Tiểu sử
Thiền sư vốn người họ Nguyễn, nguyên quán Phú Trạch, Phú Xuân Trung Duy Xuyên, Thăng Hoa, Quảng Nam. Ngài sinh năm Quý Mùi, Minh Mạng năm thứ 4 (1823); xuất gia lúc 14 tuổi tại chùa Long Quang, đến 19 tuổi Ngài được Thiền sư Nhất Định thế độ và cho Pháp danh Hải Toàn tự Linh Cơ, sau đó Ngài ở chùa Giác Hoàng, rồi thọ Cụ túc tại Đại giới đàn chùa Châu Long tỉnh Bình Định, và sau được giữ chức Giám viện chùa Giác Hoàng.
Năm Giáp Thìn (1844) ngày 13 tháng 10 Tổ Nhất Định đã phú pháp đại sư cho ngài với bài kệ
靈 機 這 箇 自 天 然
感 發 隨 他 覺 有 緣
九 品 蓮 花 生 一 朵
輝 煌 世 界 諒 無 邊
Phiên âm :
Linh Cơ giá cá tự thiên nhiên,
Cảm phát tuỳ tha giác hữu duyên;
Cửu phẩm liên hoa sinh nhất đoá,
Huy hoàng thế giới lượng vô biên.
Tạm dịch:
Căn cơ thông mẫn bởi thiên nhiên,
Phát hiện tuỳ duyên bởi mọi người;
Chín phẩm hoa sen sinh một đoá,
Sáng loà thế giới rộng vô biên.
Sau khi Thiền sư Nhất Định thị tịch, năm Tự Đức thứ 8 (1855) Ngài đã cầu Pháp với Thiền sư Huệ Cảnh (1798 – 1866) chùa Tường Vân và cũng được Thiền sư Huệ Cảnh trao Kệ phú Pháp ngày 15.4.Aát Mảo (Tự Đức 8 – 1855) với bài kệ:
靈 機 妙 覺 在 心 王
水 海 全 清 見 月 彰
一 切 眾 生 皆 佛 性
因 由 不 悟 落 邊 方
Phiên âm :
Linh Cơ diệu giác tại tâm vương,
Thủy hải toàn thanh kiến nguyệt chương.
Nhất thiết chúng sinh giai Phật tánh,?
Nhân do bất ngộ lạc biên phương
Nguyễn Lê Châu dịch:
Thiêng liêng then chốt tại vua tâm,
Biển lớn mà trong rõ nguyệt rằm.
Hết thảy chúng sinh đều Phật tánh,
Chỉ vì chẳng ngộ một bên lầm.
Năm Tự Đức 18 (1865) Ngài được cử chức Trú trì chùa Diệu Đế. Năm Tự Đức thứ 19 (1866), Thiền sư Huệ Cảnh thị tịch, Ngài được di chúc giữ chức am chủ chùa Tường Vân. Sau đó Thiền sư Nhất Chơn cũng thị tịch và di chúc cho môn đồ cúng chùa Từ Quang cho Ngài Linh Cơ, do đó Ngài đã hợp nhất hai chùa làm một và đến năm Tự Đức 34 (1881) chùa được chỉnh trang lợp ngói và được gọi là chùa Tường Vân.
Năm Kiến Phước nguyên niên (1883), Ngài được phong làm Tăng Cang chùa Giác Hoàng.
Năm Hàm Nghi nguyên niên (1885), Ngài được mông ân dưỡng già; đến năm Thành Thái thứ 3 (1891) chùa được trùng tu, Ngài đã cho xây thêm hậu điện.
Tháng tư năm Thành Thái thứ 6 (1894) chùa Báo Quốc mở Đại giới đàn, đã cung thỉnh Ngài làm Giáo thọ.
Ngày mồng một tháng tư năm Thành Thái thứ 8 (1896) Ngài bị bệnh, bèn ban các bài Kệ phú Pháp cho các đệ tử như Thanh Kim Quang Diễm, Thanh Tín Ứng Nghiệm… và di chúc chỉ định đệ tử lớn là Đại sư Phước Chỉ giữ chức trú trì chùa Tường Vân.
Ngài thị tịch vào giờ Thìn ngày 25 tháng 4 năm Thành Thái thứ 8 (1896). Đến ngày mùng ba tháng Bảy môn đồ và tứ chúng phụng kim quan nhập tháp ở phía bên hữu chùa Tường Vân.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.