Thân thế
Lê Ngọc Hân sinh ngày 27 tháng 4 năm Canh Dần, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 31 (1770) tại kinh thành Thăng Long. Bà là con gái của Hoàng đế Lê Hiển Tông, được ghi nhận là người con gái thứ 9 hoặc thứ 21 của nhà vua tùy theo từng nguồn sử liệu.
Mẹ của bà là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, quê tại xã Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Bà Nguyễn Thị Huyền là trưởng nữ của ông Nguyễn Đình Giai, sau khi vào cung đã được phong đến chức Chiêu nghi, thuộc hàng phi tần có địa vị cao trong hậu cung triều Lê.
Hoàng hậu nhà Tây Sơn
Tháng 5 năm Cảnh Hưng thứ 47 (1786), Tây Sơn Nguyễn Huệ tiến ra Bắc với danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”. Sau khi đánh tan thế lực họ Trịnh, ông vào triều yết kiến vua Lê Hiển Tông. Nhờ sự sắp đặt của Nguyễn Hữu Chỉnh, công chúa Lê Ngọc Hân được gả cho Nguyễn Huệ. Khi ấy, bà mới 16 tuổi, còn Nguyễn Huệ đã 33 tuổi và đã có vợ chính là bà Phạm Thị Liên.
Không lâu sau đó, Lê Hiển Tông qua đời, triều đình phải bàn chuyện lập người kế vị. Ngọc Hân cho rằng anh trai mình là Lê Duy Cận gần gũi và xứng đáng hơn nên ủng hộ ông lên ngôi. Tuy nhiên, ý kiến này bị tôn thất nhà Lê phản đối. Họ kiên quyết muốn lập Hoàng thái tôn Lê Duy Kỳ là con của Cựu Thái tử Lê Duy Vĩ. Trước sức ép từ tông tộc, Ngọc Hân buộc phải thuận theo, và Lê Duy Kỳ được đưa lên ngôi, tức vua Lê Chiêu Thống. Không lâu sau, bà rời Bắc Hà theo Nguyễn Huệ vào Thuận Hóa.
Năm Chiêu Thống thứ 2 (1788) trước khi dẫn quân ra Bắc đánh quân Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu Quang Trung. Ông phong Ngọc Hân làm Hữu cung Hoàng hậu, vì vị trí Chính cung Hoàng hậu đã thuộc về bà Phạm Thị Liên. Năm sau, sau chiến thắng hiển hách trước quân Thanh (1789), vua Quang Trung lại phong Ngọc Hân làm Bắc cung Hoàng hậu, thể hiện sự sủng ái và trân trọng dành cho bà.
Ngọc Hân sinh cho Quang Trung hai người con: Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Bảo và Hoàng tử Nguyễn Quang Đức.
Cuối đời
Năm Quang Trung thứ 5 (1792), vua Quang Trung đột ngột qua đời. Sau đó, Nguyễn Quang Toản với tư cách là Thái tử được đưa lên nối ngôi, lấy niên hiệu Cảnh Thịnh. Do chỉ là kế thất Lê Ngọc Hân khi ấy vẫn được tôn làm Hoàng thái hậu, nhưng địa vị và quyền lực của bà không còn như trước.
Theo bài nghiên cứu Danh nhân Lê Ngọc Hân của Chu Quang Trứ, sau khi Quang Trung mất, Ngọc Hân dần bị gạt khỏi trung tâm quyền lực. Bà rời cung điện Phú Xuân, đưa hai con đến sống tại chùa Kim Tiền ở Dương Xuân (Huế), gần khu Đan Dương – nơi thờ Quang Trung với danh nghĩa vừa phụng thờ chồng vừa nuôi con. Cuộc sống lặng lẽ và nhiều uất ức ấy kéo dài cho đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4/12/1799), khi bà qua đời ở tuổi 29.
Năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799), sau khi Ngọc Hân tạ thế, vua Cảnh Thịnh tiếp tục sai Phan Huy Ích soạn một bài sách văn để dâng thụy cho bà. Bài văn này trau chuốt, nghiêm trang, dùng ngôn ngữ cung đình nhằm tôn vinh đức hạnh và phẩm chất của Hoàng hậu, đồng thời thể hiện sự thương tiếc của triều đình. Toàn văn được chép lại trong Dụ Am Văn tập. Vua Cảnh Thịnh đã tự mình đọc bài tế trước linh cữu và truy tặng bà thụy hiệu Nhu Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng hậu.
Theo tộc phả họ Nguyễn Đình, sau khi triều Tây Sơn suy yếu và Phú Xuân rơi vào tay Nguyễn Phúc Ánh, hai con của Ngọc Hân cũng liên tiếp gặp nạn. Hoàng tử Nguyễn Quang Đức mất vào ngày 18 tháng 11 năm Tân Dậu (23/12/1801) khi mới 10 tuổi. Chỉ vài tháng sau, Công chúa Ngọc Bảo cũng qua đời vào ngày 17 tháng 4 năm Nhâm Tuất (18/5/1802) lúc mới 12 tuổi. Số phận của ba mẹ con bà vì vậy càng trở nên thương cảm.
An táng
Theo sách Biệt lục trong tộc phả họ Nguyễn Đình, vào năm 1804 bà Nguyễn Thị Huyền (mẹ của công chúa Ngọc Hân) vì thương con gái cùng hai cháu ngoại đều chết trẻ nơi đất khách, đã thuê người vào Phú Xuân đưa hài cốt ba mẹ con về quê. Ngày 16 tháng 7 năm ấy, bà cho an táng lại hài cốt Ngọc Hân tại bản dinh của mình (dinh Thiết Lâm). Hoàng tử Nguyễn Quang Đức được chôn ở bên trái và Công chúa Ngọc Bảo ở bên phải. Khu mộ này ngày nay thuộc bãi Cây Đại, hay còn gọi là bãi Đầu Voi, nằm ở đầu làng Nành, xã Phù Ninh (nay là xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội).
Chu Quang Trứ dẫn theo Đại Nam thực lục, cũng ghi lại sự việc này với chi tiết: thời Gia Long, một viên “ngụy đô đốc” tên Hài đã bí mật đưa hài cốt ba mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về Phù Ninh. Bà Nguyễn Thị Huyền sau đó âm thầm xây mộ, dựng đền và khắc bia, đồng thời đổi tên trên bia để tránh bị phát hiện. Tuy nhiên, chỉ gần nửa thế kỷ sau dưới triều Thiệu Trị, ngôi miếu thờ bị hư hại. Một ông tú người làng Nành nhớ công lao của Chiêu nghi họ Lê đối với dân đã đứng ra quyên góp tu sửa lại. Không ngờ, một viên phó tổng trong làng vì tư thù cá nhân, đã tố cáo ông tú với triều đình rằng việc dựng miếu là “thờ ngụy Huệ”. Kết quả là triều đình Huế ra lệnh phá bỏ miếu, quật cả ba ngôi mộ và ném hài cốt xuống sông. Ông tú bị kết tội nặng, còn Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai cũng bị giáng chức vì liên quan.
Trong bài viết Mấy vấn đề về vua Gia Long, GS. Trần Quốc Vượng cho biết ông từng đọc gia phả họ Nguyễn ở làng Nành. Gia phả chép rằng bà Huyền, thông qua con gái là bà Ngọc Bình đã làm đơn xin triều Gia Long cho cải táng mộ Ngọc Hân và hai con đưa về quê. Vua Gia Long đã đồng ý, hài cốt được đặt trong tiểu sành, vận chuyển bằng thuyền về làng Nành và xây mộ đàng hoàng. Đến thời Thiệu Trị, do sự ganh ghét và tố cáo sai trái của một kẻ cường hào trong làng, chính quyền địa phương đã phê chuẩn việc đào mả và ném hài cốt xuống sông Nhị.
Ngày nay, tại Gia Lâm vẫn còn đền Ghênh tương truyền là nơi hài cốt của công chúa Ngọc Hân trôi dạt vào và được người dân vớt lên, mai táng lại, lưu giữ lòng thương tiếc một nhân vật tài sắc nhưng bạc mệnh.
Tài liệu tham khảo
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Princess Le Ngoc Han (1770 – 1799)
Background
Le Ngoc Han was born on April 27, 1770 (Canh Dan year, 31st year of the Canh Hung era) in the capital Thang Long. She was a daughter of Emperor Le Hien Tong, recorded as either the 9th or the 21st daughter of the king depending on historical sources.
Her mother was Trieu Nhi Nguyen Thi Huyen (阮氏玄), born in Phu Ninh commune, Ha Duong hamlet, Tu Son district, Kinh Bac region (now Ninh Hiep commune, Gia Lam district, Hanoi). Nguyen Thi Huyen was the eldest daughter of Nguyen Dinh Giai. After entering the palace, she was granted the title of Trieu Nhi (Chiêu nghi), a high-ranking consort in the royal court of the Le dynasty.
Career
In May 1786 (47th year of the Canh Hung era), Tay Son general Nguyen Hue marched north under the pretext of “supporting the Le to eliminate the Trinh.” After defeating the Trinh forces, he entered the royal court to meet Emperor Le Hien Tong. Arranged by Nguyen Huu Chinh, Princess Le Ngoc Han was married to Nguyen Hue. At that time, she was only 16, while Nguyen Hue was 33 and already had his primary wife, Pham Thi Lien.
Shortly afterward, Emperor Le Hien Tong passed away, and the court debated on succession. Ngoc Han believed her brother Le Duy Can was closer and more suitable, so she supported him for the throne. However, the Le royal family opposed this and insisted on placing Crown Prince Le Duy Ky, son of the former Crown Prince Le Duy Vi. Under pressure from the royal clan, Ngoc Han had to comply, and Le Duy Ky ascended the throne as Emperor Le Chieu Thong. Soon after, she left Bac Ha with Nguyen Hue to Thuan Hoa.
In 1788 (2nd year of Chieu Thong), before leading his army north to fight the Qing forces, Nguyen Hue ascended the throne as Emperor Quang Trung. He granted Ngoc Han the title of Huu cung Empress because the position of primary empress was already held by Pham Thi Lien. The following year, after his brilliant victory over the Qing (1789), Emperor Quang Trung promoted Ngoc Han to Bac cung Empress, showing his favor and respect for her.
Ngoc Han bore Quang Trung two children: Princess Nguyen Thi Ngoc Bao and Prince Nguyen Quang Duc.
Later Life
In 1792 (5th year of Quang Trung), Emperor Quang Trung suddenly passed away. His successor, Nguyen Quang Toan, as Crown Prince, ascended the throne with the era name Canh Thinh. Although Ngoc Han was now a stepmother, she was still honored as Empress Dowager, but her power and influence were no longer as before.
According to Chu Quang Tru in Danh nhan Le Ngoc Han, after Quang Trung’s death, Ngoc Han gradually lost her place in the center of power. She left the Phu Xuan palace and took her two children to live at Kim Tien pagoda in Duong Xuan (Hue), near Dan Duong – the area where Quang Trung was worshiped – under the pretext of both honoring her late husband and raising her children. This quiet and sorrowful life lasted until November 8, 1799 (Ky Mui year, 4/12/1799), when she passed away at the age of 29.
In 1799 (7th year of Canh Thinh), after Ngoc Han’s death, Emperor Canh Thinh ordered Phan Huy Ich to compose an elegant and solemn posthumous tribute to her, praising her virtue and qualities as an empress while expressing the court’s mourning. The full text is recorded in Du Am Van Tap. Emperor Canh Thinh personally read the memorial before her coffin and posthumously granted her the title Nhu Y Trang Thuan Trinh Nhat Vu Empress.
According to the Nguyen Dinh clan genealogy, after the Tay Son dynasty weakened and Phu Xuan fell to Nguyen Phuc Anh, Ngoc Han’s two children met tragic ends. Prince Nguyen Quang Duc died on November 18, 1801 (Tan Dau year) at age 10. A few months later, Princess Ngoc Bao passed away on April 17, 1802 (Nhâm Tuat year) at age 12. The fate of Ngoc Han and her children is thus particularly tragic.
Burial
According to Biet Luc in the Nguyen Dinh family records, in 1804, Nguyen Thi Huyen (Ngoc Han’s mother), grieving for her daughter and two grandchildren who died young in a foreign land, hired people to bring their remains from Phu Xuan back to her hometown. On July 16 of that year, she reburied Ngoc Han at her family estate (Thiet Lam estate), with Prince Nguyen Quang Duc on the left and Princess Ngoc Bao on the right. This tomb is now located in Bai Cay Dai, also called Bai Dau Voi, at the head of Nanh village, Phu Ninh commune (now Ninh Hiep commune, Gia Lam district, Hanoi).
Chu Quang Tru, citing Dai Nam Thuc Luc, also recorded that during Gia Long’s reign, a “puppet general” named Hai secretly transported the remains of Ngoc Han and her two children from Phu Xuan to Phu Ninh. Nguyen Thi Huyen then quietly built a tomb, erected a temple, and carved a stele, while changing the names on it to avoid detection. However, nearly half a century later, during the Thieu Tri era, the temple was damaged. A scholar from Nanh village who remembered Chiêu nghi Le’s contributions to the people organized donations to repair it. Unexpectedly, a local deputy official, out of personal grudge, accused him to the royal court that the temple was “worshiping the traitor Hue.” The Hue court ordered the destruction of the temple, exhumation of all three graves, and disposal of the remains into the Nhị River. The scholar was severely punished, and the Bac Ninh Governor Nguyen Dang Giai was demoted for involvement.
In the article Some Issues about Emperor Gia Long, Prof. Tran Quoc Vuong mentioned that he read the Nguyen family genealogy in Nanh village. It records that Huyen, through her daughter Ngoc Binh, petitioned the Gia Long court to relocate Ngoc Han’s and her two children’s tombs to their hometown. Gia Long approved, and the remains were placed in ceramic urns, transported by boat to Nanh village, and properly reburied. During Thieu Tri’s reign, due to jealousy and false accusations by a local powerful figure, the local authorities approved the excavation and disposal of the remains into the Nhi River.
Today, in Gia Lam, the Ghenh Temple is still believed to be the place where Princess Ngoc Han’s remains washed ashore and were collected by local people for reburial, preserving the memory of a talented but tragic figure.
References
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Pháp
Princesse Le Ngoc Han (1770–1799)
Origines
Le Ngoc Han naquit le 27 avril de l’année Canh Dan, sous la 31e année du règne Canh Hung (1770), à la capitale Thang Long. Elle était la fille de l’empereur Le Hien Tong et, selon les différentes sources historiques, elle fut considérée comme sa neuvième ou sa vingt-et-unième fille.
Sa mère était la Chieu nghi Nguyen Thi Huyen 阮氏玄, originaire du village de Phu Ninh, tổng Ha Duong, phủ Tu Son, trấn Kinh Bac (actuellement commune de Ninh Hiep, district de Gia Lam, Hanoi). Nguyen Thi Huyen était la fille aînée de Nguyen Dinh Giai. Après son entrée au palais, elle fut élevée au rang de Chieu nghi, l’un des titres élevés parmi les épouses secondaires de la cour des Le.
Carrière
En mai de la 47e année Canh Hung (1786), le général Tay Son Nguyen Hue marcha vers le Nord sous la bannière « soutenir les Le, éliminer les Trinh ». Après avoir détruit la puissance de la famille Trinh, il entra au palais pour rencontrer l’empereur Le Hien Tong. Grâce aux arrangements de Nguyen Huu Chinh, la princesse Le Ngoc Han fut mariée à Nguyen Hue. Elle n’avait alors que seize ans, tandis que Nguyen Hue, âgé de trente-trois ans, était déjà marié à son épouse principale, Pham Thi Lien.
Peu après, Le Hien Tong mourut, et la cour dut discuter de la succession. Ngoc Han soutenait son frère Le Duy Can, qu’elle estimait plus proche et plus digne. Mais les membres de la famille impériale s’y opposèrent fermement, voulant établir Le Duy Ky, fils de l’ancien prince héritier Le Duy Vi. Sous cette pression, Ngoc Han dut céder, et Le Duy Ky monta sur le trône sous le nom de Le Chieu Thong. Peu après, elle quitta Bac Ha pour suivre Nguyen Hue à Thuan Hoa.
En 1788 (2e année Chieu Thong), avant son expédition contre les Qing, Nguyen Hue se proclama empereur sous le nom de Quang Trung. Il conféra à Ngoc Han le titre de Hou khung Hoang hau, car le rang d’impératrice principale appartenait déjà à Pham Thi Lien. L’année suivante, après la victoire éclatante contre les Qing (1789), il lui attribua le titre de Bac khung Hoang hau, pour exprimer la faveur et l’estime particulières qu’il lui portait.
Ngoc Han donna à Quang Trung deux enfants : – la princesse Nguyen Thi Ngoc Bao– le prince Nguyen Quang Duc
Fin de vie
En 1792 (5e année Quang Trung), l’empereur Quang Trung mourut subitement. Son fils Nguyen Quang Toan, alors prince héritier, monta sur le trône sous le nom de Canh Thinh. Bien que Ngoc Han ne fût qu’une épouse secondaire, elle fut tout de même élevée au rang d’impératrice douairière (Hoang thai hau), mais son influence n’était plus ce qu’elle avait été.
Selon l’étude Danh nhan Le Ngoc Han de Chu Quang Tru, après la mort de Quang Trung, Ngoc Han fut progressivement écartée du pouvoir. Elle quitta le palais de Phu Xuan pour s’installer avec ses deux enfants au temple Kim Tien à Duong Xuan (Hue), près du mausolée de Dan Duong, lieu où reposait Quang Trung. Elle y vécut dans la discrétion et la douleur jusqu’au 8e jour du 11e mois de l’année Ky Mui (4 décembre 1799), lorsqu’elle mourut à l’âge de vingt-neuf ans.
En 1799 (7e année Canh Thinh), après son décès, l’empereur Canh Thinh chargea Phan Huy Ich de rédiger un texte cérémoniel pour lui conférer un titre posthume. Le texte, solennel et raffiné, employait le langage cérémonial de la cour et fut consigné dans le Du Am Van tap. L’empereur lui-même lut l’oraison funèbre devant le cercueil et lui attribua le titre posthume Nhu Y Trang Thuan Trinh Nhat Vu Hoang hau.
Selon la généalogie de la famille Nguyen Dinh, après l’effondrement des Tay Son et la prise de Phu Xuan par Nguyen Phuc Anh, les deux enfants de Ngoc Han connurent également un triste sort. Le prince Nguyen Quang Duc mourut le 23 décembre 1801, à l’âge de dix ans. Quelques mois plus tard, la princesse Ngoc Bao mourut à douze ans, le 18 mai 1802. Le destin des trois mère-enfants inspira une profonde compassion.
Inhumation
La Biet luc de la généalogie Nguyen Dinh indique qu’en 1804, Nguyen Thi Huyen — la mère de Ngoc Han — fit secrètement transférer les dépouilles des trois membres de la famille depuis Phu Xuan vers leur village natal. Le 16 juillet 1804, elle fit réinhumer Ngoc Han dans son domaine (dinh Thiet Lam), le prince Nguyen Quang Duc à gauche, et la princesse Ngoc Bao à droite. Le site funéraire correspond aujourd’hui au lieu appelé Bai Cay Dai ou Bai Dau Voi, à l’entrée du village de Nanh, commune de Phu Ninh (actuellement Ninh Hiep, Gia Lam, Hanoi).
Chu Quang Tru, citant le Dai Nam thuc luc, rapporte qu’à l’époque de Gia Long, un « faux amiral » nommé Hai aurait secrètement ramené les dépouilles des trois personnes à Phu Ninh. Nguyen Thi Huyen fit ensuite bâtir un tombeau, ériger un autel et une stèle, en changeant les noms pour éviter toute accusation. Pourtant, moins d’un demi-siècle plus tard, sous le règne de Thieu Tri, le sanctuaire fut détruit. Un lettré du village, voulant restaurer le lieu en mémoire de la Chieu nghi, fut dénoncé par un notable local jaloux ; il fut accusé de « vénérer un rebelle ». La cour de Hue ordonna alors de raser le sanctuaire, d’exhumer les trois tombes et de jeter les ossements dans la rivière. Le lettré fut lourdement puni et le gouverneur Nguyen Dang Giai fut rétrogradé.
Dans son étude Quelques questions concernant le roi Gia Long, le professeur Tran Quoc Vuong rapporte avoir lu une généalogie de la famille Nguyen du village de Nanh, affirmant que Nguyen Thi Huyen — par l’intermédiaire de sa fille Ngoc Binh — demanda et obtint la permission de Gia Long pour la réinhumation des trois tombes à leur village natal, dans des urnes funéraires, transportées par bateau.
À Gia Lam, existe aujourd’hui le den Ghenh, un sanctuaire où, selon la tradition, les restes de la princesse Le Ngoc Han auraient dérivé et été recueillis par les habitants, qui les enterrèrent à nouveau en signe de respect envers cette femme talentueuse mais au destin tragique.
Références
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Trung
黎玉嫻公主 (Le Ngoc Han)(1770 – 1799)
身世
黎玉嫻生于景興三十一年庚寅年(1770年)四月二十七日,在升龍京城。她是黎顯宗(Le Hien Tong)皇帝的女儿,根据不同史料记载,她是皇帝的第九或第二十一位女儿。
她的母亲是昭儀阮氏玄(Nguyen Thi Huyen),籍贯京北鎮慈山府下陽總富寧社(今河內市嘉林縣寧協社)。阮氏玄为阮廷楷(Nguyen Dinh Giai)长女,入宫后被封为昭儀,是黎朝后宫地位较高的妃嫔。
事業
景興四十七年五月(1786年),西山將軍阮惠(Nguyen Hue)北伐,以「扶黎滅鄭」為名。在擊敗鄭氏勢力後,他入朝謁見黎顯宗。在阮有徵(Nguyen Huu Chinh)的安排下,黎玉嫻公主被嫁給阮惠。當時,她年僅十六歲,而阮惠已三十三歲,且已有正妻范氏蓮(Pham Thi Lien)。
不久後,黎顯宗去世,朝廷討論繼位人選。玉嫻認為她的兄長黎維近(Le Duy Can)更親近、更合適,支持他即位,但此意見遭黎氏宗室反對。他們堅持立皇太孫黎維祺(Le Duy Ky),即前太子黎維偉之子。在宗族壓力下,玉嫻被迫順從,黎維祺即位,稱黎昭統帝(Le Chieu Thong)。不久,她隨阮惠返回順化(Thuan Hoa)。
昭統二年(1788年),阮惠北伐清軍前稱帝,年號光中(Quang Trung),封玉嫻為右宮皇后,因正宮皇后已屬范氏蓮。翌年,光中帝在擊敗清軍(1789年)後,改封玉嫻為北宮皇后,以示寵愛與尊重。
玉嫻與光中帝育有二子:公主阮氏玉寶(Nguyen Thi Ngoc Bao)與皇子阮光德(Nguyen Quang Duc)。
晚年
光中五年(1792年),光中帝猝逝。皇太子阮光全(Nguyen Quang Toan)繼位,年號景盛(Canh Thinh)。作為繼室的黎玉嫻仍被尊為皇太后,但其地位與權力已不如從前。
據朱光著《黎玉嫻名人》研究,光中帝去世後,玉嫻逐漸被排除於權力中心。她離開富春宮,帶兩子居於陽春(Hue)金錢寺,靠近丹陽區域——光中帝祭祀處,以奉夫兼養子名義生活。這段寂寞而壓抑的生活一直持續至己未年(1799年)十一月初八(12月4日),享年二十九歲。
景盛七年(1799年),玉嫻去世後,景盛帝命潘輝益(Phan Huy Ich)撰寫祭文賜諡。該文莊重典雅,以宮廷語言頌揚皇后品德,表達朝廷哀悼,全篇收入《預庵文集》。景盛帝親自朗讀祭文,追贈諡號「柔懿莊順貞一武皇后」。
據阮氏家譜記載,西山衰敗、富春落入阮福映(Nguyen Phuc Anh)手中後,玉嫻之二子接連遇難。皇子阮光德於辛酉年十一月十八日(1801年12月23日)逝世,年僅十歲。數月後,公主玉寶於壬戌年四月十七日(1802年5月18日)去世,年僅十二歲。三母子命運令人唏噓。
安葬
據《別錄》阮氏家譜,1804年,玉嫻母阮氏玄因愛女與兩孫早逝於他鄉,聘人將三人骨骸自富春運回家鄉。當年七月十六日,安葬於自宅(鐵林第)。皇子阮光德葬左側,公主玉寶葬右側。今墓區位於大樹灘(又名象首灘),在甯協社南端。
朱光著引《大南實錄》亦記錄此事:嘉隆時,一名偽都督解悄將玉嫻三人骨骸秘密自富春運回甯社。阮氏玄暗中修墳、建廟、刻碑,並更名以避人發現。惟半世紀後,紹治朝廟宇損壞,一名南社進士為昭儀黎氏功勞籌資修復。不料,地方副總因私怨上奏稱其「奉偽惠」,結果朝廷下令拆廟、掘三墓、棄骨於江。進士受重罰,北寧總督阮登佳(Nguyen Dang Giai)亦降職牽連。
陳國旺教授《關於嘉隆帝的若干問題》指出,他曾閱甯社阮氏家譜,家譜記載阮氏玄透過女兒玉平(Ngoc Binh)向嘉隆帝呈請改葬玉嫻及二子,帝准許,骨骸置小陶罐,運舟返甯社,並修築妥善墓冢。至紹治時,由於地方豪強妒忌及誣告,地方官批准挖墓,將骨骸棄入二江。
今嘉林仍存傳說中的Ghênh廟,傳為玉嫻骨骸漂至此處,民眾撿起再葬,以寄託對這位才貌雙全但命運多舛的公主的哀思。
參考
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.