Đặng Huy Trứ (1825 – 1874)

Đặng Huy Trứ (1825 – 1874)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Chỉ ba mươi năm sau khi thế giới phát minh ra máy ảnh (1839) thì không ai ngờ tại Hà Nội đã có hiệu chụp ảnh. Người sáng lập chính là Đặng Huy Trứ, hiệu Vọng Tân, Tĩnh Trai, tự Hoàng Trung. Ông sinh ngày 16/5/1825 trong một dòng họ có truyền thống hiếu học.

Cuộc đời

Năm 15 tuổi ông đã thông kinh sử, 18 tuổi đậu cử nhân, 22 tuổi vào thi hội đậu thứ hạng 7. Sau đó thi đình vì phạm húy nên không đậu tiến sĩ và bị hủy bỏ cả cử nhân cũ. Tuy thế, Đặng Huy Trứ vẫn không nản lòng, sau đó ông thi hương lại đậu giải nguyên cùng khóa với Ông Ích Khiêm. Từ đó cho đến năm 1855 ông theo nghề dạy học ở nhiều nơi, từ Quảng Nam đến Quảng Trị. Ông bắt đầu cuộc đời làm quan vào năm 1856, khi thực dân Pháp bắt đầu rậm rịch xâm lược nước ta. Do đó, khi ra làm quan ông tâm niệm:

Tạo hóa sinh ta chẳng để nhàn,
Vì dân lợi hại sớm lo toan.

Ông lần lượt nhậm các chức: Tri huyện Quảng Xương (Thanh Hóa), Tri phủ Thiên Trường (Nam Định), Bố chánh Quảng Nam, rồi về làm ngự sử trong kinh. Trong thời gian làm quan, Đặng Huy Trứ đã viết Lời tự răn khi làm quan – mà nay đọc lại vẫn còn ý nghĩa thời sự: “Của cải đối với người ta như dầu mỡ đối với đồ vật. Đã dây bẩn thì không gột sạch được. Ta được vừa miệng thì dân bị hút máu. Ta đượcbảnh bao thân mình thì dân bị lột da. Ta đầy túi thì dân phải bán nhà, đợ ruộng. Ta được các khoản đãi bạn bè thì vợ con người dân chỉ còn cháo”. Và ông còn lưu ý đến việc: “Kẻ sĩ ra làm quan đâu phải tự mình khép vào luật cho nghiêm mà không cẩn trọng đối với gia đình. Thường có người tự mình rất giữ gìn danh tiết, song cha anh vợ con lại gây ra nhiều phiền lụy tai tiếng”. Và ông cũng nhìn thấy sự việc khá phổ biến là vợ quan ăn đút lót: “Thường những lời nỉ non thánh thót trong buồng the không khỏi làm cho các quan mê muội xiêu lòng”. Cuộc đời làm quan của ông hết sức thanh liêm được đời sau khen ngợi, và chính ông cũng tự dặn lòng mình:

Thức đến tàn canh, dậy trước lại,
Ăn rành một món khổ cùng dân.

Với ông, một người làm quan có trách nhiệm là phải lo cho dân. Ông chủ trương đầu mùa thì nhà nước mua lúa tàng trữ, khi mất mùa thì đem bán rẻ cho dân. Trong thơ, ông viết:

Mình thiệt lợi dân đều gắn bó,
Đẽo dân mình béo, dân căm hờn.
Hờn căm gắn bó tùy ta cả,
Duy chữ “Thanh thanh” đối thế nhân.

Sự nghiệp làm quan

Từ năm 1861, ông được gọi về kinh đô giữ chức Ngự sử. Với tấm lòng ưu ái với dân với nước, ông đã dâng lên vua Tự Đức hai vấn đề. Thứ nhất, xin đặt Ty vận chuyển lương thực bằng đường thủy thông Bắc – Nam để đủ lương thực đánh giặc, nhà vua đã phê: “Đa sự và cũng không am hiểu”. Thứ hai để xây dựng quân đội vững mạnh, ông đề nghị ra lệnh cấm tướng tá binh sĩ không một ai được hút thuốc phiện và bất cứ ai vi phạm thì cũng đều bị nghiêm trị như nhau, nhà vua phê: “Không phải việc gấp và cấm cũng không phải dễ”. Sau đó, ông được giao chức Bình chuẩn sứ để lo việc phát triển buôn bán, tăng thêm tài chính cho nhà nước. Chính ông là người đã cho mở nhiều cửa hiệu tại Hà Nội như Lạc Sinh Công điếm, Lạc Thanh điếm ở phố Thanh Hà. Ông đã cho xuất cảng 70 vạn cân thiếc sang Trung Quốc, thu về cho nhà nước 8.000 lạng bạc. Năm 1865, ông được cử làm Biện lý sự vụ bộ Hộ. Trong lúc này tình hình tiền tệ thiếu hụt, tài chính kiệt quệ, ông tâu với nhà vua:

– Việc kinh doanh buôn bán dẫu là nghệ mạt, gia đình thần lại là nhà nho ba, bốn, năm đời chịu ơn nước; thần xin đưa sức khuyển mã ra báo đáp, đảm nhận việc tài chính quốc gia, không từ nan.

Trong đời làm quan, ông có hai lần được cử đi công cán nước ngoài. Lần thứ nhất diễn ra vào tháng 5/1865, với nhiệm vụ “Thám phỏng Dương tình” – thăm dò,xem xét tình hình ở nước ngoài. Lúc xuống thuyền buôn Trung Quốc, ông đóng vai thương nhân, mặc áo quần nhà Thanh, gọt tóc bím. Ngoài nhiệm vụ “thám phòng” ở Trung Quốc, ông đãmua được 239 khẩu súng pháo có cự ly bắn qua núi và đôn đốc việc đóng tàu chạy bằng máy hơi nước đầu tiên dưới triều Tự Đức – sau được đặt tên là Mẫn Thỏa. Cũng trong chuyến đi này, ông thuê thợ chụp hai bức chân dung, rồi thuê vẽ hai ảnh truyền thần để so sánh và đem về giới thiệu nghề này trong nước. Qua năm 1867, ông lại được cử đi nước ngoài lần thứ hai. Lần nầy, ông quyết tâm mua dụng cụ máy móc nhiếp ảnh. Một người Thanh có tên là Dương Khải Trí chọn mua giúp cho ông đồ nghề nhiếp ảnh. Khi đến Hương Cảng, thấy những người được triều đình phái sang đóng thử tàu đồng chạy bằng hơi nước dưới sự hướng dẫn của kỹ sư người Anh, ông bèn lên tàu ngồi chạy thử. Niềm phấn khởi trước khoa học kỹ thuật đã tạo cho ông cảm hứng thành…thơ! Ông hy vọng và tin tưởng nghề đóng tàu trong nước sẽ được mở mang. Bởi vậy sau khi đọc xong sách Bác vật tân biên của Anh, ông ghi chép tỉ mỉ kỹ thuật về máy hơi nước. Đối với một người theo nho học mà có được tinh thần nhậy cảm với cái mới như thế thật đáng quý, đáng trân trọng biết chừng nào. Cũng trong thời gian này, ông bị ốm nặng ở đất khách quê người. Tuy thế, ông vẫn không chịu nghỉ ngơi, ông đã đọc cho người giúp viêc ghi lại tác phẩm Đặng Dịch Trai ngôn hành lục (Lời nóiviệc làm của cha tôi) – nhằm khẳng định con người sống phải duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, có “tu thân” và “tề gia” thì mới “trị quốc” được. Trong lời tựa, ông viết: “Thiên hạ là do nhiều nước hợp lại. Quốc gia là do nhiều nhà hợp lại. Người quân tử không ra khỏi nhà mà dạy bảo cho cả nước được là do thận trọng trong lời nói và việc làm vậy”. Đánh giá tác phẩm nầy, Hội Sử học Việt Nam khẳng định: “Đáng được coi là tấm gương soi chung cho mọi nhà, để người đời nay hiểu được và học được những cái tốt đẹp của người xưa”.

Sau khi về nước, Đặng Huy Trứ được bổ nhiệm làm Thương biện tỉnh vụ Hà Nội. Ông lấy Lạc Sinh Công điếm sửa sang lại để lập hiệu ảnh Cảm hiếu đường, khai trương ngày 14/3/1869 ở phố Thanh Hà. Và ông trở thành người Việt Nam đầu tiên du nhập nghề này vào Việt Nam. Quan điểm chụp ảnh của ông thể hiện qua hai câu thơ treo trước cửa hiệu:

Nhân yên trù mật Thanh Hà phố,
Thiện niệm du hưng Cảm Hiếu Đường

tạm dịch:

Thanh Hà phố ấy dân sung túc,
Cảm Hiếu Đường đây khách nhiệt nồng

và:

Hiếu dĩ sở thân nhân sở cộng,
Ảnh giai tiêu tượng thế nhân truyền

tạm dịch:

Hiếu thờ cha mẹ người người muốn,
Ảnh giống như người mãi mãi truyền

Ngoài ra để khuyến khích người dân trong nước đến với loại hình nghệ thuật rất mới mẻ nầy, ông đã viết bài giới thiệu như sau:

Trộm nghe:

Xưa nay không ai tái sinh được xương thịt, nhưng chụp ảnh có thể tái hiện được tinh thần. Muốn đi sâu vào ngọn nguồn, xin thử trình bày gốc ngọn của việc đó. Từ thuở mới có trời đất, chỉ có con người là tinh anh. Và cái đức tốt đẹp của đạo lý thì “hiếu” là đầu của trăm nết. Vì thân thể người ta là nhận được của cha mẹ: sau ba năm mới khỏi bế ẵm, cực kỳ phú quý như bậc công hầu, khanh tướng cũng không có cách nuôi nào khác, dù chỉ trong một ngày. Khi bé bỏng thì bồng bế yêu thương, suốt đời thì nhớ thì quý, lòng này lẽ ấy như nhau. Gặp ngày giỗ thì khóc, ngày sinh thì thương, lương tri lương năng đều vậy. Đi ắt thưa, về ắt trình, người có nhân không nỡ có lòng rời xa cha mẹ. Chết như sống, mất như còn, người con hiếu không nỡ có ý quên cha mẹ. Dù nơi quan san cách trở, mãi vẫn ôm nỗi nhớ! Huyên cỗi xuân già, không kịp báo đáp thì suốt đời mang mối hận ngàn thu. Một bức thư nhà gửi đến, thuật lại việc ăn ở, thức ngủ, nhưng chẳng thấy dung nhan. Hai hàng thần chủ nương hồn ghi rõ tên họ mà không tướng diện mạo. Trèo lên núi Hỗ trông cha, trèo lên núi Dĩ trông mẹ, mong ngóng mà nào thấy mặt. Cầu cõi âm, cầu cõi dương hòng mắt thấy tai nghe nào có gặp được. Xưa, Vương Kiền Thành tâm ứng mộng nhưng thức ngủ đều không thấy hình, thấy ảnh. Thiếu Nguyên trích máu nhận hài cốt cha mẹ nhưng nhan diện đã nát cùng với cỏ cây. Thọ Xương từ quan đi tìm mẹ nhưng bóng dâu đã ngã. Đinh Lan đẽo tượng thờ cha mẹ, nhưng e rằng tóc da khắc lên khó giống. Tình cảnh ấy ai có ai không? Nay muốn sớm tối vui như trẻ được mặc áo hoa, ngoài dặm mà dường như dưới gối, luôn thấy mặt, trăm năm sau mà vẫn in như trước mắt, khiến cho mọi người đều tỏ được tấm lòng thành hiếu thì chỉ có cách chụp ảnh là hay nhất. Có người bảo: việc này đầu têu ra là từ bọn cựu thù (chỉ quân Pháp), nay bọn tôi cũng bắt chước Tây Thi nhăn mày e hại đến nghĩa khí? Mong làm tan sự nghi ngờ của những người chưa hiểu rõ, lại xin nói thêm nghề chụp ảnh từ đâu mà ra? Đầu tiên là từ người nước Anh, chứ không phải là đồng đảng của bọn Pháp, sau truyền vào nước Thanh là nước có bang giao với nước Đại Việt ta. Vốn đầu đuôi là như vậy, vả chăng há lại vì giận cá mà chém thớt sao? Sự thực là như vậy. Nay cửa hiệu chúng tôi mở ra trong nước, ở những nơi tàu xe đi lại, chiêu hàng rộng rãi. Quý khách nếu có ý thích, động lòng hiếu thảo, trình lên với các bậc tôn trưởng, các bậc phụ mẫu, chỉ một tấm chân dung cho các cụ mà tỏ tấc lòng ái mộ sâu xa… Xin xem bảng kê giá tiền dưới đây, tùy sở thích, không dám dối trẻ, lừa già. Kính cáo

Theo bảng giá này thì mặc đại triều phục giá 27 quan 5, mặc thường triều phục giá 22 quan, mặc quần áo thường như ở trong nhà thì 16 quan 5; nếu trong ảnh chụp có thêm người khác thì phải thêm tiền, tùy vai vế người đứng chung mà phải trả thêm từ 2 đến 3 quan. Chụp xong, bốn ngày sau thì hiệu giao ảnh trắng đen. Ai muốn có màu thì thương lượng với thợ, bản hiệu không can thiệp. Đáng chú ý là trong bài giới thiệu này, Đặng Huy Trứ đã nói rõ nghệ thuật nhiếp ảnh là của người Anh, chứ không phải của người Pháp – vì lúc này cả nước đang chống Pháp quyết liệt. Để tranh thủ tình cảm của giới sĩ phu và hoàng tộc, ông đã mời một vị dòng họ Tôn Thất đến chụp ảnh. Ba người đầu tiên đến Cảm Hiếu Đường chụp ảnh là Tôn Thất Phiên, Nguyễn Vĩnh Niên và Tô Bội Chi. Riêng tại Sài Gòn có hiệu chụp ảnh trước Hà Nội bốn năm (1865) là hiệu Billet và Parant trên đường Catinat (nay là Đồng Khởi) nhưng đều là của người Pháp. Đọc lại lịch sử ta thấy rằng, mãi đến đầu thế kỷ XX người Việt Nam vẫn còn sợ chụp ảnh, vì cho rằng, chụp ảnh tức là đã bị máy móc “hớp hồn” rồi. Vậy mà từ năm 1867, Đặng Huy Trứ đã mở hiệu chụp ảnh! Có thể nói, Đặng Huy Trứ là nguời ôm ấp nhiều về giấc mộng canh tân nước nhà. Ngoài việc làm trên thì trước đó, năm 1868, ngay sau khi đi công cán về, ông đã dâng lên vua Tự Đức bản “công cuộc tự cường tự trị ở nước ngoài” mà ông tìm hiểu, nhận xét và ghi chép lại. Với nước Đại Thanh, ông cho biết là người ta đã sang Tây mua máy móc, lập xưởng cơ khí, mở Cục dạy nghề và mời người phương Tây đến dạy. Thể lệ như sau: Chỉ lấy người đã qua khoa cử vào học; học sinh ở trong trường để chuyên tâm học; hàng tháng kiểm tra để biết ai chăm, ai lười; cuối năm lại thi để xét kết quả; học sinh được cấp học bổng để chuyên tâm học tập; thưởng cho người học giỏi để khuyến khích. Hoặc ở nước Cao Ly cấm Hoa thương mua rẻ, bán đắt, tích trữ đầu cơ, không được phép nhập cảnh. Người trong nước tự ý mua hàng đó của Hoa thương lập tức bị trừng trị. Hoặc tại Nhật Bản thì người ta đã tuyển những học sinh tuấn tú tuổi từ 12 đến 22 để sang Anh du học và nước Nhật đã có hơn 80 chiến thuyền chạy bằng hơi nước v.v… Những ý kiến nầy, nếu vua tôi dưới triều đình Tự Đức nghiêm túc đọc và rút ra những kinh nghiệm cần thiết để áp dụng thì hay biết bao nhiêu. Rất tiếc, đọc xong văn bản này, nhà vua chỉ phê mấy chữ: “Chuyển nội các lưu giữ” 

Dù vậy, Đặng Huy Trứ vẫn không nản lòng. Với vai trò của kẻ sĩ đứng trước vận mệnh của đất nước, ông bắt tay hoàn thành tác phẩm nổi tiếng là Từ thụ yếu quy. Theo ông, trước sức mạnh của giặc, muốn chống lại chúng thì trước hết bộ máy hành chánh của nhà nước phải triệt để thay đổi. Điều thay đổi quan trọng nhất là phải chống nạn tham nhũng. Ông khẳng định không thể chống giặc với bộ máy tham nhũng mất lòng dân được! Đây là “tư liệu quý giá của thế hệ cha ông ta thuở trước, thời ấy cũng như bây giờ, những con người chân chính luôn luôn biết tìm ra những phương pháp tốt nhất để bài trừ tệ nạn này, giữ gìn lấy đất nước non sông gấm vóc, xây dựng nên cốt cách phẩm chất cao đẹp con người Việt Nam”. Trong Từ thụ yếu quy, Đặng Huy Trứ nêu lên 104 điều không thể nhận và 5 điều có thể nhận – thực chất là một hệ thống các thiết chế mà bất cứ cương vị quan lại nào cũng phải tuân theo. Nay đọc lại, chúng ta kinh ngạc như ngỡ nó được viết trong thời gian gần đây. Điều nầy không lạ, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người rất nhạy bén trong vấn đề này, Người cũng từng dạy rằng: “Muốn làm cách mạng trước hết phải cải tính nết mình trước tiên”; “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước theo”.

Trong Từ thụ yếu quy, Đặng Huy Trứ nói đến các trường hợp như: địa phương hối lộ các quan đến thanh tra; đồng sự làm việc bất công phi pháp hối lộ để cầu được che chở; kẻ thuộc hạ hối lộ yêu cầu được sắp xếp những công việc béo bở; hối lộ để chia nhau những thứ dôi ra trong kho; nhận hối lộ để chia nhau gia sản của những hộ tuyệt tự; con buôn nước ngoài hối lộ để cầu thân; hương hào hối lộ để xin sắc phong thần v.v… Thử đọc lại một vài điều để thấy tầm nhìn của Đặng Huy Trứ đến nay vẫn chưa lỗi thời, nhất là trong giai đoạn đất nước ta đang mở cửa làm ăn với nước ngoài qua hình thức liên doanh, đầu tư v.v… Điều này giúp cho đất nước ta có vốn để phát triển, nhưng cán bộ ta cũng phải dè chừng với các trường hợp: “Khách buôn người nhà Thanh gặp đất nước ta yên vui, có kẻ xây dựng cơ nghiệp giàu có như Hầu Lợi Hòa ở Thừa Thiên, Tạ Hiệp Ý ở Quảng Nam. Loại ấy thì họ là họ, ta là ta, có quan hệ gì. Thế mà họ mang lễ biếu trà Ô Long, quạt lông trắng, bút râu chuột, giấy ngũ sắc, dầu bạc hà, rượu cam lộ, long nhãn, vải thiều, lộc nhung, quế chi, the lụa Tô Châu, đồ sứ Giang Tây, người nọ ra, kẻ kia vào. Vì sao vậy? Không phải vô cớ đâu. Bọn ấy khi mới đến vốn liếng không nhiều, chỉ dăm ba năm buôn bán cò con, nhưng do buôn bán hàng cấm, hoặc tung tiền ra mua chuộc quan lại, hoặc vi phạm luật lệ mà trở nên giàu có. Tiền bạc ê hề, bị nhiềungười dòm ngó, bất đắc phải đem những thứ ấy cầu thân với ta, mưu dùng ta làm bức tường chắn cho họ. Ta thấy họ là người ngoại quốc có thịnh tình như thế thì vui vẻ nhận lấy, đối xử nồng hậu, mời ngồi chơi, tiếp đãi trà, một điều chú, hai điều chú, coi như anh em trong nhà. Đến khi lợi dụng được thanh thế của ta rồi, họ mới giở thói gian manh, sớm xin đòi nợ hộ, chiều xin được thầu làm việc nầy việc khác, qua lại tự do suồng sã. Ta nên ngẫm câu “Nhu viễn năng nhi”, đối xử tốt với người phương xa đến thì họ ắt gần ta, đó là chức phận của ta, hà tất phải nhận của biếu xén bất nghĩa. Để họ khinh nhờn, làm thương tổn đến uy vong của ta là do ta tự chuốc lấy mà thôi. Thứ hối lộ ấy không thể nhận”. Hoặc trường hợp khá phổ biến là khi cấp trên xuống thanh tra “được” nơi đó hối lộ: “Cửa vua xa cách muôn dặm, khi thấu hiểu nỗi uẩn khuất của dân. Bất thần vua cử phái viên đi thanh tra, lại ủy cho thanh lý, chỉnh đốn mọi việc. Hoặc nhân có đơn tố cáo vượt cấp những việc bất công, phạm pháp. Hoặc nhân có tiếng tăm xấu xa của một viên quan nào đó lọt đến tai vua cho nên cử người bí mật đi xem xét. Các phái viên ấy hoặc cải trang, hoặc không. Khi sắp đi đều được ban cấp tiền bạc, còn được huấn thị, một là: “Giữ lòng công, gác tình riêng”, hai là: “Đến đâu cũng phải như Trẫm tự mắt nhìn thấy”, lời vua ân cần chu đáo dường nào. Đi không cải trang, ai cũng biết. Còn có cải trang, rồi tin tức cũng lọt ra ngoài. Đương sự biết là sự việc sẽ lộ ra, không khỏi bị phát giác. Song chưa rõ tâm tính ta thế nào, cho nên họ đều chuẩn bị tiền nong, vàng bạc chờ xem thế nào sẽ biện lễ. Đến khi rõ ràng là không có tội, hoặc cũng chẳng có công, thì lại biện lễ đón đưa, cầu ta đề đạt lên trên. Như thế là có nhiều ngóc nghách che đậy ẩn tình. Ta phải giữ lòng kiên định, lời nói,cử chỉ, hành động phải giữ gìn, thận trọng, không quá mức… Xem xét, điều tra người đó, việc đó phải mười phân rõ ràng xác đáng, để khỏi trái lệnh vua. Nhược bằng thấy họ quà cáp nhiều, nói năng khéo, rồi bao nhiêu khiếm khuyết đều che đậy cho họ, rằng: “Không có gì đáng tội, cũng không có gì đáng khen”, rồi trên tờ trình đầy rẫy những lời tán dương khen ngợi… Vâng mệnh vua cầm cờ tiết đi kinh lược việc lớn, quyền hành trong tay mà cứ như thế thì khác nào thác tự nguồn cao ập xuống, sẽ hại đến dân chúng trong thiên hạ không phải nhỏ.

Triều đình còn trông mong gì nữa? Thứ hối lộ ấy không thể nhận”.

Nếu đương thời, bộ máy quan lại dưới triều Tự Đức, ai ai cũng đều có ý thức, trách nhiệm như thế thì tình hình loạn lạc trong nước không đến nỗi như sử gia Trần Trọng Kim bình luận: “Không đời nào lắm giặc giã bằng đời ngài làm vua. Chỉ được vài ba năm đầu còn yên trị, còn từ năm Tân Hợi (1851) là năm Tự Đức thứ 4 trở đi, thì càng ngày càng nhiều giặc” (Việt Nam sử lược – trang 500). Cũng chính vì loạn lạc trong nước, triều đình phải lo đối phó, đã tạo thuận lợi không nhỏ cho giặc Pháp tấn công nước ta.

Cuối đời

Năm 1873, giặc Pháp nổ súng tấn công thành Hà Nội, danh tướng Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết. Đặng Huy Trứ được cử làm khâm phái quân vụ Sơn – Hưng – Tuyên cùng Hoàng Kế Viêm lập căn cứ chống giặc. Nhưng chỉ ít lâu, ngày 7/8/1874 ông bị bệnh và qua đời trong sự thương tiếc của mọi người. Ông có nguyện vọng được chôn cất ngay tại mảnh đất mà mình đang dốc sức chiến đấu, nhưng vua Tự Đức buộc phải đưa thi hài về chôn ở Thừa Thiên – Huế. Hiện nay, nhà thờ và lăng mộ của ông ở Hương Trà và Phong Điền đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Sự nghiệp trước tác của Đặng Huy Trứ để lại khá đồ sộ thuộc nhiều lãnh vực như văn thơ, giáo dục, binh thư… Mà ở lãnh vực nào ông cũng trút vào đó nỗi lòng của một con dân canh cánh tấm lòng canh tân, cải cách đất nước để tự cường tự trị mà chống giặc ngoại xâm. Chính vì những đóng góp thiết thực từ tư tưởng đến hành động của Đặng Huy Trứ – mà chí sĩ Phan Bội Châu đánh giá ông là một trong “những người trồng mầm khai hóa đầu tiên của Việt Nam”. Sau này, nhà nghiên cứu Vũ Khiêu cũng khẳng định về ông:

Quyết tâm vệ quốc hẹn với Kế Viêm,
Nỗ lực canh tân, sánh cùng Trường Tộ.

Sự nghiệp của Đặng Huy Trứ mãi trường tồn cùng non sông đất nước…

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 7 – Những nhà cải cách Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Đặng Huy Trứ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)