc vui tạo nên diện mạo rộn ràng của ngày hội.
Lễ hội còn là dịp những người con xa quê trở về, các gia đình, dòng họ và các giáp cùng tham gia chuẩn bị lễ vật, tổ chức tế lễ và duy trì những phong tục được trao truyền qua nhiều thế hệ. Trong kỳ giỗ Thánh Mẫu, sự tham gia của các làng kết nước có tục thờ Tản Viên cũng cho thấy mối liên hệ tín ngưỡng giữa Lăng Sương với các cộng đồng trong vùng.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị tín ngưỡng: Lễ hội phản ánh sự tôn kính của cộng đồng đối với Tản Viên Sơn Thánh và các thành viên trong gia đình Đức Thánh. Việc thờ phụng thân phụ, thân mẫu, dưỡng mẫu, Ngọc Hoa công chúa cùng Cao Sơn, Quý Minh tạo nên đặc điểm riêng của đền Lăng Sương trong hệ thống di tích thờ Tản Viên.
Giá trị lịch sử – truyền thuyết: Những địa điểm như giếng Thiên Thanh, đá Quỳ, nhà Võng, khu Lăng và gò Đống Bò đều gắn với các câu chuyện về sự ra đời, trưởng thành và gia đình Đức Thánh. Các truyền tích không chỉ được kể lại mà còn tiếp tục hiện diện trong nghi thức tế lễ, rước kiệu và dâng lễ vật.
Giá trị của nghi lễ nước: Từ cuộc rước ra sông Đà đón Thánh trong hội tháng Giêng đến lễ rước nước và ngự dội tháng Mười, nước là yếu tố xuyên suốt các thực hành nghi lễ. Nước sông Đà và nước giếng Thiên Thanh gắn với cảnh quan tự nhiên, truyền thuyết sinh Thánh và tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp.
Giá trị đạo lý – nhân văn: Nét nổi bật của lễ hội là việc tổ chức hai kỳ lễ gắn với ngày sinh Đức Thánh và ngày hóa Thánh Mẫu. Đặc biệt, nghi thức đón Tản Viên từ núi Ba Vì về dự giỗ mẹ thể hiện đạo lý hiếu kính, được cộng đồng cụ thể hóa bằng một cuộc rước và lễ tế trang trọng.
Giá trị cộng đồng: Lễ hội có sự tham gia của các gia đình, dòng họ, các giáp, những người đảm nhiệm nghi lễ và các làng kết nước. Việc cùng chuẩn bị cỗ lễ, rước kiệu, tế Thánh và tổ chức phần hội góp phần duy trì quan hệ gắn bó giữa các cộng đồng dân cư.
Giá trị văn hóa vùng: Lễ hội kết nối đền Lăng Sương, núi Tản Viên, sông Đà và những địa điểm gắn với truyền thuyết Thánh Tản trong một không gian văn hóa thống nhất. Các nghi thức chạy cờ, rước nước, ngự dội, dâng bò và đón Thánh về báo hiếu tạo nên bản sắc riêng của lễ hội vùng núi Tản, sông Đà.
Điểm đặc biệt nhất của Lễ hội đền Lăng Sương nằm ở hai cuộc rước cùng hướng về dòng sông Đà nhưng mang những ý nghĩa khác nhau. Trong hội tháng Giêng, đoàn rước với ba kiệu bát cống đi qua khu Lăng, thực hiện nghi thức chạy cờ mô phỏng việc luyện quân và ra bến sông để đón Đức Thánh cùng dưỡng mẫu về dự ngày sinh. Đến hội tháng Mười, cộng đồng lại rước nước sông Đà, làm lễ ngự dội bằng nước giếng Thiên Thanh, rồi rước kiệu ra khu Lăng với lễ vật bò thui nguyên con để đón Đức Thánh từ núi Tản trở về báo hiếu Mẫu thân. Những nghi thức ấy gắn kết truyền thuyết về sự ra đời của Tản Viên, tín ngưỡng thờ Thánh và đạo lý hiếu kính trong cùng một không gian lễ hội. Với những giá trị tiêu biểu đó, Lễ hội đền Lăng Sương được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3325/QĐ-BVHTTDL ngày 04/9/2018.
Nguồn ảnh: Sưu tầm

