Khái quát
Trong những năm đầu của thế kỷ XX tại Hà Nội, bên cạnh đền Trung Liệt thờ những bậc trung liệt bỏ mình vì Nước thì còn có một ngôi đền nguy nga đặt tên là Tống quận công Sinh Từ – nhằm thờ sống Nguyễn Hữu Độ. Do có ngôi đền này nên con đường đi vào phía Cửa Nam của thành Thăng Long, ở đoạn đình Văn Tân mới có tên là phố Sinh Từ, dù trước đó nhân dân quen gọi là phố Cây Bàng vì phố này có trồng nhiều cây bàng che bóng mát. Nhưng đấng mày râu này là ai mà dám dựng đền thờ lúc còn sống? Y là tay sai đắc lực của Toàn quyền De Courcy, do có công đàn áp phong trào kháng chiến nên được phong Kinh lược sứ quyền lực bao trùm cả đất Bắc.
Trong những ngày tết nhất hoặc sinh nhật của y, bọn quan lại xu nịnh các nơi võng lọng ngựa nghẽo ùn ùn đến chúc mừng đông vui như trẩy hội. Bọn trí thức nửa mùa thường đem văn hay chữ tốt đến ca ngợi “công đức” của y! Còn các bậc túc nho có tinh thần yêu nước thương dân thì không bao giờ táng tận lương tâm làm trò quái gở như thế, trong số này có cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Biết cụ là bậc đại khoa nên y đến xin ba chữ để ghi trên bức hoành phi lộng lẫy treo trong đền. Cực chẳng đã, cụ nhăn mặt, phóng tay viết tháo ba chữ “Sinh sự chi”- rút từ trong sách Luận ngữ “Sinh sự chi dĩ lễ”, nghĩa là lẽ thờ sống phải như vậy. Y mừng rơn đem về treo. Nhưng những người thâm nho khi nhìn thấy bức hoành phi này đều che miệng tủm tỉm cười, vì cụ Tam Nguyên lỡm thói huênh hoang, kệch cỡm “muốn lưu danh muôn thuở” ấy là một tiếng quát thẳng vào mặt y. Thật vậy, khi đọc theo âm tiếng Việt thì ta sẽ cảm nhận khác hẳn. Ai cũng hiểu cụ mắng “sinh sự chi” vậy? Oái oăm cho cái trò đời, sau khi y chết, chốn này vắng tanh như chùa Bà Đanh, không ai buồn lui tới nữa. Cái đền đài nguy nga tráng lệ ấy đã không cưỡng lại sự tàn phá của thời gian và của lòng người, nó trở nên hoang vắng tiêu điều. Trong bài thơ Vịnh Sinh Từ, cụ Tam Nguyên Yên Đổ mỉa mai:
Ông mất, mũ áo không họp nữa,
Lửa hương lạnh ngắt, lúa mọc đầy.
Ngày nay, phố Sinh Từ đã đổi tên là phố Nguyễn Khuyến và khi đi đến đó không còn ai nhớ đến đến cái tên Nguyễn Hữu Độ nữa. Vậy đó, khi sống có biết bao quyền lực trong tay, xây đền thờ sống mình rồi khi chết thì trở thành kẻ vô danh chìm mất trong cát bụi. Nhưng cũng trên phố này, có một người đàn bà bình thường khi sống không dựng đền cho mình, nhưng sau khi mất đi đã trở thành người hữu danh muôn thuở. Bà là người văn hay chữ tốt để lại nhiều áng văn bất hủ trong văn học sử hay là người cầm quân thao lược xông pha trận mạc đánh giặc Pháp? Không! Bà chỉ là một người phụ nữ bình dị để lại cho đời sau một tấm lòng nhân ái: làm việc thiện. Người đàn bà đó, có cái tên nôm na mà trong dân gian thường gọi thân mật và kính trọng là bà Cả Mọc.
Thân thế
Bà Cả Mọc tên thật là Hoàng Thị Uyển, người làng Mọc, nằm bên cạnh sông Tô Lịch (tên Nôm của làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì – Hà Nội). Bà sinh khoảng năm 1870, là con gái của cụ cử Hoàng Đạo Thành. Chắc chắn truyền thống của gia đình đã ảnh hưởng đến việc làm của bà sau này. Cụ Hoàng Đạo Thành, hiệu Cúc Lữ nguyên họ Cung, khi đi thi Hương đổi sang họ Hoàng. Cụ đậu cử nhân năm 1884 được bổ làm quan Tri phủ, nhưng sau đó từ quan về quê, cùng với các chí sĩ yêu nước hoạt động cho phong trào Duy Tân. Để đánh thức lòng yêu nước trong nhân dân, cụ viết những tác phẩm như Đại Nam hành nghĩa liệt nữ truyện, Việt sử tân ước toàn biên, Việt sử tứ sự. Còn ông Hoàng Đạo Thúy – em ruột của bà – là nhà giáo yêu nước và cũng là một trong những người tiên phong tổ chức phong trào Hướng đạo ở Việt Nam. Cháu ruột của bà là cô Hoàng Kim Oanh – con gái của ông Thúy – về sau là vợ của nhà bác học Tạ Quang Bửu. Thời trước, ở làng Mọc các bà con dâu cả đều gọi là bà Cả Mọc.
Để phân biệt bà với những bà khác, người ta còn gọi bà là bà Cả Vị – vì bà là vợ của ông Nguyễn Huy Vị, hiệu Hoành Tô, con trai một của cụ tú Nguyễn Đôn, người làng Mọc Hạ Đình. Chung sống với ông Vị được vài năm thì chồng mất, lúc hai người chưa có con. Không bao lâu, bố chồng cũng qua đời. Mọi việc trong gia đình chồng đặt trên hai vai của con dâu. Bà cụ Tú thương chồng tiếc con nên đâm ra quẫn trí, thường hành hạ làm khổ con dâu đủ điều. Chứng kiến cảnh này, sư cụ chùa Quan Nhân thương tình nên mới đem bà Cả Mọc về giấu nuôi trong chùa. Bấy giờ, bà mới xấp xỉ hai mươi xuân, nhiều người đến dặm hỏi, nhưng bà đều lắc đầu từ chối. Thế nhưng, khi vắng con dâu cả thì cụ bà lại thương nhớ đến phát cuồng, phát điên nên sư cụ lại đưa bà về nhà. Từ đó, bà Cả Mọc mới được mẹ chồng yêu thương như con đẻ. Hằng ngày, từ sáng tinh mơ, lúc gà chưa gáy sáng thì bà Cả Mọc đã thức dậy thổi cơm cho mẹ chồng, rồi quẩy gánh vội vã chạy theo người trong làng ra thành thị kiếm sống.
Cuộc đời
Tại phố Hàng Đào, bà làm tất tần tật mọi việc cho các gia đình buôn bán giàu có để kiếm đồng tiền đem về nuôi mẹ chồng. Bà siêng năng, cần mẫn, chịu thương chịu khó nên ai cũng thương. Đến khi bà cụ Tú vào ở hẳn trong chùa thì bà Cả Mọc mới dọn nhà lên thuê ở ngõ Miếu (Hàng Bạc). Có lần, một nhà thuốc lào ở chợ Đồng Xuân phát tài lớn, nhiều người đến xin tiền thì chủ nhà rộng lượng giúp đỡ. Bà cũng đến xin, nhưng chủ nhà chỉ cho đúng hai hào. Bà chê họ keo kiết nên giận bỏ về.
Đến tối, nằm nghĩ lại bà thấy mình có lỗi, người ta cho ít nhưng đó là cái “tâm”- lấy gì đo được cái tâm? Sáng hôm sau, bà trở lại hiệu thuốc xin lỗi người ta rồi xin nhận lại hai hào. Bà nghĩ, dù chỉ hai hào nhưng cũng giúp ích được cho những ai đang cơ nhỡ, nghèo đói. Do đó, bà càng quyết chí làm ăn, dù chỉ thu lợi một hào nhỏ. Nhờ chăm chỉ, tiết kiệm nên ít lâu sau bà cũng tích lũy được chút vốn và bà vay thêm bạn bè để mở cửa hàng nhỏ ở số 25 phố Hàng Đào. Không như những người khác buôn bán là nhằm kiếm lợi bằng bất cứ mọi giá, bà quan niệm chỉ lấy “nghĩa” làm “lợi” nên đặt cửa hiệu là “Nghĩa Lợi”. Nếu viết về lịch sử những ngôi nhà nổi tiếng của phố Hàng Đào đầu thế kỷ XX, ta không thể quên gia đình cụ Lương Văn Can, trụ sở của Đông Kinh Nghĩa Thục và cũng không thể không nhắc đến căn nhà của bà Cả Mọc. Tại đây, bà đã chứng minh nếu muốn làm giàu một cách chân chính, lâu bền thì dứt khoát phải… thật thà, không gian giảo, buôn một bán mười! Mới nghe qua ta thấy như nghịch lý nhưng sự thật là vậy.
Đối với bà Cả Mọc “tiền nào của nấy”, hàng hóa chất lượng như thế nào thì bà nói thật cho khách thế ấy, mua hay không là tùy họ. Bà không nói thêm để khách trả “hớ”. Nhờ thành thật như thế nên bà giữ được chân của khách và tạo nên uy tín trên thương trường. Thế nhưng, với cách làm ăn như thế này thì bà không thể giàu nhanh chóng được, mỗi lần kiểm sổ sách thì thấy vốn không vượt quá số 300 đồng. Dù sao, đối với một người buôn bán nhỏ thì đây cũng là số vốn kha khá. Nếu chỉ chí thú làm giàu thì số vốn này phải được tích lũy lại, nhưng bà Cả Mọc lại phát tán ra. Mỗi lần nghe tin ở đâu có lũ lụt thì trong bụng bà như có than hồng, bà như ngồi trên lửa. Từ sau năm 1923, hằng năm ở Nam Định, Thái Bình nếu xẩy các trận lụt khủng khiếp, bà đều gửi tiền cứu trợ.
Không dừng lại đó, bà nguyện với trời Phật nếu lúc nào có tiền của thì bà sẽ mở nhà nuôi dạy trẻ em mồ côi, nghèo thất học đang lang thang kiếm sống khắp các phố phường mà ngày nào bà cũng chứng kiến những cảnh thương tâm. Lúc bà Cả Mọc khoảng 60 xuân, năm 1930, thì bà mới thực hiện được ước nguyện của mình. Bà đến gặp ông Nguyễn Văn Vĩnh, chủ bút báo Trung Bắc Tân Văn để mời ông đứng ra lập Hội giúp trẻ em nghèo. Là một người cấp tiến, nhiều năm xông pha trên trường văn trận bút với ý hướng cải tạo xã hội nên ông Vĩnh hoàn toàn ủng hộ sáng kiến tốt đẹp này. Nhưng ông bảo:
– Tại sao bà không mạnh dạn làm? Đàn bà, phụ nữ ngày nay không chỉ quanh quẩn trong xó bếp mà họ còn biết đem lòng nhiệt thành đóng góp cho xã hội. Chúng tôi rất cảm kích trước hành động nghĩa hiệp của bà và bổn báo xin hứa sẽ hết sức cổ động cho phong trào.
Được sự động viên này, bà Cả Mọc quyết lòng đứng ra thành lập Hội như chí hướng của mình đã dự định. Bà mời các bạn hàng ở Hàng Đào, chị em buôn bán xa gần cùng tham gia. Người phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa đến nay vốn giàu lòng nhân ái nên khi nghe bà trình bày ý nguyện trên, kẻ ít người nhiều đã góp vốn thành lập Hội. Ít lâu sau, Hội Tế Sinh ra đời. Bà được chị em tiểu thương bầu làm Hội trưởng, bác sĩ Trần Văn Lai làm hội phó, nhà giáo Hoàng Đạo Thúy làm thư ký, còn vợ của ông Phạm Quỳnh – chủ báo Nam Phong – làm thủ quỹ.
Khu nhà của Hội Tế Sinh rộng 1.000 mét vuông ở Hàng Đũa, chia làm nhiều căn nhà nhỏ vây quanh bốn mặt, cổng đi vào có mái chồng ba tầng cong như mái chùa do kiến trúc sư Đào Huân vẽ kiểu và ông Thanh ở phố Hàng Đẫy thầu thi công xây dựng. Hôm khánh thành, ông Thanh tránh mặt vì ông có lòng giúp mọi chi phí về công thợ. Nhờ vào rất nhiều tấm lòng vàng như thế nên Hội Tế Sinh nhanh chóng hoạt động. Mục tiêu của Hội được thể hiện qua dòng chữ đắp nổi trước cổng: “Ấu nhân chi ấu” – với ý nghĩa đại đồng “yêu con mình, yêu cả con người”. Có thể xem đây là nhà gửi trẻ và cũng là nơi chăm sóc trẻ em mồ côi đầu tiên của Hà Nội dưới sự quản lý chung của bà Cả Mọc. Xúc động trước việc làm nghĩa hiệp này, anh em Hướng đạo sinh cũng đóng góp một phần công sức của mình cho Hội. Các ông Hoàng Đạo Thúy, Ngô Bích San, Phạm Lợi đã tổ chức tại đây “Trại trẻ và lớp mẫu giáo” lần thứ nhất của Hà Nội, rồi làm học cụ lẫn đồ chơi cho trẻ em. Ông Hoàng Đạo Thúy có kể lại: “Ban đầu nhận trẻ, đồng bào không hiểu ngay là nhà gửi trẻ, đem đến các em ốm yếu. Có bà bỏ con, chiều không đón về. Hội nhẫn nại nhận cả. Mãi sau cũng xây dựng được nếp: đón trẻ buổi sáng, cho trẻ em tắm, thay áo, cho ăn, rồi đến giường chơi và học. Chiều bố mẹ đến đón. Về sau, các em tự đến, tự về nếu nhà ở gần.
Mỗi ngày có đến hàng trăm trẻ đến. Lâu rồi quen đi, các gia đình đỡ bận, các cháu bé thành ngoan ngoãn. Người qua lại nhìn Hội Tế Sinh có cảm tình, nhiều khi tự động giúp đỡ. Nhiều khách đến thăm có cả người nước ngoài. Người ta bảo, cứ tưởng An Nam hủ lậu, mà nhà trẻ như thế này, ở Âu châu cũng ít có. Cái hay là các cụ, các bà, các cô hãnh diện vì Hội của mình, lo cho Hội như lo cho nhà. Ai thư thả được vài ngày cũng đến ở giúp Hội. Hội không xin trợ cấp một ai cả” (Tạp chí Xưa và Nay số tháng 8/1996). Điều thú vị là khu nhà của Hội Tế Sinh và nhân vật bà Cả Mọc đã lừng lững đi vào tác phẩm cuối cùng của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Thật lạ, một nhà văn luôn căm thù, bất mãn với xã hội nhố nhăng mà ông đang sống, từng ném ra những câu văn hằn học như tát vào mặt giới thượng lưu hợm hĩnh, từng cất tiếng cười khinh bỉ, đau đời trước bao cảnh lố nhố lăng nhăng… nhưng khi viết về bà Cả Mọc thì giọng văn của ông lại rất dịu dàng và bày tỏ lòng ngưỡng mộ chân thành. Trong tác phẩm Trúng số độc đắc, nhân vật Phúc ngay sau khi trúng số được mười vạn thì anh ta nghĩ ngay đến việc trích ra năm trăm đồng ủng hộ cho Hội Tế Sinh, nhà văn viết:
Bữa ấy, cách đây đã ngót một năm, anh đi rong chơi một cách thư nhàn như số đông người thất nghiệp muốn tìm một điều ích lợi chi đó, trong cái sự đi chơi lang thang, tình cờ đà chân vô định của anh đưa anh đến nhà Hội Tế Sinh. Anh đã được mục kích hàng trăm trẻ con dưới mười tuổi, con nhà lao động, vô sản, sống một đời công cộng rất có tổ chức, được ăn, học, chơi, tắm, được thay quần áo mỗi ngày hai lần, cứ thế mãi ngày nào cũng vậy, mãi cho đến khi nào bố mẹ chúng sau khi không chết đói nữa thì lại đến xin con đem về nhà mà thôi. Cái công cuộc xã hội ấy đã kích thích rất mạnh vào một tâm hồn giàu tình cảm như của Phúc. Khi trông thấy sự tận tâm rất đáng khen ngợi của một ông giáo học, người thư ký và của những người khác nữa thuộc nhân viên của nhà Hội về sự săn sóc lũ trẻ mà con mắt trưởng giả hẹp hòi của đời có thể coi là bẩn thỉu, khó thương; khi trông thấy những phương pháp của Âu Tây mà bọn trẻ ấy được hưởng từ lúc ăn, lúc học cho đến lúc nô đùa, Phúc cảm động hết sức, kính phục không biết thế nào mà kể. Đến lúc được chào người hội trưởng nữa, thì lòng kính phục của Phúc trở nên một thứ ngưỡng mộ có tính chất tôn giáo của người sùng đạo trước hình tượng đấng Cứu Thế nữa. Anh ta đã phải vui mừng tự hỏi: “Chà! Ở cái xã hội này mà lại có được một người đáng kính trọng đến bậc này sao? Ở cái nước Nam khốn khổ, xấu xa này, mà lại có được một sự tốt đẹp thế này hay sao?
Kể ra thì sự hoan nghênh ấy cũng là hợp lẽ lắm, vì người hội trưởng là một bà lão gần tám chục tuổi mà thiên hạ gọi nôm là bà Cả Mọc, vẫn tận tâm săn sóc lũ con cháu thiên hạ ấy chẳng kém gì con cháu của cụ và còn phải lo sao cho Hội khỏi đóng cửa, bầy trẻ thơ kia khỏi bị vô thừa nhận một lần nữa.
Rõ ràng, tấm lòng từ thiện của bà Cả Mọc sáng như gương, dường như không thể tin tại sao trong một xã hội người ngợm này lại có một người nhân đức như bà, nhà văn hiện thực phê phán số một trong nền văn học Việt Nam hiện đại phải đặt bút viết tiếp trong sự kinh ngạc:
Nếu quá lạc quan đi nữa, Phúc cũng không dám tưởng rằng ở đời lại có thể có một người đàn bà góa chồng, không con, vốn giàu có mà lại hy sinh cả cuộc đời mình, vui lòng để sản nghiệp riêng tiêu mòn vào một công cuộc xã hội, “miệng ăn núi lở” như thế mà vững được cho đến lúc già lụ khụ, mà già cả như thế rồi cũng không giảm lòng từ thiện chút nào, quên cả mình, quên cả gia đình, chỉ vì cái vấn đề cơm áo của lũ trẻ kia.
Hành động của nhân vật Phúc đã cho ta thấy rằng, trên cõi đời này, chính lòng nhân ái mới dễ đánh thức trong tâm hồn của con người ta dù tốt, dù xấu cái sự hướng thiện mà lâu nay trong tất bật đời thường đã bị quên đi.
Tiếng lành đồn xa. Hội Tế Sinh của bà Cả Mọc ngày càng được nhiều chức sắc đến tham quan, tìm hiểu. Năm 1937, Justin Godard – phái viên của chính phủ Pháp sang điều tra tình hình Đông Dương nhân Toàn quyền Brevié mới nhậm chức ở Đông Dương – đã đến Hội và bày tỏ sự khen ngợi. Vua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương cũng có đến thăm. Hôm đó, bà Cả Mọc chuẩn bị trà nước để bác sĩ Trần Văn Lai tiếp khách, còn bà vẫn đi làm như thường. Đối với bà, chuyện nhà vua có đến thì cũng giống như bao người khách bình thường khác. Sau đó, về kinh đô Huế, vua Bảo Đại có ban tặng cho bà tấm bảng vàng “Tiết nghĩa”. Nhưng mọi người đều ngạc nhiên khi bà cương quyết không nhận. Các Ngự tiền văn phòng lúng túng lắm, bà điềm nhiên bảo:
– Việc của quý ngài thì quý ngài cứ tâu lên vua, còn việc của tôi thì tôi không nhận. Thế thôi.
Ai ép thế nào cũng không được. Thế nhưng khi các phụ nữ thành phố Vinh tặng bức hoành ghi dòng chữ: “Gia đình theo Phật” thì bà vui vẻ nhận ngay. Ngoài Hội Tế Sinh, bà Cả Mọc còn làm nhiều việc từ thiện khác. Chẳng hạn như bà mua một cái ấp ở Nội Bài, dựng một dãy nhà 30 mét để làm nơi nuôi nấng những ông bà cụ nghèo đói,không có nơi nương tựa; hoặc bà lập ấp ở Vĩnh Yên mộ dân nghèo đến làm ăn, không bị tô tức nặng. Công việc của bà Cả Mọc và các cộng sự kéo dài đến ngày toàn quốc kháng chiến. Tháng 3.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng đã tiếp bà trong buổi tiệc trà ở ngoài vườn Bắc Bộ Phủ và khen ngợi tấm lòng nhân ái của bà. Khi cả nước bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến, bà đưa con cháu sơ tán lên Vĩnh Yên. Bà Cả Mọc mất ngày 19.7.1947. Có thể ghi nhận Hội Tế Sinh của bà cùng với các tổ chức ái hữu, từ thiện khác được hình thành trong cả nước đã phát huy được tinh thần “người trong một nước phải thương nhau cùng”- vốn là đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.