Khái quát
Khi chọn bút hiệu cho mình, có người đã dựa vào địa danh nơi chốn mình sinh ra mà đặt tên. Tại Mỏ Cày, Bến Tre có rạch Cá Sấu nên khi xuất hiện trên trường văn trận bút, thầy Ca Văn Thỉnh đã lấy bút danh là Ngạc Xuyên (âm Hán Việt của hai từ Cá Sấu). Thầy sinh ngày 21/3/1902.
Gia đình và con đường học tập
Năm 13 tuổi, thầy thi đậu bằng Sơ học, muốn học thêm nữa thì phải lên Sài Gòn hoặc Mỹ Tho, nhưng nhà nghèo quá nên đành phải bỏ. Nửa năm sau, thầy giáo Nguyễn Văn Vinh thương tình đứng ra “bảo lãnh” cho ăn học. Không phụ lòng thầy, cậu học trò nhỏ đã cố gắng hết sức mình để đuổi kịp bạn bè và bốn năm sau thi đỗ vào trường trung cấp Norman – đối diện với Sở thú Sài Gòn.
Học xong, thầy trở về dạy học ở Mỏ Cày rồi năm sau về dạy ở xã nhà Tân Thành Bình. Thời gian này, một chuyện rắc rối xảy ra với thầy. Nguyên do là địa chủ Nguyễn Văn Hinh – vốn là chủ nợ của nhiều nông dân nghèo, trong số đó có cha mẹ của thầy – lợi dụng thầy giỏi tiếng Pháp, có thể tiếp tay trong kinh doanh nên ra điều kiện: muốn được xóa nợ cho cha mẹ thì thầy phải cưới con gái của địa chủ! Mẹ thầy cương quyết không đồng ý. Còn thầy thì càng quyết chí học tập – bằng cách theo học hàm thụ của trường Bách Khoa ở Paris – để sau này có điều kiện trả nợ cho cha mẹ. Thấy thầy học được, hội đồng Quyên lại gạ gẫm gả cháu gái với lời hứa hẹn là sau đó sẽ cho hai vợ chồng sang Pháp. Thế nhưng, lần này thầy cũng cự tuyệt và tìm mọi cách để được đi học ở Hà Nội.
Ý thức yêu nước hình thành
Năm 1925 thầy có mặt ở Hà Nội. Tình hình chính trị đã tác động mạnh mẽ đến tâm trí của thầy, chính là từ sự kiện cụ Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử. Buổi sáng hôm ấy, thầy cùng các bạn Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt đã lách qua khỏi song sắt của khu nội trú để đến tòa án. Ý thức chính trị dần dần hình thành từ đây.
Rồi sau này, mùa hè năm 1928 khi trở về quê nhà lại hay tin thầy giáo cũ là Nguyễn Văn Vinh đã vào hội kín Nguyễn An Ninh, thầy Ca Văn Thỉnh nhớ lại:
Tôi mang ơn thầy Vinh, bởi thầy là người nối lại cho tôi con đường học vấn trước kia, trong lúc tôi không còn hy vọng nào khác là an phận với các nghề chân lấm tay bùn, cái cày, con trâu. Tôi còn quý trọng thầy bởi thầy là người yêu nước chân thành.
Hình ảnh thầy trò này đã khiến chúng ta nhớ đến những nhân vật trong tiểu thuyết Tấm lòng vàng của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Thì ra trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có những người thầy cưu mang học trò mình. Rồi chính tấm gương của thầy Vinh đã đưa thầy Thỉnh vào con đường đúng đắn là gia nhập hội kín Nguyễn An Ninh. Tác động đến tinh thần yêu nước của thầy còn là sự kiện đám tang cụ Phan Châu Trinh.
Vì những lẽ đó, trước khi tốt nghiệp trường năm 1928, thầy đã viết vở cải lương Bầu nhiệt huyết nói về câu chuyện Nguyễn Trãi theo cha là Nguyễn Phi Khanh khi cha bị bắt đưa sang Tàu – nhân đó mà khơi dậy lòng yêu nước trong sinh viên:
Hai vai oằn nặng gánh thâm cừu
Chờ một hội quẫy ngọn đao gom bờ cõi cũ
Đã sanh đứng giữa vòng vũ trụ
Phải có danh gì với núi sông
Nhưng cuối cùng vở cải lương này đã bị cấm lưu diễn.
Sự nghiệp dạy học và giáo dục lòng yêu nước
Sau khi ra trường, thầy đã về Bến Tre để dạy học. Những năm tháng này, thầy nhớ lại:
Dạy trong trường học thực dân là một điều khó chịu đối với tôi. Dạy học, thầy giáo là người lo về phần tâm hồn của học sinh. Sau này tôi mới biết và rất thích thú với câu ví von đẹp: thầy giáo là kỹ sư tâm hồn. Và người kỹ sư tâm hồn trong bối cảnh nước nhà lúc ấy phải làm gì? Có thể nào người thầy giáo Việt Nam lại cam tâm dạy cho học sinh Việt Nam yêu quý của mình thuộc làu làu câu nói: “Người Gôloa là tổ tiên của chúng ta”? Không thể được, không thể như vậy được. Tôi, tôi là một nhà giáo có tinh thần yêu nước, tôi chưa làm gì được cho đất nước đang quằn quại trong bàn tay dã man của bọn thực dân. Tinh thần ái quốc của tôi chỉ được võ trang bằng hai bàn tay trắng, đôi bàn tay lúc ấy chỉ biết cầm phấn, chỉ biết vuốt ve những mái đầu xanh ngây thơ trong trắng cặm cụi trên trang giấy học trò. Và tôi nghĩ: “Với thứ võ khí nghề giáo này mình phải làm gì? Có thể nào phụ lòng cha anh mình được?
Chính vì ý thức như thế nên ngoài thời giờ giảng dạy thầy bắt tay vào việc nghiên cứu, viết sách để giáo dục quần chúng lòng yêu nước. Thầy mở đầu công việc nghiên cứu với những nhân vật gắn liền với lịch sử Nam Bộ như Võ Trường Toản, Nguyễn Thông, Nguyễn Đình Chiểu…
Rồi sau này, khi tập kết ra Bắc năm 1954, dù phụ trách nhiều công việc khác nhưng thầy vẫn dành tâm trí để tiếp tục nghiên cứu về Văn chương yêu nước Nam Bộ, Hào khí Đồng Nai…
Phương pháp giảng dạy và giáo dục học sinh
Những năm tháng giảng dạy ở Bến Tre của thầy Ca Văn Thỉnh đã để lại dấu ấn trong tâm trí của nhiều thế hệ học trò. Đó là sự tận tụy và mẫu mực trong nghề làm thầy dạy học. Một học trò cũ là Xuân Phong vẫn còn nhớ như in những ngày được học với thầy:
Trong giờ học đạo đức, thầy khơi dậy lòng yêu nước của học sinh bằng cách cho chép riêng mấy vần thơ tâm huyết của các cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Thầy căn dặn đem thơ về học cho thuộc làu xong rồi đem đốt tờ giấy ghi đi. Đến lúc này, mấy mươi năm đã trôi qua với bao cuộc biến thiên của vũ trụ, bao biến cố trọng đại của loài người và đầu tóc tôi đã bạc trắng nhưng tôi vẫn còn thuộc lòng những câu:
Cuộc tang hải vẫn xây như chớp,
Giấc chiêm bao mắt nhắm chẳng bao lâu.
Chắc gì sang, chắc gì quí, chắc gì giàu,
Phúc công cộng nghìn thu là phúc lớn…Môn học Quốc văn thời Pháp thuộc còn gọi là “langue annamite” bị gò bó đến nỗi gần như bị bỏ rơi trong thời khắc biểu của học sinh. Nhưng thầy đã tận dụng số giờ eo hẹp để mở rộng trước mắt học sinh một chân trời bao la của tiếng Việt. Thầy nhắn nhủ học sinh đừng quên câu nói bất hủ của một nhà văn Pháp “Một dân tộc bị áp bức còn giữ vững được tiếng mẹ đẻ của mình thì xem như họ cầm chắc trong tay cái chìa khóa của ngục tù đã giam hãm họ.
Thầy cũng không bỏ qua cơ hội trong giờ dạy Pháp văn để cảnh tỉnh tinh thần yêu nước, yêu quê hương của học sinh theo lối “Trông người rồi gẫm lại ta”. Thầy chọn bài học bộc lộ lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng Pháp quyết tâm bảo vệ nền đệ nhứt Cộng hòa Pháp giữa một châu Âu dẫy đầy thế lực của các đế quốc thù địch bao quanh.
Tôi nhớ mãi hình ảnh thầy khoan thai, bước từng bước giữa hai dãy bàn, đọc bài thơ ngợi ca chiếc tàu chiến “Kẻ báo thù” cho học sinh chép học thuộc lòng (Ode au Vaisseau le Vengeur). Thầy dõng dạc đọc từng câu như để lột hết tinh thần cách mạng siêu việt của bài thơ, nhứt là đến hai câu chứa đầy nét oai hùng:
Dưới những con sóng nhấn chìm họ, liệu bạn còn nghe thấy tiếng khóc ấy không?
“Sống tự do!”
(Tạm dịch: Dưới những đợt sóng vùi lấp các chiến binh. Các bạn còn nghe chăng tiếng gào thét lên:”Tự do muôn năm!”).
Hoạt động cách mạng
Rồi một sự kiện long trời lở đất đã nổ ra vào ngày 9/3/1945. Đó là Nhật lật đổ Pháp, rồi phong trào Thanh niên Tiền Phong do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được Đảng cử ra tập hợp thanh niên, đã từ Sài Gòn lan rộng đến các tỉnh Nam bộ, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng tham gia tổng khởi nghĩa. Thầy Ca Văn Thỉnh được cử làm thủ lĩnh của phong trào Thanh niên Tiền Phong tại Bến Tre. Không chỉ là thầy giáo có ý thức giáo dục cho học trò tri thức, lòng yêu nước mà thầy còn chứng tỏ năng lực trong hoạt động xã hội. Tháng 6/1945, thầy đã lên Sài Gòn gặp mặt thủ lĩnh Thanh niên Tiền Phong các tỉnh và dự lễ tuyên thệ ở vườn Ông Thượng (công viên Tao Đàn hiện nay), sau đó, thầy trở về quê nhà để vận động phong trào. Rồi Cách mạng tháng Tám thành công, thầy tham gia thành lập chính quyền ở Bến Tre, sau đó làm Ủy viên ban hành chính kháng chiến Nam Bộ. Sau này, thầy nhớ lại:
Chưa bao giờ tôi thấy mình sung sướng đến như vậy. Tôi hít thở đến vỡ tung lồng ngực từng luồng không khí độc lập, tự do. Khi hay tin cả nước đã giành được chính quyền, thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân, chúng tôi được bay nhảy với đôi cánh của một công dân tự do, bay khắp bầu trời đất nước bao la này đã về tay nhân dân Việt Nam.
Năm 1946 cùng với Đào Văn Trường, Nguyễn Thị Định, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp… thầy đã lên đường ra Trung ương nhận nhiệm vụ. Khi về Nam Bộ, thầy là một trong những người lãnh đạo chủ chốt của ngành giáo dục Nam Bộ trong những năm kháng chiến.
Dù sau này, khi tập kết ra Bắc, thầy không còn làm công tác giảng dạy nữa, chuyển sang công tác ngoại giao phụ trách Vụ Đông Nam Á và từ năm 1959 làm Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội, rồi sau năm 1975 làm Viện trưởng Viện khoa học xã hội miền Nam tại TP.HCM, nhưng hình ảnh đáng kính của thầy Ca Văn Thỉnh vẫn còn đậm nét trong nhiều thế hệ học trò.
Quan niệm giáo dục và nhân cách người thầy
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Trọng thầy mới được làm thầy” thì ở nhân cách con người Ca Văn Thỉnh là một sự tôn sư trọng đạo rất đáng để chúng ta suy nghĩ. Những năm tháng cuối đời, trong hồi ký của mình, thầy viết những dòng cảm động:
Tôi nghĩ đến những người thầy kính yêu của tôi. Nhớ thầy giáo Thơm không bao giờ bỏ lỡ bất cứ việc nào để giáo dục cho học trò mình tấm lòng yêu nước, yêu quê hương, nhớ lần nào còn lẫm đẫm theo chân thầy đi nghe ông Trần Văn Đinh kể chuyện đánh Tây, mà xúc động từ hôm ấy đến nay vẫn còn thấm thía trong người tôi. Nhớ thầy Nguyễn Văn Vinh, một người chung thủy với đất nước quê hương, đánh Tây bằng chính vũ khí giáo dục của thầy, bằng những cuốn sách nóng hổi lòng căm thù giặc. Hình ảnh đẹp đẽ của các thầy luôn luôn là điểm sáng dẫn đường cho tôi trong cái nhà tù giáo dục ngu dân của bọn thực dân. Tôi tâm niệm với riêng tôi: dạy là để truyền đạt phần nào tư tưởng, tinh thần yêu nước và truyền thống dân tộc cho học sinh.
Thầy đã sống và thực hiện đúng với lời tâm niệm ấy để tạo nên hình ảnh người thầy mẫu mực trong ngành sư phạm.
Những năm cuối đời
Thầy mất ngày 5/10/1987, thọ 85 tuổi và an táng tại quê nhà Mỏ Cày (Bến Tre). Tưởng cũng nên nhắc lại, nhà thơ Lê Anh Xuân (tên thật Ca Lê Hiến) tác giả bài thơ nổi tiếng Dáng đứng Việt Nam chính là con trai của thầy.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.