Giao Châu thất hùng Phạm Cự Lạng

Giao Châu thất hùng Phạm Cự Lạng

Thông tin cơ bản

Thân thế

Phạm Cự Lạng范巨倆  hay còn gọi là Phạm Cự Lượng 范巨量(944 – 984). Theo thần tích ở đền Đồng Cổ, ông sinh ngày 20 tháng 11 năm Giáp Thìn (tức 8 tháng 12 năm 944), người làng Trà Hương, Khúc Giang (nay thuộc xã Nam Trung, huyện Nam Sách, Hải Dương), trong một gia đình có truyền thống võ nghệ. Ông nội là Phạm Lệnh Công, giữ chức Đông giáp tướng quân đời Ngô Quyền. Ngay từ nhỏ Phạm Cự Lạng đã tỏ rõ tư chất thông minh, có chí lớn, văn võ đều thấu hiểu. Ông thường cùng anh cả là Phạm Hạp đem tiền của chiêu dụ mọi người, mua ngựa luyện quân.

Sự nghiệp chính trị

Chính sử không đề cập chi tiết công lao của Phạm Cự Lạng trong việc dẹp loạn 12 sứ quân, nhưng căn cứ vào hành trạng của ông chép trong toàn thư có thể thấy ông cũng là một tướng lĩnh quan trọng của nhà Đinh. Theo thần tích chép về thân thế của Phạm Cự Lạng, khi Đinh Bộ Lĩnh đứng lên dẹp loạn mười hai sứ quân, Phạm Cự Lạng cùng Phạm Hạp huy động hơn hai nghìn quân và ngựa từ quê nhà tiến về Hoa Lư để phò trợ. Sau khi tham gia chiến dịch, Phạm Cự Lạng trở thành tướng của triều Đinh và được giao chức Phòng Ngự sứ, giữ nhiệm vụ Tiên phong Tướng quân trấn giữ cửa biển Đại Ác. Năm Mậu Thìn 968, sau khi thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt và định đô tại Hoa Lư. Phạm Cự Lạng tiếp tục được trọng dụng, được phong Tâm phúc Tướng quân, phụ trách công việc thị vệ và bảo vệ nhà vua.

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại, Đinh Toàn khi đó mới sáu tuổi được đưa lên ngôi. Trước sự lấn át quyền lực của Phó vương Lê Hoàn, các đại thần gồm Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp (anh của Phạm Cự Lạng) nổi dậy chống lại. Tuy nhiên, cuộc nổi dậy nhanh chóng bị Lê Hoàn trấn áp. Phạm Hạp bị xử tử, nhưng Phạm Cự Lạng vẫn được Lê Hoàn tin dùng và tiếp tục giữ vai trò tướng lĩnh dưới quyền.

Năm sau, lợi dụng tình hình rối ren trong nước, nhà Tống quyết định xâm lược. Quan trấn thủ Ung Châu là Hầu Nhân Bảo, cùng các tướng Tôn Toàn Hưng, Vương Soạn và Triệu Phụng Huân, được lệnh đem quân tiến vào Đại Cồ Việt theo cả đường bộ và đường thủy.

Trước tình thế nguy cấp, vào tháng bảy, Thái hậu Dương thị trao quyền Đại tướng tiên phong cho Phạm Cự Lạng và lệnh ông dẫn quân chống giặc. Trước khi xuất quân, ông tập hợp binh sĩ tại cửa Đào Lâm (nay thuộc thôn Đào Lâm, xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn) và nói rằng:

“Làm tướng có công thì được thưởng, có tội thì phải phạt, đó là lẽ thường. Nay quân giặc đã vào bờ cõi mà vua còn thơ ấu. Chúng ta có lập được công trạng cũng khó ai biết đến. Chi bằng hãy tôn Thập Đạo Tướng quân lên ngôi Thiên tử rồi mới xuất quân đánh giặc.”

Lời kêu gọi của ông lập tức được quân sĩ hưởng ứng. Họ quyết định tôn Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế thay cho Đinh Toàn, nhà Tiền Lê ra đời.

Sau khi Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, Phạm Cự Lạng được bổ nhiệm giữ chức Thái úy. Cuối mùa xuân năm Tân Tỵ (981), các hướng tiến công của quân Tống đều bị quân Đại Cồ Việt chặn đánh và đẩy lùi. Tướng Hầu Nhân Bảo tử trận, hơn một nửa binh lực nhà Tống bị tiêu diệt, buộc triều đình Tống phải ra chiếu rút quân.

Năm Nhâm Ngọ (982), Phạm Cự Lạng tiếp tục được giao nhiệm vụ chỉ huy quân đội tiến đánh Chiêm Thành để đáp trả việc vua Chiêm bắt giữ sứ giả Đại Cồ Việt một cách vô cớ.

Sau khi Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế,  với chiến công kháng Tống ông được phong làm Thái Úy. Năm Nhâm Ngọ (982), Phạm Cự Lạng tiếp tục được giao nhiệm vụ chỉ huy quân đội tiến đánh Chiêm Thành để đáp trả việc vua Chiêm bắt giữ sứ giả Đại Cồ Việt một cách vô cớ.

Vào mùa thu năm Quý Mùi (983), nhà vua giao cho Phạm Cự Lạng trọng trách mở tuyến sông mới từ Đồng Cổ đến Bà Hòa, tương ứng với khu vực Đan Nê (Yên Định) đến Đồng Hòa (Tĩnh Gia, Thanh Hóa ngày nay). Công trình được tổ chức đồng bộ: phía trên đắp đường lớn, phía dưới khai thông sông để bảo đảm giao thông thủy bộ. Cũng trong năm này, ông còn chỉ huy việc đào cảng Đa Cái tại Hoan Châu, thuộc vùng Hương Cái (Hưng Nguyên, Nghệ An hiện nay).

Ngày 12 tháng 9 năm Giáp Thân (9 tháng 10 năm 984), Phạm Cự Lạng lâm bệnh sốt rét và qua đời tại Đồng Cổ khi đang thi hành công vụ, thọ 41 tuổi. Nhà vua thương tiếc, truyền đưa thi hài ông về kinh đô và cho an táng ở phía nam núi Bồ Sơn.

Phong vương thời Lý Thái Tông

Về sự kiện này Đại Việt sử kí toàn thư chép: “Dựng đền thờ Hoằng Thánh Đại Vương. Trước đây vua thấy phủ Đô hộ để nhiều án ngờ, quan sĩ sư không xét đoán được, muốn tỏ rõ sự linh thiêng sáng suốt để tiệt hết kẻ gian trá, bèn tắm gội đốt hương khấn Thiên Đế. Đêm ấy vua chiêm bao thấy sứ giả mặc áo đỏ bưng sắc chỉ của thượng đế ban cho Phạm Cự Lạng làm chức Đô hộ phủ ngọc tụng minh chủ. Vua hỏi sứ trời rằng: “Người ấy là ai? Hiện đang giữ chức gì của ta?” Sứ giả nói: “Người ấy làm Thái uý triều Lê Đại Hành”. Nói xong thì biến mất. Vua tỉnh dậy, gọi các quan vào hỏi việc áy, phong cho [Cự Lạng] tước vương, sai Hữu ty dựng đền ở phía tây cửa Nam thành, tuế thời cúng tê (Hoằng Thánh sau đổi là Hồng Thánh)”

Thờ tự

Ghi nhớ công ơn Phạm Cự Lạng ở Đồng Cổ và Đa Cái hiện còn đền thờ ông. Tại Hưng Lộc (Nghĩa Hưng, Nam Định) cũng có đền thờ Phạm Cự Lạng ghi lại sự tích tương tự như đền thờ Lương Sử (Hà Nội). Tại thị trấn Yên Ninh (Yên Khánh, Ninh Bình) ông được thờ ở nhà thờ thái úy cùng với mộ táng của ông tại nghĩa trang làng Đa, xã Khánh Ninh gần đó.

Tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 4 di tích lịch sử văn hóa thờ danh nhân Phạm Cự Lạng. Đó là các di tích: đình Đoài thuộc xóm Ngói, xã Hà Châu, huyện Phú Bình, đình Hoàng Đàm, xóm Hoàng Đàm, xã Nam Tiến, đình Thượng Giã, xã Thuận Thành, nghè thôn Nam Đô, làng Đông Cao, huyện Phổ Yên.

Đà Nẵng đặt tên ông cho con đường dài 1.500m, rộng 7,5m, trên địa bàn quận Sơn Trà theo Nghị quyết về Đặt tên một số đường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm 2011 của HĐND thành phố.

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Giao Chau That Hung Pham Cu Lang (944–984)

Background

Pham Cu Lang, also known as Pham Cu Luong (范巨倆 / 范巨量), was born on 20 November in the year Giap Thin (corresponding to 8 December 944) in Tra Huong village, Khuc Giang (present-day Nam Trung commune, Nam Sach district, Hai Duong province), into a family with a tradition of martial skill. His grandfather, Pham Lenh Cong, served as General of the Eastern Division under Ngo Quyen. From a young age, Pham Cu Lang demonstrated remarkable intelligence and ambition, excelling in both civil and military matters. Together with his elder brother, Pham Hap, he often used their wealth to recruit followers, purchase horses, and train troops.

Political and Military Career

Historical records do not detail Pham Cu Lang’s contributions to the suppression of the Twelve Warlords, yet based on accounts of his career in the annals, he was clearly an important general under the Dinh dynasty. According to temple inscriptions, when Dinh Bo Linh rose to unify the twelve warlords, Pham Cu Lang and Pham Hap mobilized over two thousand soldiers and horses from their homeland to support him. After participating in the campaigns, Pham Cu Lang became a general of the Dinh court and was appointed Phong Ngu Su (Defensive Envoy), serving as the Vanguard General guarding the Dai Ac seaport.

In 968, following the unification of the country, Dinh Bo Linh ascended the throne, adopting the title Dinh Tien Hoang, established the national name Dai Co Viet, and set the capital at Hoa Lu. Pham Cu Lang continued to be highly trusted and was appointed Tam Phuc Tuong Quan, responsible for palace security and guarding the emperor.

In 979, after the assassination of Dinh Tien Hoang and Nam Viet Vuong Dinh Lien, six-year-old Dinh Toan was enthroned. With the rising influence of Deputy King Le Hoan, senior officials including Dinh Dien, Nguyen Bac, and Pham Hap (Pham Cu Lang’s elder brother) launched a revolt. The uprising was quickly suppressed by Le Hoan; Pham Hap was executed, but Pham Cu Lang retained the trust of Le Hoan and continued to serve as a general under his command.

In the following year, taking advantage of internal disorder, the Song dynasty decided to invade. The military governor of Ung Chau, Hou Nhan Bao, along with generals Ton Toan Hung, Vuong Soan, and Trieu Phung Huan, were ordered to enter Dai Co Viet by both land and water.

Facing the critical situation, in the seventh month, Empress Dowager Duong granted Pham Cu Lang the authority of Vanguard General and ordered him to lead the army against the invaders. Before marching, he gathered his troops at Dao Lam Gate (present-day Dao Lam village, Gia Thang commune, Gia Vien district) and said:

“A general who achieves merit should be rewarded; a general who commits faults should be punished—this is natural. Now the enemy has entered our territory while the emperor is still a child. Even if we achieve great feats, no one may know. It is better to enthrone Thap Dao Tuong Quan as the emperor before confronting the enemy.”

His call was immediately supported by the troops. They decided to enthrone Le Hoan as emperor in place of Dinh Toan, marking the beginning of the Tien Le dynasty.

After Le Hoan’s ascension, Pham Cu Lang was appointed Thai Uy (Grand Marshal). In the spring of 981 (year of Tan Ty), the Song army’s attacks were blocked and repelled by Dai Co Viet forces. General Hou Nhan Bao was killed in battle, and more than half of the Song troops were destroyed, forcing the Song court to issue an order to withdraw.

In 982 (year of Nham Ngo), Pham Cu Lang was assigned to lead a military campaign against Champa in retaliation for the unjust detention of Dai Co Viet envoys.

In the autumn of 983 (year of Quy Mui), the emperor entrusted Pham Cu Lang with a major engineering project: opening a new waterway from Dong Co to Ba Hoa, corresponding to the area from Dan Ne (Yen Dinh) to Dong Hoa (Tinh Gia, Thanh Hoa). The project was coordinated with a raised road above and a river channel below to ensure smooth land and water transport. In the same year, he also supervised the construction of Da Cai port in Hoan Chau, within the Huong Cai region (present-day Hung Nguyen, Nghe An).

On 12 September in the year Giap Than (9 October 984), Pham Cu Lang fell ill with malaria and passed away at Dong Co while performing his duties, at the age of 41. The emperor mourned him deeply, ordered his body to be brought back to the capital, and buried him south of Bo Son mountain.

Posthumous Honor under Ly Thai Tong

The Dai Viet Su Ki Toan Thu records:

“A temple was built to worship Hoang Thanh Dai Vuong. Previously, the emperor saw that many cases in the Du Ho mansion were suspicious and the officials could not make fair judgments. To demonstrate divine justice and eliminate deceit, he bathed, offered incense, and prayed to the Heavenly Emperor. That night, he dreamt of a messenger wearing red, delivering an imperial decree conferring Pham Cu Lang the position of Do Ho Phu Ngoc Tung Minh Chu. The emperor asked the celestial envoy, ‘Who is this person? What position does he currently hold?’ The messenger replied, ‘He is the Thai Uy of the Le Dai Hanh court.’ After speaking, he disappeared. The emperor awoke, summoned officials, and conferred the noble title on Pham Cu Lang, ordering the Right Ministry to build a temple to the west of Nam Gate, offering seasonal sacrifices (Hoang Thanh later renamed Hong Thanh).”

Veneration

Pham Cu Lang is remembered and worshiped at Dong Co and Da Cai. A temple dedicated to him also exists in Hung Loc (Nghia Hung, Nam Dinh), recording similar legends as the Luong Su temple in Hanoi. In Yen Ninh town (Yen Khanh, Ninh Binh), he is worshiped at the Grand Marshal’s temple alongside his tomb at the Da village cemetery, Khanh Ninh commune. In Thai Nguyen province, four historical sites honor Pham Cu Lang: the Doai communal house in Ngoi hamlet, Ha Chau commune, Phu Binh district; Hoang Dam communal house in Hoang Dam hamlet, Nam Tien commune; Thuong Gia communal house in Thuan Thanh commune; and the Nghe temple in Nam Do village, Dong Cao, Pho Yen district.

In Da Nang, a 1,500-meter-long, 7.5-meter-wide street in Son Tra district is named after him, following the city council’s 2011 resolution on naming streets.

References

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.

Tiếng Pháp

Giao Chau that hung Pham Cu Lang

Origines
Pham Cu Lang (范巨倆), également appelé Pham Cu Luong (范巨量) (944 – 984), est né le 20 novembre de l’année Giap Thin (soit le 8 décembre 944) dans le village de Tra Huong, district de Khuc Giang (aujourd’hui dans la commune de Nam Trung, district de Nam Sach, province de Hai Duong), au sein d’une famille ayant une tradition martiale. Son grand-père, Pham Lenh Cong, était général de l’Est sous la dynastie Ngo Quyen. Dès son enfance, Pham Cu Lang montra des qualités exceptionnelles, un esprit ambitieux et une maîtrise tant littéraire que militaire. Avec son frère aîné, Pham Hap, il utilisait ses ressources pour recruter des hommes et entraîner des chevaux.

Carrière politique
Les sources historiques ne détaillent pas le rôle exact de Pham Cu Lang dans la pacification des douze seigneurs locaux, mais d’après les annales, il fut un général important sous la dynastie Dinh. Selon les inscriptions du temple de Dong Co, lorsque Dinh Bo Linh se leva pour mettre fin au chaos des douze seigneurs, Pham Cu Lang et Pham Hap mobilisèrent plus de deux mille soldats et chevaux depuis leur région natale pour se rendre à Hoa Lu afin de soutenir le roi. Après avoir participé à ces campagnes, Pham Cu Lang devint général de la cour Dinh et fut nommé Phong Ngu su, assumant le rôle de général de l’avant-garde pour défendre la porte maritime de Dai Ac.

En 968, après l’unification du pays, Dinh Bo Linh devint empereur sous le nom de Dinh Tien Hoang, établit le royaume de Dai Co Viet et fixa la capitale à Hoa Lu. Pham Cu Lang fut encore promu, nommé Tam phuc Tuong quan, chargé de la garde rapprochée de l’empereur.

En 979, Dinh Tien Hoang et Nam Viet Vuong Dinh Lien furent assassinés. Dinh Toan, âgé de six ans, monta sur le trône. Face à la montée en puissance de Le Hoan, les grands officiers, dont Dinh Dien, Nguyen Bac et Pham Hap (frère de Pham Cu Lang), se révoltèrent. La rébellion fut rapidement écrasée : Pham Hap fut exécuté, mais Pham Cu Lang resta en poste sous la confiance de Le Hoan.

L’année suivante, profitant du désordre interne, la dynastie Song tenta une invasion. Le gouverneur de Ung Chau, Hou Nhan Bao, accompagné des généraux Ton Toan Hung, Vuong Soan et Trieu Phung Huan, reçut l’ordre de pénétrer dans Dai Co Viet par voie terrestre et maritime.

Face à cette menace, en juillet, l’impératrice Doung remit le commandement suprême à Pham Cu Lang et lui ordonna de mener les troupes contre l’envahisseur. Avant de partir, il rassembla ses soldats à la porte de Dao Lam (aujourd’hui village de Dao Lam, commune de Gia Thang, district de Gia Vien) et déclara :

« Un général qui accomplit des exploits sera récompensé, s’il commet des fautes, il sera puni. Les ennemis ont pénétré nos terres alors que le roi est encore enfant. Même si nous accomplissons des exploits, personne ne le saura. Il vaut mieux couronner Thap Dao Tuong quan comme empereur avant de partir combattre. »

Son appel fut immédiatement soutenu par les troupes. Ils décidèrent de proclamer Le Hoan empereur à la place de Dinh Toan, donnant naissance à la dynastie Tien Le.

Après l’accession au trône de Le Hoan, Pham Cu Lang fut nommé Thai uy. Au printemps de l’année Tan Ty (981), toutes les attaques des forces Song furent repoussées par l’armée de Dai Co Viet. Le général Hou Nhan Bao fut tué et plus de la moitié des troupes Song furent annihilées, contraignant la dynastie Song à se retirer.

En 982 (année Nham Ngo), Pham Cu Lang fut chargé de diriger les forces contre le royaume de Chiem Thanh pour punir le roi Chiem ayant capturé sans raison les émissaires de Dai Co Viet.

À l’automne de l’année Quy Mui (983), le roi confia à Pham Cu Lang la responsabilité de creuser un nouveau canal reliant Dong Co à Ba Hoa, correspondant aux zones de Dan Ne (Yen Dinh) à Dong Hoa (Tinh Gia, Thanh Hoa). Les travaux furent organisés de manière systématique : une route pour la circulation terrestre et un canal pour le transport fluvial. La même année, il supervisa également le creusement du port Da Cai à Hoan Chau, dans la région de Huong Cai (aujourd’hui Hung Nguyen, Nghe An).

Le 12 septembre de l’année Giap Than (9 octobre 984), Pham Cu Lang tomba malade du paludisme et mourut à Dong Co en service, à l’âge de 41 ans. L’empereur ordonna de ramener son corps à la capitale et de l’enterrer au sud de la montagne Bo Son.

Titre de prince sous Ly Thai Tong
Selon le Dai Viet Su Ki Toan Thu :

« On érigea le temple Hoang Thanh Dai Vuong. Auparavant, le roi avait remarqué que le palais de la défense contenait de nombreux cas douteux, et les officiers et maîtres ne pouvaient juger correctement. Pour démontrer la puissance et la clairvoyance divine, il fit des ablutions et brûla de l’encens en priant le Ciel. Cette nuit-là, il eut un rêve : un messager vêtu de rouge apportait un décret du Ciel nommant Pham Cu Lang au poste de gouverneur. Le roi demanda qui était cet homme et quelle fonction il occupait. Le messager répondit : “Il est Thai uy sous le règne de Le Dai Hanh.” Puis il disparut. Le roi le fit alors anoblir et ordonna la construction d’un temple à l’ouest de la porte sud de la ville. »

Culte
Le mérite de Pham Cu Lang est commémoré dans les temples de Dong Co et Da Cai. À Hung Loc (Nghia Hung, Nam Dinh), un temple célèbre son souvenir, similaire au temple Luong Su à Hanoi. À Yen Ninh (Yen Khanh, Ninh Binh), il est vénéré dans le temple de Thai uy près de sa tombe dans le cimetière du village Da, commune de Khanh Ninh.

La province de Thai Nguyen recense quatre sites culturels historiques dédiés à Pham Cu Lang : le dinh Doai à Ham Ngói, commune de Ha Chau, district de Phu Binh ; le dinh Hoang Dam à Hoang Dam, commune de Nam Tien ; le dinh Thuong Gia, commune de Thuan Thanh ; et le nhe du village Nam Do, village Dong Cao, district de Pho Yen.

La ville de Da Nang a donné son nom à une rue longue de 1 500 m et large de 7,5 m dans le district de Son Tra, selon la résolution de 2011 du Conseil populaire municipal.

Références

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.

Tiếng Trung

交州七雄范巨倆(Pham Cu Lang)(944–984)

身世

范巨倆(Pham Cu Lang),又名范巨量(Pham Cu Luong),生於944年12月8日(甲辰年11月20日),籍貫曲江茶香村(今海陽省南中社,南沙縣),出身於武術世家。其祖父范令公(Pham Lệnh Cong)曾任吳權(Ngo Quyen)時期東甲將軍。范巨倆自幼聰慧過人,胸懷大志,文武兼通。他常與長兄范合(Pham Hap)籌集財物招募士兵,購馬訓練軍隊。

政治與軍事生涯

正史雖未詳載范巨倆在平定十二使君之亂中的功績,但依據全書記載,可知他為丁朝重要將領。根據神祠記載,當丁部領(Dinh Bo Linh)起兵討伐十二使君時,范巨倆與兄范合自家鄉調集二千多兵馬前往華閭輔助。參與戰役後,范巨倆成為丁朝將領,任防禦使,兼任前鋒將軍鎮守大惡海口。968年,丁部領統一天下,登基稱帝(丁先皇),國號大瞿越,定都華閭,范巨倆受重用,授心腹將軍,主管侍衛及護衛國君。

979年,丁先皇與南越王丁璉被害,當時六歲的丁全即位為丁廢帝。在副王黎桓(Le Hoan)逐漸掌權之際,大臣丁甸(Dinh Dien)、阮駁(Nguyen Bac)與范巨倆之兄范合發動叛亂,但迅速被黎桓鎮壓。范合被處死,范巨倆則仍受信任,繼續任將。

翌年,宋朝乘國內混亂決定入侵。守邊官侯仁保(Hau Nhan Bao)及將領孫全興、王算(Vương Soạn)與趙奉勳(Trieu Phung Huan)奉命率軍從陸路與水路進入大瞿越。

情勢危急,七月,太后楊氏授予范巨倆前鋒大將權,命其統軍抗敵。出征前,他在桃林口(今嘉甯縣嘉勝社桃林村)集合士兵,說道:

「為將者,有功則賞,有罪則罰,理所當然。今敵入境,而國君年幼,我等立功亦難以顯明。毋寧先推十道將軍為天子,然後再出征。」

此言一出,軍士紛紛響應,決議推黎桓為皇帝,代替丁全,前黎朝結束,建立前黎朝。

黎桓即位後,范巨倆被任命為太尉。981年春末,宋軍各路進攻均被大瞿越軍擊退,侯仁保戰死,宋軍過半覆滅,宋廷不得不下詔撤軍。

982年,范巨倆再奉命率軍攻占占城,以報復占王無故拘留大瞿越使者之事。憑藉抗宋戰功,范巨倆封為太尉。983年秋,國君交付其重任,開鑿新河道,從同古至婆和(今寧平縣丹寧至清化縣同和),上築大道,下通水路,保障陸水交通。當年,他亦負責指揮鑿建多蓋港(Da Cai)於環州(今藝安省興原縣香蓋地區)。

984年10月9日(甲申年9月12日),范巨倆因執行公務而患瘧疾,在同古去世,享年41歲。國君哀悼,命將遺體運回京城,葬於布山南麓。

李太宗時封王

《大越史記全書》記載:

「建弘聖大王祠。昔帝見都護府案多疑,臣士無法斷,欲示靈明以滅奸邪,乃浴身焚香祈天帝。夜夢赤衣使者奉天旨,賜范巨倆為都護府玉奏明主。帝問天使:『此人為誰?現任我何職?』使者曰:『此人為黎大行朝太尉。』言畢即消失。帝醒,召群臣詢事,封巨倆為王,命右司建廟於南城門西,歲時祭祀(弘聖後改為紅聖)。」

祭祀

范巨倆的功績在同古與多蓋仍有祠廟紀念。在興祿(義興縣,南定省)亦建廟,記錄其事蹟,類似河內良史廟。在寧平縣燕慶鎮,范巨倆與其墓葬一同祭祀於太尉祠。太原省亦發現4處范巨倆歷史文化遺址:福平縣河州社瓦村的戴祠、南進社黃潭村的黃潭祠、順城社上岐祠及普淵縣東高村南都廟。

2011年,峴港市議會決議以范巨倆命名該市山茶區長1,500米、寬7.5米的道路。

參考資料

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng (39)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)