Thân thế
Đại đức Lâm Hùng, sinh năm 1947 tại một gia đình nông dân nghèo thuộc ấp Vĩnh Đẳng, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Ông là trưởng nam của ông Lâm Lai và bà Thị Chanh – những người nông dân cần cù trên ruộng đồng quê hương. Cái nhà lá ba gian dưới rặng dừa xanh mát đã là nơi sinh sống trong thời kỳ thơ ấu của ông.
Là con trai lớn nhất trong gia đình nên ngay từ lúc nhỏ, ông đã phải làm lụi làm ăn, giúp cha mẹ chăm sóc một đàn em nhỏ. Lâm Hùng còn bốn đứa em cả trai và gái là Lâm Thị Dũng, Lâm Thị Dệ, Lâm Ừu và Lâm Thị Thêu.
Thuở nhỏ ông vừa đi học ở trường làng vừa chăn trâu và giúp cha mẹ trong công việc ruộng đồng vất vả. Công việc lao động hằng ngày đã làm cho ông gắn bó tha thiết với quê hương và gắn gũi, thông cảm với người nông dân dưới chế độ cũ, một nắng hai sương, chẳng những đổ mồ hôi mà còn đổ máu trên ruộng đồng quê hương.
Thời kỳ xuất gia tu học
Năm 1954, thân sinh đã cho đi học tiếng phổ thông ở cơ sở ấp Vĩnh Đẳng.
Đến năm 1956 được đi học tiếng Khmer ở chùa Khlang Ông ấp Minh An, xã Minh Hòa.
Đến năm 1958 thì trở về lại với gia đình, tiếp tục học tiếng phổ thông ở ấp Vĩnh Đẳng như trước. Thời gian này mỗi ngày ông đi học một buổi và còn một buổi thì đi làm lao động giúp gia đình.
Đến ngày 15/4/1964, Đại đức Lâm Hùng được vào tu học theo truyền thống Khmer ở chùa Cù Là Cũ, ấp Vĩnh Niên, xã Vĩnh Hòa Hiệp (bây giờ là thị trấn Minh Lương).
Được gia đình và bà con trong xóm rất thương yêu vì tính tình hiền hậu lại rất thẳng thắn. Suốt 16 năm sống ở gia đình làng xóm chưa có ai than phiền hoặc gây gổ gì với Lâm Hùng. Đối với các em ông cũng là một người anh cả rất có trách nhiệm, luôn chăm lo và săn sóc chúng cho nên các em rất thương yêu và kính trọng. Bạn bè thân thiết của Lâm Hùng từ thuở nhỏ có anh Danh Biểu và Danh Nanh là những nông dân nghèo cùng lao động, chăn trâu, cùng cắp sách đến trường cho nên cũng rất mến thương yêu và thông cảm nhau.
Đại đức Lâm Hùng là một người con trai có sức khoẻ cường tráng, có tác phong nhanh nhẹn, niềm nở, vui vẻ và biết kính trọng thân sinh. Vì thế đã được rất nhiều bà con trong xóm yêu thích. Trước khi viên tịch Đại đức Lâm Hùng đã học hết lớp 5 tiếng Khmer, lớp 6 tiếng phổ thông rồi có bằng cấp về ngành y lớp y tá.
Ngày 14/9/1967, Lâm Hùng được thọ giới Tỳ khưu từ ngài Hòa thượng Danh Tấp tại chùa Cù Là Cũ nay thuộc xã Minh Thuận, huyện Châu Thành, Kiên Giang.
Từ ngày tu ở chùa, Lâm Hùng với bản chất là một người lao động cần cù, hay giúp đỡ những bạn đồng môn, lại là một sư sãi rất gương mẫu trong các công việc của nhà chùa nên được các bạn đồng liêu hết sức quý mến và khâm phục. Những ngày tại chùa Cù Là Cũ, Lâm Hùng được rèn luyện thêm nhiều sự hiểu biết về đạo Phật cũng như học thêm chữ Khmer – ngôn ngữ của dân tộc mình. Trong học tập, lao động cũng như rèn luyện bản thân trong khi thọ giới nhà Phật, Lâm Hùng tỏ ra có rất nhiều tiến bộ, được các Phật tử người dân Khmer trong vùng cảm mến và tín nhiệm cho nên chẳng bao lâu sau Đại đức Lâm Hùng được tập thể nhà chùa giao cho chức vụ, ngày 14/4/1972 được đồng bào Phật tử tôn nhiệm giao cho chức phó trụ trì.
Thời kỳ hành đạo
Ngày 16/3/1973, sau một thời gian theo dõi và được thử thách, Đại đức Lâm Hùng được tập thể sư sãi yêu nước bầu làm ủy viên của Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước huyện Châu Thành, lúc đó Danh Mây là Hội trưởng và đã trực tiếp lãnh đạo các vị sư sãi ở bốn chùa Cù Là Cũ, Cù Là Mới, Rạch Sỏi và chùa Chung (ở Giục Tượng).
Nhờ có học và biết nghiệp vụ chuyên môn y tá nên Lâm Hùng cũng ra tay cứu chữa bệnh cho bà con Khmer trong các xóm hoặc chăm sóc cho các bạn đồng liêu của mình. Đáng ghi nhớ nhất là thời gian Đại đức Danh Tấp trụ trì chùa Cù Là đau ốm, Lâm Hùng chăm sóc và cứu chữa rất tận tình. Sư chăm sóc và chữa chạy do biểu hiện đức độ của người chân tu và lòng mến yêu sâu sắc với những người đồng chung cảnh ngộ.
Đại đức Lâm Hùng là người đại biểu trung thành của sư sãi yêu nước và của dân tộc Khmer hiện đang sinh sống trên miền Tây của Tổ quốc Việt Nam.
Con đường cách mạng
Thời kỳ đó Hoa Kỳ – Thiệu đã thực hiện chính sách ngu dân để dễ dàng trong việc mở rộng quyền lực. Bọn chúng thực hiện chính sách xuyên tạc, phản động với người dân tộc, dồn quân bắt lính trong các sư sãi thanh niên để đi làm bia đỡ đạn chết thay bọn chúng. Ngoài ra chúng còn lấy chùa chiền làm đồn bốt, trại quân, cấm không cho học chữ Khmer, không cho sư sãi tụng kinh làm lễ đám theo truyền thống, cấm không cho nói tiếng Khmer, phong toả không cho sư sãi ra khỏi chùa, không cho sư sãi đi từ chùa này sang chùa khác.
Vì thế trong tình hình đời sống bị chà đạp chèn ép, thâu tóm quyền dân chủ và tự do tín ngưỡng của con người, Đại đức Lâm Hùng không thể chịu sự chà đạp đó được, lúc này cũng nhận được lệnh nhiệm vụ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và thành viên huyện Châu Thành.
Bốn giờ chiều ngày 16/10/1965 giặc Mỹ – Ngụy dùng máy bay ném bom xuống chùa ở Đường Xuồng thuộc xã Định Hòa, huyện Gò Quao làm chết và bị thương trên 300 sư sãi và đồng bào Khmer tại địa phương, trong đó có Hòa thượng Danh Kim trụ trì chùa Thanh Gia.
Nhiều cuộc đấu tranh đòi địch phải đền bồi sinh mạng tài sản của nhân dân và sư sãi, đòi bọn phi công ném bom tại chùa phải đến tội.
Ngày 05/6/1974, bọn cảnh sát Ngụy đã vây bắt dọc đường 10 vị sư sãi đi dự lễ hỏa táng Hòa thượng Danh Con tại chùa Cà Lang Mương. Bắt bớ sư sãi đi lính là hành vi ngang ngược của bọn Mỹ Ngụy để làm bia đỡ đạn cho chúng và khoét sâu vào mối căm thù trong lòng nhân dân.
Chính vì vậy 6/6/1974 Đại đức Lâm Hùng và một số vị Đại đức khác hợp tại chùa Cà Lang quyết định đưa lực lượng sư sãi đấu tranh đòi trả tự do cho mười vị sư.
Chiều ngày 7/6/1974, 200 vị sư sãi dưới sự lãnh đạo của Đại đức Lâm Hùng kéo đến Hội đồng xã Minh Hòa đòi thả các nhà sư, nhưng bọn địch giải các nhà sư ra quận Kiên Thành.
Lâm Hùng đã dẫn đầu đoàn biểu tình của sư sãi xông vào Hội đồng xã Minh Hòa lục soát nhưng không tìm thấy các vị sư bị bắt nên lúc 16 giờ 45 phút đoàn biểu tình đã trở về vị trí xuất phát của mình. Đêm hôm đó Đại đức Lâm Hùng cùng các đại đức khác hợp ở chùa Cà Lang Oong rút kinh nghiệm cuộc đấu tranh vừa qua và đi đến nhất trí là phải tiếp tục xuống đường đấu tranh quyết liệt thì mới có thể giành lấy tự do cho các sư sãi.
Lúc 20 giờ ngày 8/6/74 tại trước liêu của Đại đức Danh Kê, một cuộc họp của Đại đức Lâm Hùng và các đại đức đại diện cho các chùa để lãnh đạo cuộc đấu tranh trực diện với quân thù. Hội nghị đã quyết định lực lượng các sư sãi trong toàn tỉnh (gồm có 71 chùa) tiến hành cuộc đấu tranh ngày 10/6/74, Lâm Hùng chịu trách nhiệm bốn chùa gồm: Cù Là Cũ, Cù Là Mới, Rạch Sỏi, chùa Chung tham gia lực lượng biểu tình.
Hồi 6 giờ 45 phút ngày 10/6/74, Đại đức Lâm Hùng đã dẫn đầu đoàn biểu tình của hơn hai nghìn sư sãi và hơn 600 đồng bào Việt và Khmer kéo dọc lộ 12 từ Minh Lương đi theo hướng Rạch Sỏi. Đến cống Tà Niên, bọn cảnh sát quận rào dây thép ngăn đoàn, đại đức Lâm Hùng đã xông lên trước, lấy ván bắc lên dây thép gai để vượt qua và hô hào đoàn tiến lên. Tên Lê Hoàng Hoa đến chặn đường và nhổ cây trầm làm hàng rào đánh các vị sư sãi, Đại đức Lâm Hùng đánh lại bằng cán dù làm tên Lê Hoàng Hoa bị thương, sau đó Đại đức dẫn em em xông vào giật máy ảnh. Tên Hoa hoảng hốt nhảy lên xe chạy vòng ngã cầu và về dinh quận Kiểu Thành để báo cáo Ngụy. Với khí thế trào thắng xông lên Đại đức Lâm Hùng cùng các vị sư tiến lên phía trước.
Đến gần giếng cây Trâm (nhà Tám Đô) một đại đội Ngụy chặn đường tiến của đoàn, chặn hàng rào dây thép gai và ném lựu đạn khói vào đoàn nhưng Lâm Hùng đã hô to kêu gọi đoàn vượt lên phía trước. Bọn địch hoảng sợ tạt qua hai bên đường. Đoàn biểu tình tiến lên phía trước và Lâm Hùng cùng một số vị sư sãi đã đẩy một chiếc xe jeep của Ngụy xuống ruộng.
Tại giếng cây Trâm, chúng lại rào dây thép gai và hàng tiêu đoàn dịch được bố trí chặn đường. Đại đức Lâm Hùng tiến lên phía trước hô báo cáo các vị sư sãi tiến lên. Địch ném hàng trăm lựu đạn khói mù mịt cả lối đi và hăm dọa nổ súng, nhưng các vị sư sãi vẫn tiến tới, đến trường học chúng bắn chỉ thiên hàng loạt phát súng. Lúc này nhiều toán lính địch chạy tới lui la ó hăm dọa, nhưng Lâm Hùng vẫn xông tới.
Đến dinh quận Kiên Thành, bọn địch báo động và cho lính kéo ngang lộ ba dây hàng rào dây thép gai và đặt mìn trên đường để quyết liệt chặn đường tiến lên của đoàn. Chúng ném lựu đạn khói và lựu đạn miểng ở trước mặt đoàn, và loá rát đủ dọa để uy hiếp tinh thần của đoàn.
Ở hàng rào dây thép gai, chúng đề biển “vượt rào có quyền nổ súng” nhưng đoàn biểu tình vẫn tiến tới. Một số khoảng 30 nhà sư đã vượt khỏi hàng rào thép gai. Lúc đó nhiều loạt súng trường và súng máy nổ dữ dội.
Bốn vị đại đức: Lâm Hùng, Danh Hoi, Danh Tấp, Danh Hom đã xông vào lửa đạn tiến lên. Một số đồng bào và các vị sư sãi bị thương vì mìn và lựu đạn của địch.
Lâm Hùng cầm dù tiến về phía trước hô to tiến lên thì một viên đạn trúng gây chấn phải, Lâm Hùng té xuống nhưng vẫn cầm dù, vẫn gọi đoàn tiến lên. Địch bắn dữ dội một loạt đạn trúng vào bụng của Lâm Hùng. Đại đức bị ngã sấp tới phía trước nhưng vẫn gắng gượng dậy, dùng tay phải vẫy gọi đoàn biểu tình đi lên phía trước và hô to khẩu hiệu: “Hỡi các sư sãi hãy đoàn kết tiến lên đánh bọn cảnh sát quận cảnh”.
Nhiều lần Đại đức gượng dậy và ngoắc tay cho đoàn biểu tình đi lên.
Vì vết thương trầm trọng và máu ra nhiều nên Đại đức đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 10/06/1974. Thi hài của Đại đức Lâm Hùng cùng 3 vị đại đức: Danh Tấp, Danh Hom, Danh Hoi bị địch cũng lấy đi về nhà xác của bệnh viện tỉnh Kiên Giang.
Lãnh đạo đoàn biểu tình đã cử hai vị Đại đức Hải Sơn và Danh Kê trực tiếp đến nhà xác đấu tranh với địch và đòi được 4 thi hài đưa về chùa Cù Là để tổ chức lễ an táng thi hài của 4 vị Đại đức đã hoằng tại đây 7 ngày.
Hàng chục ngàn vị Hòa thượng, Đại đức tăng ni, Phật tử ở 71 chùa trong tỉnh và đồng bào Khmer, Việt, các tổ chức Giáo hội đều đến cúng tế, để tang tưởng niệm và tụng kinh, làm phước tại chùa Cù Là.
Đại đức Lâm Hùng đã vĩnh biệt chúng ta nhưng trong lòng mọi người vẫn còn ghi lại một hình ảnh nhà sư yêu nước đã xả thân vì đại nghĩa đậm nét, đó là lúc 10 giờ.
Tấm gương sáng ngời đạo đức của một vị Đại đức tiêu biểu cho ý chí cách mạng triệt để của Đại đức Lâm Hùng đã làm cho thế hệ mai sau luôn luôn tưởng nhớ một vị chân tu của dân tộc Khmer đã góp phần cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Đối với gia đình, Đại đức Lâm Hùng là một người con hiếu thảo của gia đình, là người anh kính mến của các em, một người bạn chân thành của thanh niên cùng lứa tuổi.
Đối với Tổ quốc, Lâm Hùng là một công dân yêu nước đã hiến thân mình đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng.
Đồng bào Việt và Khmer đời đời nhớ ơn vị liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cấp bằng Tổ quốc ghi công cho liệt sĩ Lâm Hùng ngày 2/3/1979 để mãi mãi tưởng nhớ công ơn của liệt sĩ đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Nguồn: Thượng toạ Danh Lung, Đại đức Châu Hoài Thái (2014). Danh tăng Nam Tông Khmer. Nhà xuất bản Hồng Đức.