Tên di sản: Lễ hội đền Lộng Khê
Tên gọi khác: Hội đền Lộng Khê
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Đền Lộng Khê và làng Lộng Khê, xã A Sào, tỉnh Hưng Yên; trước đây thuộc xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Thời gian tổ chức: Từ ngày 22 đến ngày 25 tháng Ba âm lịch hằng năm; theo lệ hội được các tư liệu trước đây ghi tập trung từ ngày 23 đến 25 tháng Ba
Đối tượng thờ phụng: Quốc sư, Thái úy Lý Thường Kiệt và Đức Thánh Trần Hưng Đạo
Cộng đồng thực hành: Cộng đồng cư dân làng Lộng Khê và các thôn trong địa phương
Nghi thức, hoạt động đặc trưng: Rước nước, rước kinh, tế mở cửa đền, múa Bát Dật, làm – rước – dựng và đốt cây đình liệu, rước đuốc quanh làng
Ghi danh: Lễ hội đền Lộng Khê được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017.
Làng Lộng Khê và ngôi đền cổ
Lộng Khê có tên nôm là làng Nhống, là một làng cổ được hình thành cách đây hơn 1.000 năm. Vào thời Lý, cùng với Đào Động, Tô Đê và A Sào, Lộng Khê được coi là một trong “tứ cố cảnh” của vùng Phụ Dực, sau thuộc huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Đền Lộng Khê được xây dựng từ thời Nguyễn, là nơi thờ các nhân vật được cộng đồng tôn kính gồm Quốc sư, Thái úy Lý Thường Kiệt và Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Hằng năm, người dân tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân, đồng thời cầu mong cuộc sống bình an, mùa màng tốt tươi.
Năm 1990, đền Lộng Khê được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Không gian ngôi đền cùng những nghi thức được cộng đồng duy trì qua nhiều thế hệ trở thành trung tâm của lễ hội truyền thống Lộng Khê.
Các nghi lễ trong lễ hội
Lễ hội đền Lộng Khê diễn ra vào cuối tháng Ba âm lịch với nhiều nghi thức truyền thống như lễ rước nước, rước kinh, tế mở cửa đền, dâng hương và các hoạt động hội.
Trước khi dựng cây đình liệu, người dân làm lễ dâng hương, bái thần linh. Những nghi thức này vừa thể hiện lòng thành kính đối với các vị được thờ phụng, vừa mở đầu cho chuỗi hoạt động cộng đồng của lễ hội.
Trong số những thực hành còn được bảo lưu, nổi bật nhất là múa Bát Dật và tục đốt cây đình liệu. Đây cũng là hai yếu tố tạo nên nét riêng của lễ hội Lộng Khê so với nhiều lễ hội truyền thống khác ở vùng châu thổ Bắc Bộ.
Múa Bát Dật
Múa Bát Dật vốn mang dấu ấn của múa cung đình. Tại lễ hội đền Lộng Khê, điệu múa được các tư liệu giới thiệu là điệu múa Bài Bông thời Trần, được sắp xếp lại theo nhịp phách hát ả đào và những bài chúc tụng cổ.
Nội dung các bài múa ca ngợi chiến thắng, ca ngợi cuộc sống thanh bình, đồng thời chứa đựng nhiều động tác gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp của cư dân.
Điệu múa gồm nhiều lớp như múa lễ thánh, múa hoa hồi, múa bát môn, múa quay tơ, múa bổ đồn, múa tiên, múa xoáy ốc… Sự kết hợp giữa âm nhạc, lời chúc tụng và các động tác múa khiến Bát Dật vừa mang tính nghi lễ, vừa phản ánh đời sống văn hóa của cộng đồng nông nghiệp địa phương.
Cây đình liệu khổng lồ
Điểm đặc biệt nhất của lễ hội là tục làm và đốt cây đình liệu khổng lồ.
Mỗi năm, việc chuẩn bị cây đình liệu được giao cho một thôn trong địa phương. Người dân sử dụng tre, nứa và củi, bó bện từng lớp thành một cây đuốc lớn. Cây có đường kính phần gốc khoảng 1,2–1,5m, cao khoảng 15–18m; theo tư liệu về những kỳ hội gần đây, cây có thể nặng khoảng 8–9 tấn.
Bên ngoài cây được sơn đỏ. Phần ngọn được tạo thành hình đài sen, tẩm dầu và bố trí dây dẫn lửa xuống phía dưới. Việc bó cây thường được tiến hành nhiều ngày trước hội, đòi hỏi sự phối hợp của đông đảo người dân.
Sáng ngày 18 tháng Ba âm lịch, cây đình liệu được rước ra khu vực đền. Những thanh niên khỏe mạnh trong làng cùng hợp sức kéo và dựng cây thẳng đứng giữa ao đền. Trước khi dựng, dân làng dâng hương, bái thần linh rồi mới tiến hành nghi thức.
Đêm đốt đình liệu
Trong quan niệm của cộng đồng, cây đình liệu mang ý nghĩa biểu trưng cho sự kết nối giữa trời và đất, giữa con người với thần linh.
Đến đêm chính hội, lửa thiêng được châm vào cây. Ngọn lửa theo đường dẫn bắt lên phần đài sen rồi lan xuống thân, biến cây đình liệu thành một bó đuốc khổng lồ cháy sáng giữa không gian lễ hội.
Trong lúc cây đình liệu cháy, các trai đinh rước đuốc quanh làng. Ánh lửa, tiếng trống và đoàn người dự hội tạo nên cảnh tượng đặc trưng của đêm hội Lộng Khê.
Tục đốt đình liệu gửi gắm ước vọng mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi, mùa màng bội thu, đồng thời cầu mong may mắn, hạnh phúc và cuộc sống sung túc cho dân làng trong năm mới.
Giá trị của Lễ hội đền Lộng Khê
Giá trị lịch sử: Lễ hội gắn với một cộng đồng làng cổ có lịch sử hơn 1.000 năm và với việc thờ phụng những nhân vật được người dân tôn kính như Thái úy Lý Thường Kiệt và Đức Thánh Trần Hưng Đạo.
Giá trị tín ngưỡng: Các nghi thức tế lễ, rước nước, rước kinh, lấy lửa và đốt đình liệu thể hiện niềm tin của cộng đồng vào sự che chở của thần linh, đồng thời gửi gắm ước vọng bình an, may mắn và no đủ.
Giá trị văn hóa nông nghiệp: Tục đốt cây đình liệu gắn với mong ước vạn vật sinh sôi, mùa màng bội thu; nhiều động tác trong múa Bát Dật cũng gắn với đời sống lao động của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Giá trị nghệ thuật trình diễn: Múa Bát Dật với nhiều lớp múa như lễ thánh, hoa hồi, bát môn, quay tơ, bổ đồn, múa tiên, xoáy ốc… lưu giữ những yếu tố nghệ thuật trình diễn truyền thống đặc sắc.
Giá trị nghi lễ: Việc chuẩn bị, rước, dựng và đốt cây đình liệu tạo thành một chuỗi thực hành nghi lễ riêng biệt, trong đó cây đình liệu được xem như biểu tượng kết nối trời – đất, con người – thần linh.
Giá trị cộng đồng: Quá trình làm cây đình liệu cần sự chung sức của nhiều người, từ việc chuẩn bị tre, củi, bó cây đến rước và dựng cây. Việc luân phiên giao cho các thôn đảm nhận góp phần huy động cộng đồng cùng tham gia gìn giữ lễ hội.
Giá trị trao truyền: Múa Bát Dật và tục đốt đình liệu vẫn được cộng đồng duy trì qua nhiều thế hệ, qua đó trao truyền những kỹ năng, nghi thức, tập quán và tri thức dân gian gắn với lễ hội.
Lễ hội đền Lộng Khê là một sinh hoạt văn hóa đặc sắc của cộng đồng cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi tín ngưỡng thờ thần, nghệ thuật trình diễn và những ước vọng của cư dân nông nghiệp hòa quyện trong cùng một không gian lễ hội. Đặc biệt, hình ảnh cây đình liệu cao hàng chục mét được cả cộng đồng chung sức rước, dựng rồi thắp sáng như một bó đuốc khổng lồ giữa đêm hội, cùng điệu múa Bát Dật được gìn giữ qua nhiều thế hệ, đã tạo nên bản sắc riêng của Lộng Khê. Qua lễ hội, người dân không chỉ tưởng nhớ các bậc tiền nhân mà còn gửi gắm ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống bình an và sung túc. Với những giá trị tiêu biểu đó, Lễ hội đền Lộng Khê được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017.
Nguồn ảnh: Sưu tầm

