Bối cảnh lịch sử
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình. Địa danh này gợi nhớ đến một căn cứ kháng chiến lừng lẫy, đã từng khiến giặc Pháp khi nghe nhắc đến phải kinh hồn bạt vía. Bài Vè Ba Đình chống Pháp (Vè BĐ) lưu truyền thời đó có câu:
Cơ trời đất xoay vần chính khí
Đấng nam nhi phỉ chí tang bồng
Làm cho tỏ mặt anh hùng
Giang san để mất trong lòng sao nguôi?Nước nhà Tây đã chiếm rồi
Chư quân, chư tướng ắt là theo ta
Kéo quân về đất Thanh Hoa
Tìm nơi hiểm trở để ta lập đồn
Thanh Hoa tức Thanh Hóa, tên gọi này có từ năm 1469 khi vua Lê Thánh Tông đổi Thừa tuyên Thanh Hóa thành Thừa Tuyên Thanh Hoa “vì là đất thang mộc, đất Lê lợi dụng nghiệp để ví với đất Kỳ nhà Chu, đất Bái nhà Hán”, mãi đến năm 1843 vì kiêng tên mẹ Hồ Thị Hoa, vua Thiệu Trị đổi lại Thanh Hóa. Vùng đất này, trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú nhận xét: “Thanh Hóa mạch núi cao vút, sông lớn lượn quanh, biển phía đông, Ai Lao sát phía tây, bắc giáp trấn Sơn Nam, nam giáp đạo Nghệ An. Núi sông rất đẹp, là một chỗ đất có cảnh đẹp ở nơi xung yếu. Các triều trước vẫn gọi là một trấn quan trọng. Đến đời Lê là nơi căn bản. Vẻ non sông tươi tốt chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại nảy ra nhiều văn nho. Đến những sản vật quý cũng khác mọi nơi. Bởi vì đất thiêng thì người giỏi nên nảy ra những bậc phi thường, vượng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nước”. Điều này cũng góp phần lý giải vì sao cuối đời nhà Trần, năm 1397, Hồ Quý Ly đã chọn nơi này để dựng thành nhà Hồ, dòi kinh đô về, nhằm gây dựng cơ nghiệp lâu dài.
Vì vậy, khi “Tìm nơi hiểm trở để ta lập đồn”, quả những người yêu nước có con mắt tinh đời, giỏi về quân sự.
Nguồn gốc tên gọi Ba Đình
Nhưng tại sao nơi ấy được gọi “Ba Đình”? Có nhiều tài liệu cho biết đó là tên gọi chung ba thôn Mậu Thịnh, Thượng Thọ và Mỹ Khê cùng một xã, chung nhau một ngôi đình ở Mỹ Khê thuộc huyện Nga Sơn (Thanh Hóa). Tuy nhiên, trong tập Thi ca Việt Nam thời Cần Vương, theo nhà nghiên cứu Phan Canh, Đào Đức Chương “vì mỗi làng đều có một ngôi đình, mà vị trírất đặc biệt, đứng ở đình làng này thì thấy cả hai đình làng kia, và cũng lần lượt như thế khi đứng ở hai làng kia”. Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển quân sự Việt Nam cũng đều cho rằng “mỗi làng có một cái đình nên gọi Ba Đình”. Cách giải thích này hợp lý hơn.
Căn cứ Ba Đình cách huyện lî Nga Sơn 4km, nằm giữa một cánh đồng chiêm trũng của 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh. Từ vị trínày, nghĩa quân có thể khống chế được trục giao thông quan trọng trên quốc lộ 1 giữa Ninh Bình – Thanh Hóa và ngăn chặn tầm hoạt động của các đồn địch ở vùng lân cận.
Đinh Công Tráng và các thủ lĩnh nghĩa quân
Năm 1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy lên chiến khu Tân Sở (Quảng Trị), kêu gọi toàn dân kháng chiến. Hịch Cần Vương đã mở ra một giai đoạn mới trong trong phong trào chống Pháp của dân tộc ta ở cuối thế kỷ XIX. Hưởng ứng Hịch Cần Vương, ông Đinh Công Tráng – sinh năm 1842, quê làng Trinh Xá, huyện Thanh Liêm – Hà Nội (nay xã Thanh Tân, huyện Thanh Liêm – Nam Hà) – cùng các đồng chí đã chọn Ba Đình làm căn cứ kháng chiến lâu dài.
Trước khi về Ba Đình, Đinh Công Tráng đã có thời gian hoạt động dưới quyền chỉ huy của Hoàng Kế Viêm ở Sơn Tây. Khi ông Viêm phối hợp quân Cờ Đen của Lương Vĩnh Phúc cầm cự với Henri Rivière, ông cũng tham gia trận Cầu Giấy. Nhờ tôi luyện trong hòn tên mũi đạn và có trí thông minh, dũng cảm hơn người nên ông đã trở thành vị tướng giỏi. Trong Về BĐ cho biết ông xây dựng căn cứ Ba Đình sau khi:
Quân quyền điểm được hai vàn
Đinh Công đại tướng có công chăng là
Đánh Tây Nhâm ngọ (1882) tháng ba
Năm mươi khẩu súng cùng là lưỡi lê
Đạn thời cướp được năm xe
Tháng một Bính Tuất (1886) kéo về huyện Nga
Kề vai sát cánh, đồng cam cộng khổ với Đinh Công Tráng còn có các ông quê ở Thanh Hóa như: đốc học Phạm Bành, sinh năm 1825; ông Hoàng Bật Đạt, không rõ năm sinh, khi tham gia kháng chiến có làm câu đối nói lên chí mình:
Chí cứu muôn dân nên phục Việt;
Lòng thề một chết chẳng hàng Tây.
Ông Trần Xuân Soạn sinh năm 1849, thời trẻ ông tòng quân thay cho con của một gia đình phú hào để lấy tiền nuôi gia đình. Cuộc đòi binh nghiệp của ông gắn liền với nhiều trận đánh lớn, được triều đình phong để đốc. Ngoài ra còn có các thổ hào địa phương như Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước…
Xây dựng căn cứ Ba Đình
Nhân dân tin yêu các ông nên không ngại gian khổ, cùng với nghĩa quân, họ đã kéo đến xây thành đắp lũy đông như đi trẩy hội. Trong Vè BĐ đã phản ánh:
Lệnh cho dân chúng chặt tre
Chẻ nan đan sọt nộp về cho nhanh
Nhờ vậy, chỉ sau một thời gian hệ thống đồn lũy Ba Đình đã xây dựng hoàn thiện. Ta có thể hình dung theo thứ tự lớp lang như sau: Bao quanh 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh là một vùng sình lầy ngập nước rộng chừng một cây số, sâu khoảng vài mét, có cắm hàng ngàn mũi chông tre nhọn hoắt. Chông được cắm dày đặc trong phạm vi hơn 50m – nhằm tạo một vành đai bảo vệ an toàn để giặc không thể tấn công bất ngờ. Sau bãi chông là hàng rào tre. Những cây tre mảnh khảnh sát sàn sạt đứng bên nhau tạo thành một chiến lũy vững chãi, che phủ các công sự bên trong, có tác dụng hạn chế tầm quan sát của kẻ thù. Và tại đó, có những lỗ châu mai do những tay súng thiện xạ đảm trách. Nếu phát hiện kẻ thù liều lĩnh vượt bãi chông tiến quân, thì nơi đó sẽ nổ những phát súng tiêu diệt đầu tiên. Trên một vùng sinh lầy mênh mông ấy chỉ có một con đường giao thông duy nhất, nhưng nghĩa quân đã khống chế.
Kế đến nữa là thành lũy với công sự chiến đấu rất kiên cố. Chân thành rộng từ 8m đến 10m, đủ sức chịu đựng sức công phá của hỏa lục hiện đại. Trên mặt thành nghĩa quân xếp sọt rom trộn bùn cao đến 2m, chỉ chừa những khe hở làm lỗ châu mai. Phía trong thành là hệ thống giao thông hào liên hoàn ngang dọc, từ các vị trí chiến đấu nghĩa quân có thể chia lửa cho nhau. Không chỉ có thế, tại các giao thông hào này còn có các hầm sâu hơn 4 mét chứa vũ khí, lương thực… Ngoài ra hầm sâu để nghĩa quân ẩn náu khi có trọng pháo.
Sau này, bằng sự quan sát của một thi nhân, Tản Đà miêu tả sinh động:
Gió mây rộn buổi Hàm Nghi
Ba làng Thanh Hóa thành trì đào xây
Trước thành giữ thế ruộng lầy
Mặt thành xây đắp tre dầy, bàng cao
Trong thành, kho chứa giếng đào
Sau thành có ngả sang Lào, sang Thanh
Đồn quân tên gọi Ba Đình
Tướng quân Công Tráng họ Đinh là người:
Uy nghiêm tướng mạnh, thành dài
Thế trong vững thủ, thế ngoài mạnh công
Thuận thành nghe động uy phong
Pháp binh từ Huế đùng đùng kéo ra
Mấy phen đánh giáp lá cà
Địch quân thua xiểng, quân ta được hoài
Cuộc truy kích sau khi Ba Đình thất thủ
Sau khi nghĩa quân đã rút chạy, lập tức giặc Pháp liền tổ chức những đội quân lưu động truy kích, nhưng chúng bất lực. Công cuộc tìm kiếm trong vô vọng đã khiến chúng mệt mỏi. Chúng láu cá đánh lừa đối phương bằng cách tung tin giải tán các cánh quân vì đã “hoàn thành nhiệm vụ”, nhưng thật ra chúng vẫn không bỏ ý định.
Ngày 2/2/1887, chúng mở đợt truy kích mới, tiến đánh căn cứ Mã Cao từ nhiều hướng do đại tá Brissaud, trung tá Dodds, Metzinger và thiếu tá Diguet, Nugent chỉ huy. Khi hành quân đến phủ Thọ Xuân (Thanh Hóa), chúng được viên tri phủ giao cho hai nghĩa quân vừa bị bắt. Căn cứ nhật ký hành quân của quân đội Pháp, nhà nghiên cứu Cố Nhi Tân cho biết:
Brissaud bắt hai người này dẫn đường, qua những khu rừng khúc khuỷu mà không gặp đồn lũy gì cả. Brissaud không bằng lòng, buộc phải đưa tới những chỗ có nghĩa quân. Hai người liền đưa tới những đồn hiểm hóc, quân Pháp bị phục kích tổn hại rất nhiều, Brissaud tức giận sai trói họ lại bắt đi đầu, cốt cho nghĩa quân giết họ. Đang đi, quân Pháp gặp một khe sâu, vừa mới định lội qua thì bên kia khe đại bác bắn sang và súng tay liên tiếp cùng nổ. Rồi nghĩa quân hô vây tứ phía, nhưng đều nấp cả trong rừng. Biết thế nguy, Brissaud chia quân làm ba đạo cực lực công phá. Nghĩa quân yếu thế phải thu vào thành. Tiếng súng bỗng im hẳn. Sự im lặng của nghĩa quân trong khu rừng hoang làm cho quân Pháp kinh hồn, ai nấy đều có cảm tưởng như sa vào cõi chết.
Quân Pháp lẳng lặng đi chừng một giờ nữa, đến trước một con sông, chông gai lờ mờ trên mặt nước, bên kia có đồn lũy. Hai người tù binh bỗng hô to:
Ra mà bắt lấy Brissaud!
Rồi họ nhảy cả xuống sông định trốn. Toán lính pháo thủ đi kèm vội nhào xuống đuổi theo và bắn họ chết. Quân Pháp vượt sông sang cướp đồn. Đinh Công Tráng bỏ đồn chạy vào thành, ra lệnh tổng công kích.
Trong thành phất cờ, tiếng reo hò lẫn với tiếng súng làm vang động cả một góc trời. Brissaud lúc ấy mới nhận ra rằng mình bước vào nơi hiểm yếu: giữa là thành, xung quanh là đồn, cách tổ chức giống hệt như thành trì kiên cố bên Pháp. Brissaud thúc đạo quân chính đánh vào thành. Cánh quân bên trái của Metzinger đánh vào phía nam. Dodds chỉ huy cánh trái chận đường của nghĩa quân ở phía tây. Từ giờ Ngọ trở đi, cuộc chiến đấu rất kịch liệt, tiếng súng của hai bên làm rúng động cả khu rừng tịch mịch ở Cụ Bảo.
Gần tối, nghĩa quân hết đạn. Liệu không giữ được thành nữa và sợ bị vây hãm như ở Ba Đình, Đinh Công Tráng phải cho nghĩa quân rút ra ở hướng phía nam. Brissaud thấy im tiếng súng, thúc quân từ phía hướng bắc tiến vào. Nhưng nghĩa quân đã rút hết.
Sự hy sinh của các thủ lĩnh nghĩa quân
Cuộc truy kích vẫn không bắt được các thủ lĩnh kiên cường, xem như vẫn chưa thành công. Quá mỏi mệt với các cuộc tấn công lẫn truy kích vừa thương vong, lại vừa không đạt đến mục đích cuối cùng, giặc Pháp đối phó bằng cách hèn hạ khác. Với đốc học Phạm Bành, chúng đã bắt giam mẹ và con trai để buộc ông phải ra hàng. Sau khi mẹ và con được kẻ thù thả tự do, ngay trong tù ông đã thắt cổ tự tử để giữ vững khí tiết. Với Đề đốc Trần Xuân Soạn, chúng quật mả lấy hài cốt thân phụ xếp ở giữa đường, nhưng ông vẫn bất khuất. Có thể cách trả thù này do bọn Việt gian “mách nước” cho giặc, bởi chúng biết những người trung với nước bao giờ cũng đặt chữ hiếu trên đầu. Cách trả thù thâm độc này đã khiến không ít nghĩa quân phải ra hàng. Trong khi đó, Hoàng Bật Đạt tìm đường lánh sang Trung Quốc, nhưng một thuộc hạ báo với giặc, ông bị bắt giam ở nhà lao Thanh Hóa. Không khuất phục được ông, chúng đã chặt đầu ông rồi bêu trên ngọn cây sào cắm giữa làng để uy hiếp tinh thần của nhân dân. Hà Văn Mao trong bước đường cùng náu ở vùng rừng núi Điền Lư (nay thuộc Thanh Hóa), giữa một buổi tiệc ông nói với các thuộc hạ về cái chíquyết tâm đánh giặc đến cùng, nhưng có người khuyên nên bỏ giáo ra hàng. Ông đùng đùng nổi giận hô ba quân trói hết những người ấy lại, mang ra chém. Sau đó, chính ông lại dùng súng lục tự sát.
Những ngày cuối cùng của Đinh Công Tráng
Lúc này, Định Công Tráng đang ẩn náu ở đâu?
Bị giặc Pháp truy nã rất ngặt nên ông phải trốn về vùng núi ở Nghệ An. Chúng treo đầu ông với giá cao, nếu ai chặt được đầu hoặc báo nơi ông ẩn náu thì được trọng thưởng. Vì tham tiền, ngày 5/10/1887, tên lý trưởng làng Chính An (Nghệ An) mật báo với thiếu tá Coste – đồn trưởng Đô Lương rằng, Đinh Công Tráng đang trốn trong làng mình.
Nhận được tin như bắt được vàng, ngay lập tức y cùng với thiếu úy De Fitz Jannes đem theo 65 tên lính đi thuyền ngược dòng sông Cả. Khi chúng gần đến nơi, mưa tầm tả như thác lũ từ trời cao trút nước nhưng không nản lòng vì nghĩ rằng, mưa bão như thế này thì vây bắt rất dễ. Ngay trong đêm, chúng bí mật lội bộ vào trong làng. Khi qua các dòng suối nước chảy xiết, có những tên sẩy chân chết bỏ mạng. Mãi gần 3 giờ sáng, chúng mới đến nơi.
Lúc này, Đinh Công Tráng đang nằm ngủ trong ngôi nhà sàn của một người Mường. Đi theo bảo vệ ông chỉ có mỗi một người em vợ chí cốt. Nghe tiếng động, ông giật mình dậy thì bốn phía đã bao vây. Khi cánh cửa vừa đẩy vào, ông nhanh tay nổ súng bắn chết hai tên lính ngu dại lao lên trước tiên. Lập tức những loạt súng vang lên đỉnh tai nhức óc. Không một phút chần chừ, ông cùng người em vợ nhảy ra ngoài và chạy xộc vào rừng rậm tối đen. Nhưng không kịp nữa rồi. Những mũi lao nhọn hoắt đã phóng tới. Những viên đạn bắn xối xã đuổi theo. Đinh Công Tráng đã hóa vào hồn thiêng sông núi về trời.
Đánh giá
Đánh giá về người anh hùng đã dựng lũy Ba Đình, có người ghi nhận:
Là người có trật tự và chí khí cương trực, Đinh Công Tráng biết giữ kỷ luật và nghiêm trị những tên quân di nhũng nhiễu các làng. Có trí quan sát và nhẫn nại, Tráng hiểu quân mình, và biết quân người nên không khi nào dùng quân một cách vô ích để đến nỗi hao binh, tổn tướng. Tráng lại giỏi lập đại thế và khéo nhử quân Pháp vào chỗ hiểm nguy. Chẳng nề nguy hiểm, Tráng bao giờ cũng đi đầu, cẩn thận suy nghĩ, mạnh bạo trong việc làm, lại có lòng yêu nước nhiệt tình. Nhờ những đức ấy, dù là một người bình dân nhưng Tráng đã đứng đầu được một số thủ lĩnh phần đông đều là những người khoa bảng. Nếu được một số người cứng cáp theo phù thì quân Pháp còn phải chật vật với Tráng chưa biết bao nhiêu lần nữa mà cũng chưa chắc đã thắng.
Những lời khâm phục này là do hậu thế chúng ta đánh giá chăng? Không! Đó là của một đại úy Masson, người đã từng đối mặt với những trận đánh dữ dội dưới quyền chỉ huy của Đinh Công Tráng.
Thời ấy, trong dân gian có lưu truyền bài thơ Vịnh trận đánh Ba Đình:
Khéo thay khéo lập trận Ba Đình,
Thành đất sọt rơm khéo dụng binh.
Đáo để mưu sâu quan tân Phạm,
Tung hoành nghề võ đốc đề Đinh.
Ba quân quyết chiến lòng son đỏ,
Chúng quỷ vùi sâu đám cỏ xanh.
Thua được, được thua thôi mặc kệ,
Nghìn năm ghi tạc bậc tài danh.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 5 – Danh nhân quân sự Việt Nam, Nxb Trẻ.