Hòa thượng Dhamma Thera Hữu Nhem (1930–10/7/1966)

Hòa thượng Dhamma Thera Hữu Nhem (1930–10/7/1966)

Thông tin cơ bản

  • Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
  • Ủy viên Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Thế giới.
  • Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Giải phóng Khu Tây Nam bộ.
  • Cố vấn Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước Khu Tây Nam bộ.
  • Trụ trì chùa Cao Dân, ấp 7, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Hòa thượng thế danh Hữu Nhem, pháp danh Dhamma Thera, sinh năm 1930 tại thôn Trầu Trắng, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Minh Hải (hiện nay là ấp 7, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau), trong một gia đình có truyền thống tu học thuộc Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ.

Thân phụ Ngài là ông Hữu Nghé, thân mẫu là bà Lâm Thị Sóc. Vì vậy, thuở thiếu thời, Ngài đã sớm quen với các tập tục lễ nghi và cách sống của nếp đạo, thường xuyên đến các chùa quanh vùng để lễ bái, đọc kinh và học tiếng Khmer với các vị sư tại những nơi đó.

Do gia đình thuộc thành phần nông dân tay lấm chân bùn, Ngài không tránh khỏi quãng thời gian nhọc nhằn, sớm khuya cùng cha mẹ quần quật với ruộng đồng, hết sức cơ cực. Nhưng nhờ thiện căn đã sẵn ươm mầm nơi đất đạo, nên Ngài nhanh chóng phát hiện ra chân lý và đối chiếu với thực tại cuộc sống Sinh – Già – Bệnh – Chết, nên ý chí tìm cầu giác ngộ giải thoát càng thêm được củng cố vững chắc.

Thuận duyên đến lúc tuổi thiếu niên đầy sinh lực, Ngài đã vượt qua được những cám dỗ đời thường mà rất ít người có được ở ngay giữa tuổi 13. Đó là vào ngày 13 tháng 4 năm Quý Mùi 1943 tại chùa Trầu Trắng quê nhà với Hòa thượng Vini Paññā Kim Cơ, Ngài đã thực thụ trở thành một người xuất gia. Một bước ngoặt mới đầy ý nghĩa trong cuộc đời Ngài. Ít lâu sau khi xuất gia, Ngài đã lãnh hội đầy đủ những kiến thức Phật học cơ bản cũng có một vị Sa môn.

Vì vậy năm 1951 sau khi thọ Cụ Túc giới tại chùa Khlang Mương, khu phố Minh Long, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang do Hòa thượng Tăng Nho làm Thầy tế độ. Ngài được Hòa thượng bổn sư ban pháp danh Dhamma Thera, Ngài nhận chức trụ trì chùa Trầu Trắng do Phật tử nơi này thiết tha thỉnh cầu.

Thời gian làm trụ trì chùa Cao Dân “Trầu Trắng”, Ngài đã hướng dẫn Phật tử người Việt gốc Khmer tu tập theo thời khóa nhất định. Ngài mở ngay tại chùa các lớp dạy chữ Quốc ngữ lẫn Khmer ngữ để thế hệ mai sau có cơ duyên tiếp cận và tham cứu các tạng kinh điển từ nhiều hướng. Riêng bản thân Ngài, ngoài việc tiếp tục trau dồi phẩm hạnh, bồi nạp năng lực phước duyên, Ngài bắt đầu làm quen với tạng kinh Pāli và tìm mời các vị thầy giỏi về tạng ngữ ấy về dạy.

Năm 1945, là thời điểm đất nước đang sôi sục đấu tranh chống thực dân xâm lược. Từ nơi mái chùa Cao Dân “Trầu Trắng”, Ngài bắt đầu tiếp xúc, làm quen với nhiều cán bộ trong Mặt Trận Việt Minh. Từ đó, Ngài tiếp tế, che giấu không ít cán bộ chiến sĩ vào địa bàn tỉnh Minh Hải hoạt động.

Năm 1947, Ngài được bầu làm Ủy viên Mặt trận tỉnh Rạch Giá, phụ trách Tăng sĩ Phật giáo Khmer, Theravāda Nam bộ. Từ đây, thời giờ của Ngài luôn dành cho Phật sự và hoạt động kháng chiến chống Pháp sao cho chu đáo cả đôi bên. Ngài dành ra nhiều thời gian để đi đến tận nơi có Tăng sĩ Khmer để vận động và khuyên nhủ sách tấn tu học. Đồng thời tranh thủ sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng người Việt gốc Khmer có tín ngưỡng Phật giáo thuần túy cho công cuộc kháng chiến chống xâm lược.

Năm 1953–1963, Đại đức cùng với Hòa thượng Kim Cơ tham gia công tác Bình vận tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau.

Năm 1963, Đại đức được thỉnh làm cố vấn Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước khu Tây Nam bộ.

Từ năm 1963–1966: Ngài là Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Khu Tây Nam bộ.

Ngày 20/02/1964, Ngài được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ủy viên Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Thế giới.

Thành viên Đoàn Đại biểu dự Hội nghị Đông Dương tại Campuchia.

Từ ngày 16/02 – 3/3/1962, trên cơ sở công việc chuẩn bị đã hoàn thành, Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức tại Lò Gò – Cà Tum (vùng giải phóng tỉnh Tây Ninh). Đại hội có đầy đủ đại biểu các giới các ngành, các tôn giáo, dân tộc, đảng phái, đầy đủ các thành viên Ủy ban Trung ương lâm thời Mặt trận Dân tộc Giải phóng và các địa phương miền Nam. Chủ trì Đại hội là Đoàn Chủ tịch do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch.

Đại hội đã khẳng định chương trình hành động 10 điểm nêu trong Hội nghị thành lập Mặt trận ngày 20/12/1960 là hoàn toàn đúng đắn. Đại hội nhấn mạnh việc thực hiện Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm với lời kêu gọi: “Tất cả hãy đứng lên, tất cả hãy đoàn kết lại! Hãy xiết chặt hàng ngũ để chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng, đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm”; thực hiện khẩu hiệu: “Phải hòa bình! Phải độc lập! Phải dân chủ! Phải cơm no, áo ấm! Phải hòa bình thống nhất tổ quốc”.

Đại hội cũng quyết định lấy lá cờ nửa đỏ (trên) nửa xanh (dưới) với ngôi sao vàng năm cánh ở giữa làm cờ và bài “Giải phóng miền Nam” của nhạc sĩ Huỳnh Minh Siêng (tức Lưu Hữu Phước) làm bài ca chính thức của Mặt trận.

Đại hội lần thứ nhất đã bầu chính thức Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ủy ban Trung ương gồm:

Đoàn Chủ tịch có:

  • 1 Chủ tịch: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.
  • 6 Phó Chủ tịch: KTS. Huỳnh Tấn Phát, Bác sĩ Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Ybih Aleo, Đại đức Hữu Nhem, Trung tướng Trần Nam Trung.
  • 8 Ủy viên: Phan Xuân Thái (Hội Liên hiệp Công đoàn Giải phóng), Nguyễn Hữu Thế (Hội Nông dân Giải phóng), Trần Bạch Đằng (Hội Liên hiệp Thanh niên Giải phóng), Nguyễn Thị Định (Hội Liên hiệp Sinh viên Giải phóng), Hòa thượng Thích Thiện Hào (Phật giáo), Ngọc đầu sư Nguyễn Văn Ngợi (Cao Đài), Đặng Trần Thi (Liên hiệp Công đoàn Giải phóng).

Ban Thư ký:

  • 1 Tổng Thư ký: Kiến Trúc sư Huỳnh Tấn Phát.
  • 2 Phó Tổng Thư ký: Giáo sư Lê Văn Huấn, Dược sĩ Hồ Thu.
  • 2 Ủy viên: Ung Ngọc Kỳ (Đảng Dân chủ), Hồ Xuân Sơn (Nhà báo).

Ủy viên Ủy ban Trung ương có 30 thành viên đại diện các ngành, các địa phương, các tôn giáo, dân tộc, vùng tự trị, các cơ quan ngoại giao trong và ngoài nước.

Như vậy, thành phần của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng thể hiện khối đoàn kết rộng rãi không phân biệt giai cấp, đảng phái, xu hướng chính trị, tất cả các giới, các dân tộc, các địa phương miền Nam Việt Nam. Dưới ngọn cờ đoàn kết dân tộc của Mặt trận, toàn thể nhân dân miền Nam thông qua các đại diện của mình trong cơ quan lãnh đạo cao nhất đã có chung tiếng nói và ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam.

Đại hội lần thứ nhất của Mặt trận Giải phóng còn quyết định nhiều chính sách lớn về đối nội và đối ngoại của nhân dân miền Nam Việt Nam, như vấn đề hòa bình, trung lập, dân tộc, ruộng đất, trí thức, tư sản, tôn giáo, ngoại kiều và chính sách đối với binh lính và nhân viên chính quyền miền Nam. Những quyết định quan trọng đó của đại hội nhằm tạo điều kiện đoàn kết rộng rãi nhất, sẵn sàng bắt tay với những ai dù chưa tán thành Cương lĩnh của Mặt trận nhưng vẫn tán thành chống Mỹ, cứu nước.

Do địa bàn thiên nhiên sông rạch chằng chịt, tràm đước dạn xen, nên mọi dấu chân hoạt động của Ngài cũng được khuất lấp. Mật thám Pháp lẫn Mỹ sau này không còn cách nào hơn là liên tục đội bom thẳng xuống mái chùa Trầu Trắng, nơi Ngài trú trì và tu học. Và lần đội bom cuối cùng chùa Trầu Trắng đã hoàn toàn tan hoang, kể cả nền đất cũng không còn. Ngài phải hoạt động và tu học từ chùa này đến chùa khác còn lại trong địa bàn. Đôi khi Ngài phải lánh mặt sang tận Campuchia. Có thể nói:

Ngài là một trong rất ít vị Hòa thượng gốc Khmer vừa hoạt động Cách Mạng nhiệt tình vừa dành trọn thời khóa để tu học một cách vẹn toàn.

Ngày 10 tháng 7 năm 1966 trên đường lưu trú, Ngài đã hy sinh khi ghé lại chùa Tam Hiệp, thuộc ấp Kinh Dừng, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau ngày nay. Máy bay Mỹ sau đợt càn quét chung quanh các cánh rừng tràm, đã không bỏ sót ngôi chùa này, đội bom nhiều đợt, thiêu hủy hoàn toàn chùa Nhà Máy. Không một người sống sót, trong đó có Hòa thượng Hữu Nhem.

Trước Ngài là Hòa thượng Tăng Nê (1965) cũng có cái chết tương tự đã ghi đậm trong lòng biết bao đồng bào Phật tử người Việt gốc Khmer nơi vùng Tây Nam bộ, niềm nuối tiếc, xót xa về một công dân sớm nhận lấy trách nhiệm cứu nước đồng thời là một tu sĩ thực hành hạnh nguyện giải thoát lợi tha.

Nguồn: Thượng toạ Danh Lung, Đại đức Châu Hoài Thái (2014). Danh tăng Nam Tông Khmer. Nhà xuất bản Hồng Đức.

Chấm điểm
Chia sẻ
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng (16)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)