Đại sư Minh Châu Hương Hải (1628-1715)

Đại sư Minh Châu Hương Hải (1628-1715)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Cuộc đời tu hành, thơ Kệ của Đại sư Hương Hải đã được Lê Quý Đôn (1726-1784) ghi lại khá rõ ràng trong cuốn Kiến văn tiểu lục, quyển IX, của ông nói về Thiền Dật.

Theo họ Lê thì Đại sư Hương Hải có tên mà người ta thường gọi là “Tổ Cầu“. Nguyên gốc người ở “hương” Áng Độ, huyện Chân Phúc, châu Ái. Tổ tiên có người làm cai quản coi lính thợ đóng thuyền chiến cho vua Lê, có người được phong đến tước Quận Công, có người được tước Hầu. Vào năm 1558, khi Nguyễn Hoàng về làm Trấn thủ Thuận Hóa, tổ tiên bốn đời của Đại sư đem gia đình vào, đến ở làng Bình An, huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa, xứ Quảng Nam. Về sau tổ tiên Ngài được kể vào hàng công thần, được phong ấp, cấp ruộng và cho con cháu được thế tập đời đời.

Đại sư sinh năm Mậu Thìn (1628) niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 10 đời Lê Thần Tông ở Bắc Hà. Lúc đó tại Nam Hà là đời Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635). Thuở nhỏ rất thông minh, năm 18 tuổi thi đổ Hương Tiến, tức là bằng Cử Nhân sau này, vào năm (1646) gần cuối đời Công Thượng Vương Nguyễn Phúc Lan (1635-1648); được tuyển bổ vào làm Văn chức trong phủ chúa đóng ở xã Kim Long, huyện Hương Trà, xứ Thuận Hóa. Sau đó được bổ ra làm Tri phủ Triệu Phong.

Năm Nhâm Thìn (1652) đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1691), Ngài được 25 tuổi. Tuy đang độ tuổi thanh niên, lại đang làm quan to, có quyền hành trên địa bàn rất rộng, nhưng tâm Ngài đã hâm mộ đạo Phật huyền diệu. Ngài thường lui tới, đàm đạo và tu học với các danh Tăng như  Thiền sư Lục Hồ Viên Cảnh, Thiền sư Đại Thâm Viên Khoan. Ngài thâm hiểu đạo lý và nhàm chán lợi danh, nên mới làm Tri phủ được hơn ba năm, liền treo ấn từ quan. Hai mươi tám tuổi xin xuất gia với Thiền sư Lục Hồ Viên Cảnh, được đặt Pháp hiệu là Huyền Cơ Thiện Giác, Pháp tự là Minh Châu Hương Hải; về sau tiếp tục học đạo với Đại sư Đại Thâm Viên Khoan.

Sau đó Ngài dong thuyền ra núi Tiêm-bút-la hay còn gọi là Tiêm Bích La xứ Cù lao Chàm, dựng thảo am để ở, tu trì thiền định, giữ giới luật tinh nghiêm. Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn viết: “Đất này gọi là biển Ngọa Long cũng có một tên nữa là Cù lao Đại Lĩnh, ít mấy khi có người đi đến.”(1)

Trong Phủ biên tạp lục, chính họ Lê đã miêu tả rõ ràng rằng: “Phủ Thăng Hoa, ở ngoài cửa biển Đại Chiêm có núi to gọi là Cù Lao Chàm, ba ngọn đối nhau; hai ngọn lớn mà xanh tốt, có dân cư, ruộng nương, có các thứ cam quýt, đỗ lạc; trên có suối nước ngọt, một ngọn mà nhỏ thì khô khan; ra khỏi biển hai canh thì đến…”.

Khi Đại sư lập thảo am tu luyện ở đây, chúng ma thường quấy phá, làm trở ngại việc tu tập, song Ngài tuyệt nhiên không bị giao động. Tuy thế, nội ma ngoại chướng cũng đã làm cho Đại sư trở lại đất liền trong mấy ngày. Sau đó, dân đảo vào thỉnh mời, Đại sư Hương Hải lại cùng đồ đệ vượt thuyền ra núi Tiêm Bút La, dựng thảo am tu tập hành trì công phu tại đây trong 8 năm liên tục. Mọi người ở đảo cũng như trong đất liền đều kính phục. Phạm hạnh của Hòa thượng đã cao lắm; có thể chữa lành nhiều bệnh nan y cho mọi người. Thuần Quận Công Trấn thủ Quảng Nam; Hoa Lễ Hầu giữ chức Tổng thái giám ở Quảng Nam đều được Đại sư chữa lành bệnh cho người nhà, hoặc chính bản thân. Điều này nói lên công phu tu tập của Đại sư Hương Hải đã đạt đến trình độ siêu tuyệt. Hoa Lễ Hầu về Thuận Hóa đem sự việc dâng tờ “khải” lên Dũng Quốc Công Nguyễn Phúc Tần (1648-1687). Chúa Nguyễn Phúc Tần liền sai người ra đảo Tiêm Bút La đón Đại sư về đất liền.(2)

Sau khi Đại sư Hương Hải về đến nơi, chúa Nguyễn Phúc Tần rước về phủ chúa thăm hỏi, đàm đạo. Chúa sai lập Thiền viện ở núi Quy Kỉnh gọi là Thiền Tĩnh Viện để mời Đại sư trú trì và các đồ đệ của Đại sư cùng ở để tu tập.

Núi Quy Kỉnh tức là ngọn núi Rùa ở huyện Phú Lộc hiện nay. Vào thời các chúa Nguyễn: Cửa Eo, hay cửa Noãn, còn gọi là cửa Bạc Thác, cửa Thai Dương, về sau gọi là cửa Thuận An rất ít được dùng; mà để vào xứ Thuận Hóa người ta dùng cửa Tư Dung, hay còn gọi là cửa Tư Khách tức cửa Tư Hiền ngày nay. Tại cửa Tư Dung này, cảnh trí rất đẹp; phía nam cửa có núi Cái Sơn, phía đông liền núi Quy Sơn, phía tây bắc là phá nghìn khoảnh, nước của các nguồn Kim Trà, Cổ Nông, Hưng Bình, Cao Đôi chảy về (Lê Quý Đôn. Phủ biên…tr.98). Trong đầm phá ấy lại có Mỹ Am sơn tức là Thúy Vân sơn về sau này. Núi Quy Sơn cao 150 trượng, vì ngọn núi hướng ra biển, trông xa xa giống hình một con rùa nên còn gọi là núi Rùa.

Thời còn thuộc châu Ô của Chămpa, núi Rùa đã có tháp Chàmpa xây ở trên đó.

Nhưng, trước năm Bính Ngọ (1666), chúa Nguyễn Phúc Tần đi chơi cửa Tư Dung “thấy núi Quy Sơn (nay là núi Linh Thái) phong cảnh đáng yêu, trên đỉnh có một cây tháp cổ, nổi tiếng linh thiêng, sai Thủ bạ Trần Đình Ân đốc suất quân dân dời cây tháp đi nơi khác để lấy đất dựng chùa Phật. Công việc xong lấy tên là chùa Hòa Vinh.”

Đến tháng tư, mùa hạ năm Bính Ngọ (1666), chúa lại ra chơi, mở hội chùa rất lớn kéo dài đến 7 ngày đêm. Theo chúng tôi nghĩ đây có lẽ là ngày hội lớn mà chúa Nguyễn Phúc Tần đã khánh thành Thiền Tĩnh Viện để mời ngài Hương Hải trú trì làm Viện chủ. Vì chúng tôi tính theo thời gian của Ngài từ khi xuất gia như sau: 25 tuổi Ngài được bổ đi làm Tri phủ, hơn ba năm Ngài treo ấn từ quan và sau đó xuất gia, như vậy lúc đó Ngài đến khoảng 28 tuổi. Ẩn tu lần đầu ở Tiêm-bút-la 8 tháng rồi trở về lại đất liền; sau dân đảo vào thỉnh, Ngài và đồ đệ trở lại Tiêm-bút-la, thời gian này cho đi mất 1 (một) năm, lúc này Ngài được 29 tuổi. Tiếp theo tu tập luôn ở đảo 8 năm; như thế Ngài đến 37 tuổi; hai lần vào chữa bệnh đất liền và được mời trở lại phủ chúa mất 1 (một) năm;  lúc này Ngài đến 38 tuổi. Lấy năm sinh của Ngài là 1628 cộng với thời gian 38 năm; là đến đúng năm 1666 (Thời gian cộng sự việc này với việc khác là tính theo lời mô tả của Lê Quý Đôn)(3) Lê Quý Đôn nói tiếp: “Lập viện Thiền Tĩnh ở núi Quy Kỉnh cho nhà sư ở. Quốc thái phu nhân cùng 3 công tử là Phúc Mỹ, Hiệp Đức và Phúc Tộ đều quy y thụ giáo, quan dân binh lính ai cũng kính tin, xin quy y thụ giáo hơn 1.300 người.” Ngoài ra cả nhà Thuần Quận Công cũng xin quy y. Như thế Thiền viện Thiền Tĩnh lúc này có Phật tử cả hai xứ Thuận Quảng; có cả giai tầng đại quý tộc và quan lại. Không nói Quốc thái phu nhân là mẫu nghi thiên hạ lúc đó; thì còn có gia đình Thuần Quận Công và Hoa Lễ Hầu là những gia đình quan lại to trong Phủ Chúa nữa.

Thiền viện ở núi Quy Kỉnh sinh hoạt trong một thời gian khá dài, có đến hơn 16 năm. Thì xảy ra sự cố vô cùng quan trọng đối với Phật giáo Thuận Hóa. Số là lúc đó có một người ở Bắc Hà theo quan quân vào đánh chúa Nguyễn, rủi bị bắt, nhưng chúa Phúc Tần tha tội và cho ra vào cung để dạy những người trong Nội phủ. Đó là Gia Quận Công, giữ chức Thị Nội Giám. Ông là người xã Thụy Bái, huyện Gia Định, xứ Kinh Bắc. Ông rất say mê Phật pháp, thường lui tới Thiền Tĩnh Viện để nghe Đại sư Hương Hải thuyết Pháp. Bọn quan trong phủ chúa ghen ghét, họ “khải” với chúa là vị Thiền sư cùng với Gia Quận Công đang mưu trí với nhau để trốn ra Đàng Ngoài. Chúa Phúc Tần nghi ngờ, vặn hỏi mãi Đại sư Hương Hải; vô cớ, chúa bèn ra lệnh đưa Ngài về nguyên quán Quảng Nam, cách Thuận Hóa ba ngày đường. Do đó Đại sư Hương Hải mới quyết kế về Bắc Hà. Ngài đã bí mật chuẩn bị mấy chiếc thuyền và cùng với 50 đồ đệ vượt biển ra Bắc vào tháng 3 năm Nhâm Tuất, niên hiệu Chính Hòa thứ 3 (1682). Lúc ấy Ngài đã 55 tuổi. Tính ra, năm mở hội chùa khánh thành Thiền Tĩnh Thiền Viện vào năm 1666 là vẫn đúng.

Ngài và đoàn đệ tử ra Bắc, yết kiến viên Đốc tướng là Yên Quận Công Trịnh Na. Viên này tâu về Thăng Long, Định Nam Vương Trịnh Căn cho Đường Quận Công đem thuyền ra đón đoàn Thiền tăng ở Thiền Tĩnh Viện Nam Hà ra.

Năm Canh Thìn (1700) niên hiệu Chính Hòa, Đại sư đến sửa sang lại chùa Nguyệt Đường, thu nhận hơn 70 đệ tử. Vua Dụ Tông đón Ngài về kinh, lúc này Ngài đã 80 tuổi. Vua xin Ngài thuyết Pháp cho nghe. Ngài đọc bài kệ:

反 聞 自 己 每 常 觀
審 察 思 惟 子 細 看
莫 教 夢 中 尋 知 識
將 來 面 上 睹 師 顏。

Phiên âm:

Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,
Thẩm sát tư duy tử tế khan.
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức,
Tương lai diện thượng đổ sư nhan.

Tạm dịch:

Quay về nghe thấy chính mình đây
Quán sát tư duy thật tỏ bày
Tri thức chớ tìm trong mộng tưởng
Ngày sau ắt thấy mặt mày Thầy.

Nhà vua lại hỏi:

– Thế nào là ý của Phật?

Đại sư  đọc Kệ: 

鴈  過  長  空 
影  沈  寒  水,
無  移  跡  之  意,        
水  無  流  影  之  心 。

Phiên âm:     

Nhạn quá trường không,
Ảnh trầm hàn thủy,
Nhạn vô di tích chi ý,
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

Tạm dịch:     

Nhạn qua không trung
Bóng chìm nước lạnh
Nhạn nào có ý lưu di tích
Nước cũng không tâm giữ bóng hình.

Ngày 12 tháng 5 năm Ất Mùi (1715), vào buổi sáng sớm, Ngài đã 88 tuổi, đi tắm về, mặc áo cà sa, y hậu, đội mũ, đeo tràng hạt, ngồi kiết già phu tọa, an nhiên thị tịch.

Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn có lục được 38 bài thơ Kệ và 13 đoạn văn Ngữ Lục, chứa đựng thiền Lâm Tế của Ngài. Nếu kể về tuổi thọ thế gian, Hương Hải Đại sư đã sống trải 5 đời vua nhà Hậu Lê: Thần Tông, Chân Tông, Huyền Tông, Hy Tông và Dụ Tông. So với chúa Nguyễn ở phương Nam thì cũng có 5 đời chúa: Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635); Công Thượng vương Nguyễn Phúc Lan (1635-1648); Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (1648-1687). Đến đây thì Ngài rời Thuận Hóa; nhưng kể cho đến khi Ngài thị tịch, thì còn có Ngãi vương Nguyễn Phúc Thái (1687-1691) và Minh vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725).

Tuy từ 1682, Đại sư Hương Hải không còn hoằng hóa Phật pháp ở Thiền Tĩnh Viện tại núi Quy Sơn nữa, gây nên mối thiệt hại quá lớn lao cho Phật giáo Thuận Hóa; song xét trên bình diện Phật giáo Việt Nam, thì việc ra đi của Ngài và 50 đồ đệ đã làm cho Phật giáo Thuận Hóa truyền ra Bắc Hà, và nói chung thì đây chỉ là hậu quả thiếu sáng suốt của một vị chúa Nam Hà mà thôi vậy.

Chú thích:

  1. Lê Quý Đôn, Sđd tr.403. Bản Việt của Phạm Trọng Điềm, Nxb KHXH, Hà nội 1977.
  2. Trong “Việt Nam Phật giáo sử lược”, HT. Mật Thể viết: Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) sai người ra hải đảo mời về (tr.179). Trong Phật học Phổ thông khóa V, q.III tr. 85 (1990) Hòa thượng Thiện Hoa viết: Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1715) nghe danh sai người ra hải đảo mời và lập chùa để Ngài trú trì. Hai tài liệu này đều sai, Vì vào đời Nguyễn Phúc Chu là lúc Hương Hải Thiền sư đến tuổi 80 rồi, và Ngài đã ra Bắc từ lâu. Tài liệu của 2 sách trên lại cần đính chính năm của Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), không phải 1715.
  3. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục tr. 402-403-404. Bản Việt dịch của Phạm Trọng Điềm; Nxb. KHXH, Hà nội, 1977.

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.

Chấm điểm
Chia sẻ
Đai su minh chau huong hai 1628

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)