Cô Giang (1909 – 1930)

Thông tin cơ bản

Cuộc đời

Quê nàng ở tỉnh Bắc Giang
Vừa hai mươi tuổi đảm đang có tài
Vốn xưa nay là người học thức
Vì noi chồng nên khổ cực vào thân
Chồng nàng là đấng lương quân
Nguyện sao sinh tử một lần có nhau
Rời gót ngọc lên tàu Yên Bái
Qua mặt chồng, có phải chồng không?
Liếc qua nhìn thấy mặt chồng B
ấy giờ nàng đã hai dòng châu sa
Dao vàng cắt ruột nhau ra
Thôi đành chia cửa, rẽ nhà từ đây
Tình cảnh này trời hay chăng đã
Xuống suối vàng ta sẽ gặp nhau
Vội vàng dừng bước xuống tàu
Thẳng đường thiên lý biết đâu là nhà
Vào hàng nước hỏi dò la
Hỏi rằng: “Quê quán đâu là Thổ Tang”
Bà hàng nước chỉ cổng làng
Bấy giờ nàng mới khẽ khàng bước ra
Chợt đi đến gốc cây đa
Tưởng đến sự nhà lại nát ruột gan
Súng đồng đã chắp dây loan
Một tay siết chặt vỡ tan mối tình
Khi hồn nàng đã trình địa phủ
Có ông già chừng độ sáu mươi
Vào làng nói chẳng nên lời
Xôn xao già trẻ bao người chạy ra
Đau đớn thay kẻ đàn bà
Ở đâu xa lạ hóa ra thế này?
Xôn xao tổng lý các thầy
Cắt người vào phủ báo ngay cho tường
Quan phủ cũng có lòng thương
Cắt phu, cắt tráng trong làng ra canh
Khá khen dây thép cũng nhanh
Sáu giờ đã tới gia đình Bắc Giang
Quan ta hợp với Tây quân
Dựng hình, chụp ảnh, sửa sang nữ hài…

Sau khi học xong lớp nhất, Cô Giang cùng chị là Cô Bắc được nhà yêu nước Nguyễn Khắc Nhu dìu dắt và đưa vào tổ chức Việt Nam Dân Quốc mà ông là người lãnh đạo. Tổ chức này được thành lập theo sự gợi ý của cụ Phan Bội Châu. Trước đó, thông qua một liên lạc viên, Nguyễn Khắc Nhu hỏi cụ Phan: “Với tình hình trước mắt, chúng ta nên hành động ra sao để đưa phong trào cách mạng lên cao”. Đang bị giam lỏng ở Huế, cụ Phan chưa trả lời được, mãi đến năm 1926, phái viên của cụ Phan đến Bắc Giang gặp Nguyễn Khắc Nhu và cho biết, theo ý cụ là nên tổ chức ra một hội tương tự như kiểu Đông Kinh Nghĩa Thục để đào tạo nhân tài, rồi sau đó tùy thời cơ mà có hành động quyết liệt hơn. Từ gợi ý này, Nguyễn Khắc Nhu lập hội lấy tên là Quốc Dân Dục Tài. Sau một thời gian hoạt động, thấy đã đủ điều kiện, ông lập ra hội Việt Nam Dân Quốc với tinh thần chống Pháp quyết liệt hơn. Hội mở xưởng làm lựu đạn, rèn vũ khí để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa bằng vũ trang.

Trong thời điểm này, tại Hà Nội vào ngày 25/12/1927, nhóm trí thức trẻ trong Nam Đồng thư xã thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, Nguyễn Thái Học được bầu làm chủ tịch Đảng. Sau đó, trong công tác bắt liên lạc và kết hợp với các tổ chức yêu nước khác, Việt Nam Quốc Dân Đảng đã tìm đến Việt Nam Dân Quốc. Cả hai đều nhận thấy có chung mục tiêu “đánh người Pháp ra khỏi nước Nam, giành nước Nam lại cho người Nam”, nên cùng sát nhập vào làm một. Từ sự sát nhập này, Nguyễn Thái Học có dịp làm quen với Cô Giang. Khuôn mặt của cô hơi bị rỗ huê, nhưng nhan sắc mặn mòi và ăn nói có duyên, lịch thiệp. Ngay buổi gặp gỡ đầu tiên giữa hai người đã nổ ra tiếng sét ái tình. Phàm trai tài gái sắc phải lòng nhau cũng là chuyện thường tình trên đường đời. Vào một buổi chiều từ Phú Thọ về xuôi, Nguyễn Thái Học và Cô Giang ghé vào đền Hùng để hội đàm với các đồng chí của mình. Sau khi họp xong, hai người đã vào đền thờ Tổ để chiêm bái. Trước nhang khói trang nghiêm, họ cùng thề non hẹn biển sẽ cưới nhau thành vợ chồng sau khi cách mạng thành công. Đứng trước bàn thờ Tổ, vì không muốn người xung quanh nghe được những lời tâm tình riêng với Cô Giang, Nguyễn Thái Học đã nói bằng tiếng Pháp:

– Phải làm cách mạng! Phải làm cách mạng! Để người nước Nam hết nô lệ, để người Pháp không còn áp chế nữa. Phải làm cách mạng!

Cô Giang như uống lấy từng lời của người chồng tương lai và cũng là cấp trên của mình. Cô cúi đầu nói nhỏ:

– Vâng, chỉ có một con đường duy nhất là làm cách mạng. Nếu như anh có vì Tổ quốc mà hy sinh thì em cũng quyết dùng khẩu súng lục của anh trao mà chết theo…

Từ đó hai trái tim đầy nhiệt tình cách mạng cùng đập chung một nhịp. Khẩu súng Nguyễn Thái Học trao cho Cô Giang được xem như là vật đính hôn giữa hai người. Hoạt động trong Việt Nam Quốc Dân Đảng, Cô Giang cùng chị là Cô Bắc được giao nhiệm vụ tuyên truyền quần chúng, làm công tác binh vận, làm liên lạc viên giữa các cơ sở Đảng ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Yên Bái, v.v… Chị em Cô Giang đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.

Hoạt động cách mạng

Trong vai người bán mía lùi trước đồn lính khố xanh ở Yên Bái, Cô Giang đã khôn khéo vận động và tuyên truyền binh lính người Việt về tinh thần yêu nước. Chính họ – những người lính của Binh đoàn Yên Bái – sau này sẽ là lực lượng nòng cốt trong cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái. Tờ mờ sáng ngày 10/2/1930, Việt Nam Quốc Dân Đảng quyết định dồn hết lực lượng để khởi nghĩa, dù “không thành công cũng thành nhân”. Chị em Cô Giang phụ trách chi bộ phụ nữ vận chuyển vũ khí từ Phú Thọ lên Yên Bái bằng xe lửa. Các nữ đảng viên giả làm người buôn bán gạo, cám, hoa quả… gồng gánh cồng kềnh, nhưng phía dưới là mã tấu, gươm dao, lựu đạn, súng ống! Cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở nhiều nơi – gây được tiếng vang chấn động dư luận ở trong nước và ngay tại nước Pháp! Dù không tán đồng cuộc khởi nghĩa vì chưa hội đủ điều kiện chín muồi của nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn “phát động phong trào quần chúng chống khủng bố, đòi trả tự do cho các chiến sĩ tham gia khởi nghĩa Yên Bái” (1) và đồng thời “Đảng ta đã rút ra những bài học sâu sắc về cuộc khởi nghĩa không thành công”.

Thống sứ Robin đã đàn áp một cách man rợ là ra lệnh dùng máy bay trút bom xuống làng Cổ Am và nhiều làng mạc khác. Ngày 28.3.1930,chúng mở Hội đồng đề hình để xét xử những người yêu nước. Chị ruột của Cô Giang cũng bị bắt. Khi gọi tên đến Cô Bắc, chúng chưa kịp hỏi thì cô đã dõng dạc thét:

– Chúng mày về nước Pháp mà kéo đổ tượng Jeanne d’Arc đi thôi!

Cả Hội đồng tím mặt, Jeanne d’Arc là người được nhà nước Pháp phong Nữ thánh, đã từng cầm quân đi đánh giặc Anh khi chúng xâm lược nước Pháp, sau bị thiêu sống ở quảng trường Rouen lúc 19 tuổi. Câu nói bất hủ của Cô Bắc còn lưu truyền trong sử sách. Dù ra tòa hay bị giam cầm trong tù ngục thì các chiến sĩ Yên Bái cũng chứng tỏ khí phách hiên ngang, không khuất phục trước bạo lực. Nghe tin người chồng tương lai của mình đã bị bắt, Cô Giang vô cùng lo lắng. Cô đã nghĩ đến kế hoạch táo bạo là tấn công Hỏa Lò để giải thoát cho Nguyễn Thái Học và các đồng chí đang bị giam giữ. Kế hoạch chưa kịp thực hiện thì ngày 16/6/1930, cô nghe tin giặc đưa Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí lên Yên Bái để hành hình.

Cuối đời

Tin đâu sét đánh ngang tai! Cô Giang đã cải trang, giấu súng lục trong người rồi đi tàu hỏa lên đó. Tờ mờ sáng ngày 17/6/1930 giặc Pháp đưa 13 anh hùng lên máy chém. Cô Giang đứng lặng yên quan sát, môi mím chặt, nghiến răng… Nỗi đau xé tâm can. Một hài nhi đang cựa quậy trong bụng của cô. Sau đó quay về phòng trọ, cô nằm khóc nức nở rồi viết hai lá thư tuyệt mệnh trên trang giấy khổ nhỏ, nét bút chì xanh. Lá thư thứ nhất cô gửi cho cha mẹ Nguyễn Thái Học:

Ngày 17 tháng 6 năm 1930

Thưa Thầy, Mẹ,

Con chết là vì hoàn cảnh đã bó buộc con: không báo được thù cho nhà, rửa được nhục cho nước! Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở đền Hùng, giờ con tìm về chỗ quê cha, đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu đời con!

Đứa con dâu thất hiếu kính lạy.

Bức thư thứ hai cô gửi cho người chồng nơi chín suối:

Anh đã là người yêu nước!

Không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước, Anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để về mà chiêu binh, rèn lính ở dưới suối vàng!

Phải chịu đựng nhục nhã, mới có ngày mong được vẻ vang! Các bạn đồng chí phải sống lại sau Anh, để đánh đổ cường quyền, mà cứu lấy đồng bào đau khổ!

Thân không giúp ích cho đời!
Thù không trả được cho người tình chung!
Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh.
Con đường tiến bộ mông mênh,
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao!
Bây giờ hết kiếp thơ đào,
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây!
Dẫu rằng chút phận thơ ngây,
Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên!
Chết đi dạ những buồn phiền,
Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình!
Quốc kỳ phấp phới trên thành,
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ.
Cực lòng nhỡ bước sa cơ!
Chết sầu, chết thảm, có thừa xót xa!
Thế ru? Đời thế ru mà?
Đời mà ai biết? Người mà ai hay?
Nguyễn Thái Học phu nhân

Viết xong hai lá thư, cô ra chợ mua mấy vuông vải trắng, làm khăn tang thờ chồng. Ngay chiều hôm đó, cô đi xe lửa sang Vĩnh Yên. Tờ mờ sáng hôm sau, cô đến làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường (nay thuộc Vĩnh Phúc) để lạy tạ ông Nguyễn Văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh – cha mẹ Nguyễn Thái Học. Dù gia đình an ủi, giữ lại nhưng cô vẫn cương quyết xin từ biệt. Lững thững bước ra quán nước đầu làng, cô ngồi nghỉ chân. Lòng cô ngổn ngang trăm mối khi nghĩ đến chồng, đến tình nhà nợ nước. Năm xưa, cũng nơi quán nước này, đôi vợ chồng son đã ngồi trò chuyện và nghĩ về mộttương lai tươi đẹp. Nhưng nay còn đâu! Nước mắt lại trào ra. Cô Giang đứng dậy, bước ra gốc cây đề, hướng mặt về làng của chồng, cô rút súng ra bắn vào thái dương. Đó là buổi chiều ngày 18/6/1920. Cái chết của cô đã gây thương tiếc cho mọi người. Cụ Phan Bội Châu từ Huế nghe tin có viết bài văn tế Cô Giang thống thiết:

Từng mấy lúc hồng đi cá lại, ước ao chung gánh ruổi trường đồ;
Giận bao phen én Bắc, nhạn Nam, đau đớn chia tay thành vĩnh biệt.

Và ca ngợi đó là người “vóc quần thoa nhưng chí khí tu mi”. Nhiều người đã khóc bằng những vần thơ cảm động:

Sống nhục sao bằng sự thác vinh,
Nước non cho vẹn kiếp chung tình.
Lưỡi dao xử tử chàng không ngại,
Tiếng súng quyên sinh thiếp cũng đành.
Một tấm can tràng trời đất thảm,
Ngàn thu vẹn tiết quỷ thần kinh.
Cuộc đời sá kể chi thành bại,
Trai đã trung thì gái phải trinh.

Trong dân gian xuất hiện nhiều bài vè ca ngợi tấm gương hy sinh của liệt nữ Nguyễn Thị Giang để tuyên truyền tinh thần yêu nước:

Cô Giang cũng bậc anh hùng
Dốc tâm thề Đảng một lòng trung trinh
Cùng ai thề chữ tử sinh
Chưa chăn gối cũng ra tình sắt son
Chung tay việc Đảng lo tròn
Tài chính cổ động lại còn giao thông
Thất cơ sự đến khi cùng
Tím gan Yên Bái, đau lòng Lâm Thao
Thế gian mặc chuyện ra vào
Lòng trinh xin nguyện trời cao soi cùng
Chồng theo nước, thiếp theo chồng
Tuồng chi dơ dáng sống cùng hôi tanh
Khen chê phó mặc sử xanh
Treo gương đất nghĩa trời kinh đời đời…

Sau khi nghe tin có người tự sát ở làng Thổ Tang, bọn giặc Pháp lập tức có mặt. Chúng dẫn theo vài đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng để nhận mặt. Biết đúng là Cô Giang, chúng ra lệnh chôn, nhưng gần đó có đặt một điếm canh để không ai được đến nhang khói. Dù vậy, trên mồ của người nữ cách mạng bao giờ cũng có những bông hoa đỏ thắm. Sống trên dương thế chỉ ngoài 20 xuân, nhưng chị em Cô Giang đã lưu danh trong sử sách. Dù người yêu nước đã bị giặc Pháp dìm trong máu “Tuy vậy cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã cổ vũ tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc của nhân dân ta. Những gương hy sinh anh dũng của các chiến sĩ Yên Bái đã góp phần chứng tỏ truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam”. Có thể khẳng định, qua cuộc khởi nghĩa này, khí tiết và tấm lòng chung thủy của Cô Giang khá tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam xưa nay.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Cô Giang

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)