Nước Việt xưa trời Nam mở vận, họ Hùng gánh vác cơ đồ hơn hai ngàn sáu trăm năm, trải nhiều đời truyền đến đời vua Hùng thứ 18, cho đến đời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tề, Lương, Trần, sau đến 4 dòng họ là Đinh, Lê, Lý, Trần đều là các vị vua chúa anh minh, lương thần danh tướng, các bậc thánh nữ cung phi, các bậc quốc mẫu Tiên nương, Quế Quỳnh, Hương Hoa công chúa. Các vị đó đều là những người giúp nước mở vận, giúp đời giúp dân, tất cả được ghi trong sách son, giao ước trong sách đồng để làm sáng mãi tông tích lưu truyền cho con cháu sau này được biết. Người tuy hóa nhưng tông tích vẫn còn. Có thơ rằng:
Nam Việt danh thần dữ thánh quân,
Tiên nương công chúa tích trùng tân,
Giản biên sự lục quang thiên cổ,
Tuy hóa lưu hương ức vạn xuân.(Vua sáng tôi hiền đất Việt ta,
Tiên nương công chúa truyện truyền ca,
Sử ghi sự tích ngời thiên cổ,
Tuy mất ngàn năm tiếng vọng xa).
Lại nói, vào những năm niên hiệu Trùng Hưng (1285 – 1293) thời Trần Nhân Tông, ở xã Cẩm Giàng huyện Cẩm Giang xứ Hải Dương có bậc hào trưởng họ Trần tên là Trọng, lấy vợ họ Lý, tên Đào người xã ta. Hai vợ chồng tuổi ngoài 40 nhưng vẫn chưa thấy mộng ngõa chương1. Hào trưởng cùng thái bà đều là những người đức hậu hơn người, hiền từ hòa thuận, rộng lòng cứu giúp mọi người, trọng nghĩa khinh tài, cứu vớt những kẻ bần cùng yếu đuối, xót người thương vật, không hề làm hại ai bao giờ, không mảy may tơ hào lợi lộc, được mọi người khen là bậc người hiền. Bà cũng là bậc đức hạnh trong giới nữ, chỉ hiểm nói đến lan, quế còn muộn. Một hôm, trời xuân ấm áp, trăng thanh gió mát, trưởng ông và thái bà ngồi nói chuyện với nhau rằng:
Vợ chồng ta đều là những người có lòng tốt, gây dựng cây phúc, nhưng tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Chẳng phải do việc người còn thiếu sót nên lòng trời chưa thấu đó sao. Chẳng bằng trai giới chỉnh biện lễ vật cầu đảo ở các bách thần núi sông, các ngôi đền linh thiêng, chùa thờ Phật, nơi thờ các vì sao, ngõ hầu lòng thành có thể cảm hóa trời giáng phúc ban ơn, thỏa lòng hương hỏa thờ phụng, vỗ về ý nguyện lúc bình sinh.
Bấy giờ ông bà bèn biện lễ theo nghi thức, hai vợ chồng cùng lên chùa Tây Thiên ở núi Tam Đảo, rồi lại tới đền Quốc thánh mẫu làm lễ cầu đảo thần linh, cầu chúc cho đạt được ý nguyện. Khẩn xong, hôm đó trời đã về chiều, hai ông bà bèn nghi lại trong chùa, nằm nghỉ dưới án thờ Phật cầu mộng. Đến khoảng cuối canh ba, thái bà trong lúc mơ màng bỗng thấy có một con chim phượng bay lượn, hướng về nơi thái bà đang nằm ngủ. Lại chợt nghe thấy tiếng nhạc quân thiên vọng từ xa tới. Được một lúc, thái bà tỉnh lại [26] mới biết mộng ấy là điềm lành, bèn kể tường tận với hào trưởng về mộng báo. Hào trường nói:
– Mộng đó hẳn là do hoàng thiên ban phúc, địa phủ báo điềm lành. Ngày sau ắt sinh được cành lan, hương thơm vạn dặm. Phúc lộc đã tới cửa nhà ta, danh thơm sẽ rờ rỡ.
Hào trường cùng thái bà bèn bái tạ trước Phật, rồi túi xách trở về. Đến nhà được 10 ngày, thái bà tự nhiên trong lòng chuyển động mà có thai, đến mãn kỳ sinh hạ được một cô con gái, tướng mạo đàng hoàng, dung nhan diễm lệ, mặt rồng má phượng, lưng thắt đuôi ong, gối hạc, dáng vẻ chim sa cá lặn, đến trăng phải mờ hoa phải thẹn. Ngày tháng trôi đi, đến khi đầy năm, cha mẹ càng yêu mến, đặt tên là Loan. Đến năm 14 tuổi, dung công ngôn hạnh, tứ đức vẹn toàn, thi họa cầm kỳ, chẳng ai hơn được. Mọi người đều cho rằng không phải là người con gái bình thường, sau này tất vào chốn quỳnh đài, [3a] kim ốc, lấy được người chồng ở chốn phượng gác lầu rồng. Thời gian như tên bay, đã đến năm cô 18 tuổi, nhan sắc nghiêng thành, tài cao hơn cả bà Thái bà Tạ, các sĩ tử trong thôn nghe tin đều tranh nhau tìm tới. Nếu nói là như Nương Tử của nhà Đường, Tô Muội của nhà Tống cũng không quá lời.
Lại nói, lúc bấy giờ vua Trần Nhân Tông (1279 – 1293) xuống chiếu tuyển mỹ nữ bốn phương, ai là người quốc sắc thiên hương sẽ lấy sung vào làm cung tần. Lúc đó xã thôn phủ huyện đều cho rằng con gái họ Trần tên là Loan, đức sắc vẹn toàn, công dung ít người có được đều đồng lòng tiến cử, đưa vào hậu cung. Nhân Tông thấy cô, trong lòng yêu mến, lập làm Chiêu Nghi.
Mới được ba, bốn tháng thì có thai, đến kỳ sinh hạ được một cô con gái (ngày mồng 7 tháng Giêng). Lúc bà mới sinh con, trong phòng rực rỡ hào quang, mùi thơm lan khắp. Cô con gái dung nhan đoan chính, yểu điệu thướt tha, mắt phượng, tỉnh rồng, dáng vẻ chim sa cá lặn, nữ công nữ tắc, chẳng ai có thể sánh bằng, gót lân [3b] Quan Tuy chẳng ai sánh kịp. Đúng là bậc Nghiêu Thuấn trong giới nữ lưu, tiên nga nơi trần thế. Các cung nữ trong cung đều chúc mừng bà. Đến khi đầy năm, đặt tên là Bảo. Ngày tháng trôi qua, đến năm 14 tuổi, cô thông minh tài trí, văn võ thánh thần, đến Nương Tử, Giáng Tuyết chẳng dám kề vai; Đạo Uẩn, Văn Cơ khó bề ngang bậc. Đến tuổi trưởng thành, văn chương võ nghệ, kinh luân thao lược, cưỡi ngựa bắn cung, thư số, không có gì không thành thục. Vua Nhân Tông vô cùng yêu mến, làm riêng cho nàng một cung điện ở phường Xã Đàn khu Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên. Nàng thường cho mời các sĩ tửvăn học tài trí thông minh tới, ngày ngày học tập văn võ trường nghệ, năm năm bác lãm sách vở, bốn phương sĩ tử thấy nàng là người tài lược siêu quần, kinh luân xuất chúng đều lấy làm yêu mến kính trọng.
Năm đó có giặc Nguyên tới xâm lược, vua Trần Nhân Tông [4a] xuống chiếu cho Kim Tiên làm thượng tướng, đem 5 vạn tỉnh binh, 3 ngàn hùng mã, lại lệnh cho Quý Nương làm tỳ tướng hiệp đồng cùng Kim Tiên mang quân đi đánh dẹp giặc Nguyên. Lúc đó Quý Nương tự mình mang thủ hạ trong bộ cùng Kim Tiên đi đánh lũ giặc. Khi tiến đến địa giới Ôn châu, Lạng Sơn, đánh nhau với giặc 10 hiệp, cho đến tận chiều bọn giặc Nguyên cả tướng cùng quân đều bại trận bỏ chạy tán loạn. Kim Tiên cùng Quý Nương mang binh chiến thắng trở về, vào triều bái tạ vua Nhân Tông. Vua khen ngợi hết lời và ban thưởng công lao cho tướng sĩ ba quân, mở tiệc bao phong, phong cho Quý Nương làm Bảo Hoa công chúa Đại vương.
Lại nói, Quý Nương sau khi đánh giặc thành công bèn đi thuyền du chơi Tây Hồ, thảnh thơi dạo xem phong cảnh núi sông, dừng xe ở Quảng Bá, thi thơ đàn nhạc, rồi dạo chơi nơi núi cao, sông lớn, phiêu dạt bồng lai [46] vườn cảnh. Cũng có lúc vào xuân du chơi nơi núi Cán Sơn, nghe khúc ca người hái củi, lòng cảm hoài khôn xiết. Cũng có lúc vào hạ, du chơi thưởng ngoạn ở hồ sen Trúc Bạch, xem thuyền cá mà lòng ngẫm ngợi suy tư, bèn lấy bút làm bài thơ như sau:
Nhân sinh nhược mộng trụ lao sinh,
Nhất tịch hoàng lương vị thục hình,
Phú quý công danh do hữu đức,
Quang tiền hiền hậu chấn anh linh.(Đời người ngắn ngủi, sống gian nan,
Giấc mộng kê vàng chẳng kịp tan,
Phú quý công danh do bởi đức,
Rạng rỡ trước sau, tiếng ngời vang).
Ngâm xong, cho xa giá về cung. Lúc đó trời đã về chiều, đành phải dừng xe cho nghỉ lại ở đình Đồng Xuân, lại sai bọn trẻ rót rượu. Được vài tuần rượu ngọt, bà lại ngâm thơ rằng:
Nguyệt lãng phong thanh tửu chính khô,
Đa tình ẩm tận bách đa hồ,
Thiều quang dĩ chiếu doanh đình lạc,
Ngũ phúc lại lâm diệc thử đồ.(Trăng thanh gió mát, chén đã khô,
Tình nhiều uống cạn cả trăm vò,
Thiều quang chiếu khắp, lòng vui vẻ,
Ngũ phúc từ đây chiếu rọi cho).
Ngâm xong bèn đi đến ngôi cung xưa. Bấy giờ ngày tháng trôi đi, mái đầu điểm bạc, bà cũng đã ngoại tứ tuần. Bà bèn cho trùng tu cung điện, sai sửa lại sở tại (tức phường Xã Đàn), để làm nơi hành cung nghỉ ngơi, thưởng ngoạn phong cảnh. Ngày ngày mời các bậc phụ lão hương trưởng (tức người dân phường Xã Đàn) đến yến tiệc. Lại bảo rằng:
Các bậc phụ lão với ta, tình tuy khác nhưng vẫn là đạo quân thần. Trong lúc tiệc rượu, hãy cùng nhau vui vẻ, lẽ nào lại dối lòng mình mà không bày tỏ hết ra chăng.
Thế rồi đàn nhạc lời ca, cùng nhau rót rượu, đúng là bữa tiệc nhân gian vui vẻ nhất, thỏa lòng mong ước của mọi người. Tiệc ba ngày mới kết thúc. Các cụ phụ lão liền ra bái tạ. Quý Nương lại trở về nơi triều khuyết. Vua dụ bảo:
Con tuy là phận nữ nhi nhưng có thể dẹp giặc giúp cho dân được yên. Công lao rất lớn.
Vua bèn gia phong cho phép xã dân xây dựng cung dinh để nghi ngơi. Lại ban cho 10 khoảnh ruộng để làm đất ngụ lộc. Bấy giờ Quý Nương đã già yếu, rồi nhẹ nhàng mà mất ở chính điện (ngày mồng 2 tháng Hai).
Lại nói, giặc Nguyên lại xâm lược nước ta. Vua Nhân Tông rất lo lắng, bèn sai Trần Lã Nam cùng Kim Tiên [5b] mang quân đi đánh giặc Nguyên. Lã Nam cũng là chi phái họ Trần. Khi giặc Nguyên trở lại xâm phạm biên giới nước Nam, khắp nơi dân kinh động, triều đình ăn không ngon, áo mũ phờ phạc. Lúc đó Kim Tiên mang 3 vạn binh cùng 2 ngàn tuấn mã, 1 ngàn chiến thuyền, từ kinh thành tiến thẳng đến địa giới Phân Mao cùng Lã Nam giáp công đánh tại địa phận Đồng Đăng. Giặc Nguyên từ xa tới, không biết địa thế hiểm trở thế nào, tuy nhiều binh nhưng không nghiêm kỷ luật. Cũng có tên giữa đường lẫn trốn trở về quê cũ, số bỏ trốn quá nửa. Lã Nam mang 5 vạn binh hùng, 2 ngàn tuấn mã đến thẳng Ải Quan, theo đến Quý Môn rồi chia đường phục binh những nơi hiểm yếu. Lúc đó, các vùng hang núi gập ghềnh, đường đi hiểm trở. Đại tướng Kim Tiên cùng phó tướng Lã Nam, hai quân cùng tiến đánh giặc Nguyên. Đánh một trận lớn, đến 4 5 trăm hiệp thì chém được hơn ngàn thủ cấp. Đại phá giặc Nguyên ở địa giới Quỷ Môn2. Giặc Nguyên thua rút chạy tán loạn, phải trở về nước, không dám tiến đánh.
Lại nói, giặc Nguyên từ khi thất bại bỏ về, Kim Tiên cùng Lã Nam mang binh khải hoàn trở về triều. Vua rất vui, phong thưởng công lao, ban cho tước hiệu. Phong cho Lã Nam làm Đại vương, lại ban cho trăm dật bạc trắng, khen thưởng úy lạo sĩ tốt ba quân. Ban cho 30 khoảnh ruộng để làm đất ngụ lộc (tại phường Xã Đàn).
Lại nói, Lã Nam từ khi lập công, từ tạ triều đình về nghi an dưỡng. Ngày ngày rong ruổi săn bắn, bắn thỏ bắt cáo, thả mình trong rượu ngọt, năm năm vui vẻ đàn ca, cũng có lúc dừng xe giảng giải việc văn thông võ bị, nêu danh trong biển vàng. Cũng có lúc nhàn du ngắm nhìn núi sông, tình quê chan chứa. Gần thì ngắm xem [66] núi Bình Vọng, xa thì du thuyền trên sông Tô, chỗ rộng chỗ hẹp, như sông Kinh sông Vị khác dòng. Từ đông từ tây, quế lan chẳng cấm, mềm mại như phong thái Phạm Lễ, thư thái như Tử Phòng. Thế rồi lại cho quân trở về hành cung, ngày tháng trôi đi, tuổi tác ông cũng đã ngoài lục tuần, chẳng lúc nghỉ ngơi, mệt mỏi già yếu rồi tự nhiên mất (ngày mồng 7 tháng Giêng).
Bấy giờ người dân đem việc tâu lên triều đình. Vua lệnh cho đình thần đến tế, ban cho 1 ngàn quan, lại phong tặng làm Lã Nam Đại vương, cho phép phường Xã Đàn, khu Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương phụng thờ, bốn mùa hương hỏa, muôn đời huyết thực cùng hưởng ơn nước. Đức của thần thịnh thay.
Ngày 15 tháng Giêng năm Hồng Phúc thứ 2 (1573).
Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ thần là Nguyễn Bính phụng soạn.
Chú thích:
- Ngõa chương: Đẻ con gái cho chơi ngói, đẻ con trai cho chơi ngọc chương. Ý nói việc sinh con cái.
- Quỷ Môn: Còn gọi là “Quỷ Môn quan”, hiện ở xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
Nguồn: “Trần triều Công chúa Bảo Hoa Công chúa Đại vương ngọc phả có truyền mục lục”, trích trong Thần tích phường Xã Đàn, ký hiệu AE.a2/36, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.