Hòa thượng Brahmasuvaṭṇa Tăng Phéeng (1871–1940)

Hòa thượng Brahmasuvaṭṇa Tăng Phéeng (1871–1940)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Hòa thượng Brahmasuvanna, thế danh Tăng Phéeng sinh năm Thân, Phật lịch 2315 nhằm năm 1871 Dương lịch ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, trong một gia đình bản nông. Ngài có 1 người chị và 1 người em trai, người chị tên là Tăng Thị Pók, em trai tên là Tăng Mók.

Thời kỳ xuất gia học đạo

Được 16 tuổi, Ngài vào tu Sa di ở huyện Tri Tôn. Đến 21 tuổi, được thọ giới Tỳ Khưu, đến năm 28 tuổi thì vào rừng hành thiền và đạt được thành tựu rồi trở về quê hương một thời gian.

Về sau đi tỉnh Kiên Giang, Ngài đạt được thành tựu rất hoàn hảo trong Phật pháp, mọi thành tựu trong pháp thần thông và các kiến thức phụ chú khác Ngài đều tự mình đốn ngộ. Ngài gần như là một vị Bích Chi Phật vì Ngài có miệng và mắt giống một vị chư thiên ở cõi trời. Thành tựu pháp thần thông, Ngài cũng an lạc với kiến thức phụ chú của mình, nên Ngài đi đến Gò Đất để tìm thầy giỏi hơn mình mà học thêm nữa, nhưng không tìm được ai giỏi hơn Ngài.

Do tìm không được người giỏi hơn mình nên Ngài định quay về quê, nhưng trong lúc đó chùa Gò Đất có rất ít chư tăng, chùa chỉ có 4–5 vị thôi, vì thế Phật tử đã cùng nhau đi thỉnh ngài ở lại chùa Gò Đất để giúp giảng dạy và quản lý chùa. Ngài cũng chấp nhận lời cung thỉnh của các vị Phật tử đó, khi đó Ngài an cư nhập hạ được một thời gian thì vang danh khắp nơi.

Còn chùa Khlang Ông đang thiếu chư tăng quản lý, và thiếu về pháp phụ chú, kỹ thuật mà chư tăng lúc đó cũng rất ít. Trưởng chư tăng lên quản lý cũng chỉ được một hoặc hai hạ thì bị viên tịch hoặc hoàn tục đi tu. Do thiếu người khéo quản lý chùa và bọn ma binh hung hãn mà chùa rất ít người. Phật tử Nhóm Wát, Achar, ban quản trị và trưởng chư tăng chùa được nghe có người thông thái, tài giỏi ở chùa Gò Đất nên đã thống nhất nhau đi kính thỉnh Ngài đến giúp tiếp độ chúng sinh.

Ngài nghĩ đắn đo một lúc rồi Ngài quyết định đi, chư tăng Phật tử vui mừng không thể lấy gì tả được. Từ đó cuộc đời hoằng dương chánh pháp của Ngài gắn bó với chùa Suvannaransi (Khlang Ông) cho tới tận cuối đời.

Tới năm 1919, Nhóm Wát, Achar, Ban quản trị và chư Phật tử đã nhất trí bầu Ngài làm trụ trì trông coi quản lý chùa và giảng giải kinh luật giáo pháp cho chư tăng.

Thời kỳ hành đạo

Tới năm 1928, Ngài được Ngài thống sãi ở Campuchia tên Tiếng Sắc phong lên chức phẩm Hòa thượng toàn tỉnh do Ngài là trưởng lão lâu năm và có kiến thức rất uyên bác về quản lý lẫn răn dạy các học trò.

Tới năm 1940, Ngài được thống sãi ở Phnom Pênh Campuchia sắc phong chức phẩm Mêkon toàn Kiên Giang để trông coi mọi thứ.

Đến năm Mùi Tây lịch 1940, vua Sihanurăca nước Campuchia đến thăm Việt Nam, Ngài đến chùa Khlang Ông và dâng tặng ngọn tay cái bằng vàng cho Hòa thượng vì Ngài có công lãnh đạo và quản lý chư tăng và Phật tử trong tỉnh rất giỏi.

Trong thời gian Ngài ở chùa Khlang Ông, từ khi làm trụ trì cho đến làm Mêkon, Ngài đã xây dựng rất nhiều Liêu, Sālā, Chánh Điện, Thuyền Tineang có khắc hoa văn mái thuyền. Ngài cũng giảng giải kinh luật, chú nghĩa, văn chương dân tộc và các kiến thức khác cho chư tăng và Phật tử. Ngoài ra, Ngài còn thành lập đội kịch múa nghệ thuật trong chùa. Bên cạnh đó, Ngài có đem theo một ma núi ở cùng là vua nga quý (tên A Krís) để giúp việc trông giữ chùa. Ngài có kiến thức đặc biệt cao thâm về kỹ thuật trong coi quản lý chùa, kiến thức y dược và chuẩn bệnh. Ngài thường cho thuốc người bệnh và thuốc rất hiệu nghiệm, thuốc của Ngài được coi như thần dược. Vì thế, có khi Ngài cũng đi coi bệnh cho những người có chức tước cao ở Rạch Giá, Sài Gòn.

Ngài không phân biệt đẳng cấp, Ngài tiếp độ bất kỳ ai dù là dân tộc Kinh hay Hoa đi nữa. Nếu đã đến rồi thì Ngài cho là có duyên và hết lòng cứu giúp, ai bệnh gặp Ngài chắc chắn sẽ khỏi hoàn toàn, ngoại trừ những người hết tuổi thọ, Ngài không thể cứu được.

Bên cạnh đó, Ngài đi đâu về đâu tay chân của Ngài đều rất nhanh nhẹn, có khi đi cùng nhau, người ta đi xe, còn Ngài thì đi bộ, đột nhiên khi người ta đi tới thì thấy Ngài đã đứng chờ sẵn từ lúc nào. Ngài có đang đi trong cơn mưa thì cũng không bị mưa ướt, khi nào Ngài muốn cho ướt mưa thì mới ướt được.

Có một hôm Ngài đi mua cồng chiêng nhạc ngũ âm ở Campuchia, khi Ngài trở về tới vùng Tà Lọt, Tri Tôn, đột nhiên hàng trăm tên cướp từ rừng ra đón đường đánh lấy cồng chiêng nhạc ngũ âm và tiền bạc, Ngài đã bảo vệ được đồ đạc và đánh bại bọn cướp chạy tán loạn vào rừng.

Lúc Ngài còn tọa ngụ, hằng năm chèo thuyền Tineang đi nhận phận nhiệm hành đạo từ Ngài vua sãi Tiếng ở Phnom Pênh đều được an toàn.

Một thời gian sau, Ngài họp Nhóm Wát, Achar và Chư Tăng trong chùa và tiên đoán rằng: “Chùa Suvannaransi (Khlang Ông) này khi nào có xáng đào tới phía Đông Bắc chùa, có chợ phía Nam, khi đó chư tăng và chùa cung với đất nước phồn vinh không gì cản được. Sau khi ta mẫn tho thì các con hãy đoàn kết, cùng nhau xây dựng chùa chiền, yêu thương nhau giống như lúc ta còn tại thế vậy, hãy cứu giúp nhau khi hoạn nạn, rồi cố gắng cho con cháu học hành cho được theo kịp thời đại tiến bộ ở sau này.”

Còn các học trò vừa vui vừa buồn mà được nghe lời Ngài dặn dò giáo huấn đó, người người ghi nhớ không bao giờ quên.

Thời kỳ viên tịch

Phật tử bị bất cứ bệnh gì Ngài tìm thuốc đắp hoặc uống cho lành tất cả.

Nhưng tới năm 1944, Ngài thọ bệnh ung thư, bệnh căn hành hạ ăn thủng cổ, Ngài tự biết mình rằng: “Tuổi thọ của Ta đã tới rồi, không có thầy nào có thể xem và kiếm thuốc men lại đắp cho lành được đâu! Vì chứng bệnh này là chứng bệnh mẫn thọ của ta, không thể trị cho lành được đâu.”

Tới tháng 8, Ngài biết rằng điềm chúa và ma binh đã đến bao phủ toàn thân thể, nghĩa là căn bệnh ung thư ngày càng lớn dần lên và có mùi bất thường. Ngài cho gọi tất cả các học trò ở khắp nơi và trụ trì các chùa hội tụ nhau tất cả, rồi Ngài di huấn. Ngài viên tịch năm 1944.

Nguồn: Thượng toạ Danh Lung, Đại đức Châu Hoài Thái (2014). Danh tăng Nam Tông Khmer. Nhà xuất bản Hồng Đức.

Chấm điểm
Chia sẻ
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng (4)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)